Khoa
học và mê tín dị đoan
1. Lời nói đầu.
Người ta thường dùng danh từ "khoa
học" để mô tả những gì hay, những người thuộc giai cấp
thống trị, thành phần trí thức trong xã hội v.v… và dùng
danh từ "mê tín dị đoan" để mô tả những gì lạc hậu,
lỗi thời, những người thuộc giai cấp bần cùng, thành phần
mù chữ trong xã hội v.v…. Nhưng ít ai để ý đến sự mê
tín dị đoan của những người mang danh "nhà khoa học" cũng
như tính thực tế rất khoa học của những người mê tín
dị đoan; ít ai để ý đến sự ngu dốt của những người
say sưa trong việc bài trừ mê tín dị đoan, cũng như sự sáng
suốt của những kẻ bần cùng.
Muốn hiểu được "sự thật mất
lòng" này, chúng ta cần phân tích sâu hơn những nguyên nhân
tạo ra sự mê tín dị đoan, sự khác biệt của khoa học với
tính chất của những người mang danh là "nhà khoa học", sự
biến chất từ khoa học thành mê tín dị đoan của con người.
2. Những nguyên nhân thúc đẩy
con người trở thành mê tín dị đoan.
Ðể đối phó với mọi sự kiện
phức tạp trong đời sống hàng ngày, thường vượt khỏi
khả năng suy luận của mình, con người thường đơn giản
hóa mọi sự việc (quy nạp phóng đại), nghĩa là tạo ra những
quy luật riêng cho sự suy luận của bản thân mình, dựa trên
một số ít sự kiện mà bản thân đã trừng trải, chẳng
hạn như sau khi nhận xét :
Anh A là người rất đáng tín nhiệm
và anh A tin rằng "nhịn đói chữa được bá bệnh".
Anh B là người rất đáng tín nhiệm
và anh B tin rằng "nhịn đói chữa được bá bệnh".
Anh C là người rất đáng tín nhiệm
và anh C tin rằng "nhịn đói chữa được bá bệnh".
Thì đưa ra quy luật: "nhịn đói
chữa được bá bệnh".
Dùng những quy luật tương tự như
vậy để xét đoán mọi người thì thông thường cũng giúp
cho con người đối phó được với sự phức tạp của đời
sống, nhưng sẽ dẫn đến những sự suy xét lệch lạc, gọi
là sự lệch lạc do tri giác (cognitive biases).
Sự lệch lạc này không do tình
cảm hoặc cảm xúc hoặc thành kiến mà do quá trình nhận
thức trong phần vô thức. Chẳng hạn như:
Chúng ta thường có cảm giác rằng
vật nào ở gần thì rõ nét hơn. Thấy một vật không rõ
nét, chúng ta thường nghĩ rằng vật đó ở xa hơn khoảng
cách thật sự giữa ta và vật đó; ngược lại, thấy một
vật rõ nét thì chúng ta lại nghĩ rằng vật đó ở gần hơn
khoảng cách thực sự. Như vậy dựa trên "sự rõ nét" để
ước lượng "khoảng cách" đưa đến sự lệch lạc.
"Lệch lạc do tri giác" cũng tương
tự như ảo giác, dù có cảnh giác cũng vẫn bị lệch lạc.
Cảnh giác về sự lệch lạc không đem lại cho ta nhận thức
chính xác. Vì vậy "sự lệch lạc do tri giác" rất khó bị
loại bỏ.
Vì tính chất "ảo giác" nên những
sự "lệch lạc do tri giác" là nguyên nhân chính làm cho con
người có xu hướng mê tín dị đoan.
Nguyên nhân thứ hai có thể vì hoàn
cảnh sinh sống lệ thuộc quá nhiều vào sự may rủi, nên
con người tạo ra những quy luật quá giản lược để giải
thích sự may rủi của mình, chẳng hạn như tin rằng: việc
bán hàng cho người mở cửa hàng buổi sáng có ảnh hưởng
lớn cho sự buôn bán ngày hôm đó v.v…
Nguyên nhân thứ ba có thể là vì
thiếu tài năng mà lại có địa vị cao trong xã hội, nên
phải cầu xin một thế lực siêu hình giúp đỡ v.v…
Nguyên nhân thứ tư có thể là vì
thiếu học vấn, vì nghèo khổ không có phương tiện và thời
giờ để mở mang trí tuệ, vì ảnh hưởng của những người
chung quanh. Thông thường người ta cho đó là nguyên nhân tạo
ra "mê tín dị đoan", mà quên đi những nguyên nhân quan trọng
hơn đề cập ở trên.
Những nguyên nhân nói trên thúc
đẩy chúng ta về hướng "mê tín dị đoan", nhưng cuộc sống
thực tế hàng ngày lại thúc đẩy con người về hướng "khoa
học ".
3. Những nguyên nhân thúc đẩy
con người về hướng "khoa học ".
Những nhu cầu sinh lý, vật chất,
tâm lý luôn luôn thúc đẩy con người tiến lên để thỏa
mãn những nhu cầu càng ngày càng tăng đó. Những quy luật
quá giản lược của sự "mê tín dị đoan" thường đưa đến
sự thất bại trong sự đấu tranh giữa người với người.
Do đó, để tồn tại, để cải thiện đời sống vật chất,
để chiến thắng kẻ địch, con người không có con đường
nào khác ngoài con đường khoa học. Nhờ sự hiểu biết mang
tính khoa học mà hàng ngàn năm trước người ta đã có thể
đốt cháy tầu địch bằng cách dùng gương tập trung ánh
sáng mặt trời, người ta đã có thể dùng sự hiểu biết
về gió mùa để đánh hỏa công v.v…
Nhờ phát triển nông nghiệp một
cách khoa học, con người mới tạo ra được nền văn minh
thời trung cổ, tạo ra được những sản phẩm văn hóa và
nghệ thuật lâu đời.
Nhờ phát triển kỹ nghệ một cách
khoa học, con người mới tạo được nền văn minh cơ khí
trong mấy thế kỷ vừa qua.
Và ngày nay nhờ phát triển tin học
một cách khoa học, loài người đang sáng tạo ra một nền
văn minh mới, đang dần dần xóa bỏ một cách hòa bình được
những chính quyền độc tài thối nát, những tổ chức ăn
bám khổng lồ từ bao nhiêu thế kỷ trước.
Khoa học như vậy chính là con đường
tiến hóa của nhân loại. Nhờ khoa học con người dần dần
thoát khỏi sự lệ thuộc vào những nhu cầu sinh lý tối thiểu
chẳng hạn như cơm ăn áo mặc, chỗ ở để tiến tới ăn
ngon, mặc đẹp, nhà lầu, xe hơi và muôn vàn tiện nghi khác.
Nhưng cũng có những người bi quan
cho rằng khoa học đã mang lại nhiều thứ bệnh mới lạ cho
loài người, đã tạo ra sự diệt chủng của nhiều loại
sinh vật, đã hủy diệt môi trường sống, đã làm con người
mất hạnh phúc vì luôn luôn phải đấu tranh gay gắt hơn v.v…!
Thực ra những mặt tiêu cực đó
không phải là do tội lỗi của khoa học mà do những hành
động thiếu khoa học của con người. Và tệ hơn nữa là
những người đó lại tự vỗ ngực cho mình là "nhà khoa học".
4. Sự lạm dụng danh từ "khoa
học".
Vì khoa học đã tạo nên mọi nền
văn minh của loài người, nên để chứng tỏ rằng mình làm
đúng, nhiều người thường vỗ ngực cho rằng hành động
của mình là có tính cách khoa học! Muốn phân biệt rõ những
sự lạm dụng đó, chúng ta cần trở lại định nghĩa căn
bản của khoa học:
Khoa học là tập hợp những sự
hiểu biết về những vật thể, sự kiện hay hiện tượng
tuân theo quy luật và được kiểm chứng bằng thực nghiệm.
Như vậy bất cứ quy luật nào chưa
được kiểm chứng bằng thực nghiệm thì chưa thể có tính
khoa học được. Hơn nữa, trong những thực nghiệm luôn luôn
cần có những điều kiện tiên quyết (những giả thuyết,
hypothèses) nghĩa là quy luật chỉ đúng khi những điều kiện
đó được tôn trọng. Nhờ những sự chính xác đó nên khoa
học đã giúp loài người chế được phi thuyền đi nghiên
cứu hỏa tinh, đã can thiệp được vào quá trình sinh sản
của sinh vật để tạo ra cây cỏ mới, sinh vật nhân tạo
v.v….
Khoa học giúp cho con người càng
ngày càng hiểu thêm về những quy luật của thiên nhiên và
xã hội. Thiên nhiên và xã hội có tính vô tận nên khoa học
cũng có tính vô tận, nhưng kiến thức loài người thì hạn
chế theo từng thời đại.
Từ định nghĩa cơ bản của khoa
học, chúng ta có thể suy luận rằng: đa số "những người
huênh hoang rằng hành động của mình là có tính cách khoa
học" lại là những người hành động phản khoa học, vì
những gì mà họ nói chưa được kiểm chứng bằng thực nghiệm.
Những hành động của loài người
đã gây ra những hiện tượng tiêu cực, chẳng hạn như: sự
thay đổi sinh thái, sự diệt chủng của một số sinh vật,
sự thủng lớp ozone bao quanh trái đất v.v… Nhiều người
cho rằng đó là lỗi của khoa học. Nhưng thực ra đó là do
những hành động thiếu hiểu biết của con người về thiên
nhiên, nghĩa là những hành động thiếu khoa học.
Khoa học không bao giờ có lỗi,
chỉ có những hành động lạm dụng của con người trên những
thành quả của khoa học mới gây ra tội lỗi mà thôi. Chẳng
hạn như nhờ khoa học con người chế được súng ống đạn
dược để giết hại lẫn nhau, để bóc lột cướp bóc các
dân tộc khác. Dù không có khoa học thì vẫn đầy dẫy những
hành động cá lớn nuốt cá bé, nhưng với sức mạnh của
khoa học thì những hành động đó tàn khốc hơn, quỷ quyệt
hơn v.v…
Khoa học chính là sự tìm kiếm
các quy luật thiên nhiên và xã hội để cải thiện đời
sống con người. Nhưng các quy luật thường chỉ được kiểm
chứng bằng thực nghiệm với một số điều kiện tiên quyết.
Khi áp dụng những quy luật đó, mà không tôn trọng các điều
kiện cần thiết đó, là con người đã mất tính khoa học.
5. Sự biến chất của khoa học
thành mê tín dị đoan.
Trong lịch sử loài người, mỗi
tiến bộ là sự thay thế kiến thức cũ bằng kiến thức
mới, chẳng hạn như người ta cho rằng trái đất hình vuông
trước khi khám phá ra rằng trái đất hình cầu. Những người
đặt giả thuyết là "trái đất hình vuông" không có gì là
phản khoa học vì giả thuyết chưa phải là quy luật. Nhưng
những người có thái độ bảo thủ, có hành động ngăn cản
trào lưu tiến hóa khi có người khác nghĩ rằng trái đất
hình cầu, là những người bị biến chất từ khoa học thành
mê tín dị đoan.
Sau khi nghiên cứu lịch sử loài
người, Các Mác phân loại ra làm nhiều giai đoạn lịch sử
với các chế độ khác nhau: chế độ cộng sản nguyên thủy,
chế độ nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản.
Cách phân loại đó có tính cách khoa học. Sau khi nghiên cứu
sự hình thành của tư bản, Các Mác đặt giả thuyết cho
sự hủy diệt của tư bản vì theo như quy luật của thiên
nhiên có sinh thì có diệt. Sự đặt giả thuyết là một việc
làm khoa học, nhưng giả thuyết không phải là quy luật. Những
người đi theo chủ nghĩa Mác thường tự hào là đã vận
dụng được chủ nghĩa Mác để đánh đuổi ngoại xâm. Nhưng
lịch sử Việt Nam đã chứng minh tổ tiên chúng ta đã biết
bao lần đánh đuổi ngoại xâm hùng mạnh gấp mấy chục lần
mà có cần chủ nghĩa Mác đâu! Lịch sử chính là thực nghiệm.
Nói một cách khác, giả thuyết của Các Mác, dù đúng dù
sai, cũng mang tính khoa học vì chỉ là giả thuyết chưa được
kiểm chứng bằng thực nghiệm; ngược lại những người
cho rằng phải vận dụng chủ nghĩa Mác mới đánh đuổi được
ngoại xâm là hoàn toàn phản khoa học.
Các Mác chủ trương thay thế chế
độ tư bản bằng một chế độ khác để nâng cao năng suất
lao động, vì chỉ có sự gia tăng năng suất lao động mới
là chiều hướng phát triển của lịch sử. Như vậy chủ
trương của Các Mác mang tính cách khoa học. Những người
đi theo chủ nghĩa Mác lại phá hoại năng suất lao động bằng
cách ngăn sông cấm chợ, bằng sự tạo căm thù trong các tầng
lớp nhân dân, bằng sự tước đoạt những quyền tự do mà
người dân đã được hưởng từ thời phong kiến. Những
hành động đó không những không mang tính khoa học, không
những có tính cách mê tín dị đoan, mà còn đạt đến tình
trạng cuồng tín, sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng
của dân tộc để đổi lấy tiếng anh hùng rơm!
Các Mác chủ trương thay thế chế
độ tư bản tại các nước kỹ nghệ hóa cao. Giả thuyết
đó có tính khoa học. Hồi thế kỷ thứ 19 khi kỹ nghệ công
nghiệp còn chưa phát triển cao mà Các Mác đã tiên đoán là
tại châu Mỹ, chế độ tư bản có thể chuyển sang một chế
độ nhân bản một cách hòa bình. Tiên đoán đó mang tính
cách khoa học mà thực tế ngày nay là một sự kiểm chứng
rõ ràng nhất. Những người theo chủ nghĩa Mác lại tính chuyện
đưa những nước chưa phát triển công nghiệp sang một chế
độ nhân bản, hoàn toàn đi ngược lại dự đoán khoa học
của Các Mác, nên đã gây cảnh lầm than cho hàng trăm triệu
người, đã làm ba triệu người Việt chết oan vì những lý
thuyết viển vông, thiếu khoa học.
Về phương diện xã hội, chủ nghĩa
Mác xuất phát từ khoa học đã biến chất thành mê tín dị
đoan, rồi cuồng tín trong thực nghiệm.
Về phương diện cá nhân, một người
làm công tác khoa học cũng dễ dàng bị biến chất để trở
thành mê tín dị đoan vì sự lệch lạc do tri giác. Một nhà
khoa học sau hàng chục năm nghiên cứu có thể bị ám ảnh
bởi vấn đề chuyên môn để trở thành thiếu hiểu biết
đối với những người chung quanh, có thể biến chất từ
"khoa học" thành "phản khoa học", một hình thức mê tín dị
đoan. Cũng có người, có chút bằng cấp khoa học, nhưng bị
thoái hóa không thể hành nghề khoa học được, xoay ra nghề
mới: dùng cái nhãn hiệu khoa học để dán vào những chuyện
"mê tín dị đoan" để lừa gạt những ai nhẹ dạ cả tin.
6. Tính thực tế của những người
"mê tín dị đoan".
Trong đời sống hàng ngày, chúng
ta thấy rất nhiều người mê tín dị đoan nhưng lại thành
công hơn những người luôn luôn lấy khoa học soi đường
chỉ lối cho mọi hành động của mình. Nếu chỉ dựa trên
sự thành bại một cách đơn thuần để nhận định về khả
năng khoa học thì chúng ta dễ bị rơi vào vòng bế tắc.
Thực ra sự thành công thường cần
ba yếu tố: khả năng, thời cơ (may mắn) và hành động. Những
người mê tín dị đoan thì khả năng có thể bị hạn chế
vì phương pháp thiếu khoa học, nhưng nếu luôn luôn xông xáo
hành động thì khi gặp thời cơ dĩ nhiên có thể vượt xa
những người có khả năng cao hơn.
Những người mê tín dị đoan thường
không mấy tự tin về khả năng của mình nên tương đối
hay tìm tòi, học hỏi, bắt chước cái hay của người khác,
thường hành động dựa trên cái lợi vật chất, thường
biết sự hạn chế của khả năng bản thân nên thường dùng
sự cần cù chăm chỉ để bù đắp lại. Sự suy luận của
họ có thể mang tính chất "mê tín dị đoan", nhưng việc làm
của họ lại nhằm vào những lợi ích thực tế. Và khi thời
cơ đến thì họ có thể biến chất từ "mê tín dị đoan"
thành tính toán khoa học.
Ngày xưa, đa số nhân dân, ăn chưa
đủ no, mặc chưa đủ ấm, nên dễ bị mê tín dị đoan. Mặc
dầu vậy, các nhà lãnh đạo tài ba đều nhận định rằng:
"ý dân là ý trời", một bằng chứng thực nghiệm về tính
thực tế của những người mê tín dị đoan. Ngày nay ở các
nước tiến bộ, người dân làm chủ thực sự đất nước
của họ, vấn đề bầu cử tự do chính là sự thực hiện
"ý dân là ý trời". Người dân đen, dù mê tín dị đoan, vẫn
thường lấy lợi ích thực tế làm kim chỉ nam cho mọi hành
động. Vì vậy ý của nhân dân thường mang tính cách khoa
học. Ngược lại, những kẻ lãnh đạo ngông cuồng, tự vỗ
ngực là anh hùng, tự cho mình là đỉnh cao trí tuệ, lại
là những người thiếu khoa học nhất, chỉ biết dùng bạo
lực trấn áp nhân dân; mặc dầu có phương tiện trong tay,
nhưng lại trở thành những kẻ mê tín dị đoan rồi tiến
dần đến tình trạng cuồng tín.
7. Thay lời kết.
Thông thường người ta cho rằng
"khoa học" là tốt, "mê tín dị đoan" là chuyện lạc hậu
nên xóa bỏ, nhưng như đã trình bày ở trên, chúng ta thấy
những nguyên nhân đưa đẩy con người đến tình trạng "mê
tín dị đoan" là những nguyên nhân khách quan. Nói đến việc
bài trừ mê tín dị đoan mà không nắm vững những nguyên
nhân đó thì cũng giống như đem muối bỏ biển mà thôi. Hơn
nữa khi bị chê là mê tín dị đoan, con người thường có
những phản ứng ngược lại, đôi khi thù ghét kẻ đã dám
chê mình. Lý do cũng đơn giản: con người ta sống cho niềm
tin, vì niềm tin rất nhiều; ai động đến niềm tin của mình
cũng giống như tấn công vào tâm hồn mình vậy!
Khoa học không phải là những khuôn
vàng thước ngọc mà luôn luôn tiến hóa trong chiều hướng
tìm hiểu và phát hiện những quy luật thiên nhiên và xã hội
để ứng dụng vào cuộc sống thực tế của con người. Khoa
học không bao giờ có tội, chỉ những ai lạm dụng sức mạnh
của khoa học để gây tội ác mới là có tội.
Khoa học không bao giờ thoái hóa
nhưng nhà khoa học có thể biến chất thành mê tín dị đoan
và đôi khi thành cuồng tín nữa.
Những người mê tín dị đoan có
thể rất thực tế và có thể có những hành động rất khoa
học. Bài trừ mê tín dị đoan mà không nắm vững những nguyên
nhân gây ra sự mê tín dị đoan thì việc bài trừ không những
vô ích mà còn có hại nữa.
Phó Thường Dân
Tháng 7 năm 2002
|