Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone+Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Nguyễn Thanh Hoàng
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài  Mới  Nhất
CON VỊT



Tác giả Trần Gia Phụng.
In lần thứ 2 - 28CAN$/22US$


Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh - Tái bản lần 2.
35CAN$/25US$ *


Tác giả Bùi Ngọc Tấn.
25CAN$/20US$
(Ở Mỹ bán 35US$).

* Giá bán kể cả cước phí.
Liên lạc: NS Việt-Nam.




Các tập thơ chiến đấu của 
Lê Khắc Anh Hào 
(và Ý Yên, Trần Thúc Vũ).

Sáng Tác Của Phó Thường Dân

Khoa học và mê tín dị đoan


1. Lời nói đầu.

Người ta thường dùng danh từ "khoa học" để mô tả những gì hay, những người thuộc giai cấp thống trị, thành phần trí thức trong xã hội v.v… và dùng danh từ "mê tín dị đoan" để mô tả những gì lạc hậu, lỗi thời, những người thuộc giai cấp bần cùng, thành phần mù chữ trong xã hội v.v…. Nhưng ít ai để ý đến sự mê tín dị đoan của những người mang danh "nhà khoa học" cũng như tính thực tế rất khoa học của những người mê tín dị đoan; ít ai để ý đến sự ngu dốt của những người say sưa trong việc bài trừ mê tín dị đoan, cũng như sự sáng suốt của những kẻ bần cùng.

Muốn hiểu được "sự thật mất lòng" này, chúng ta cần phân tích sâu hơn những nguyên nhân tạo ra sự mê tín dị đoan, sự khác biệt của khoa học với tính chất của những người mang danh là "nhà khoa học", sự biến chất từ khoa học thành mê tín dị đoan của con người. 

2. Những nguyên nhân thúc đẩy con người trở thành mê tín dị đoan.

Ðể đối phó với mọi sự kiện phức tạp trong đời sống hàng ngày, thường vượt khỏi khả năng suy luận của mình, con người thường đơn giản hóa mọi sự việc (quy nạp phóng đại), nghĩa là tạo ra những quy luật riêng cho sự suy luận của bản thân mình, dựa trên một số ít sự kiện mà bản thân đã trừng trải, chẳng hạn như sau khi nhận xét :

Anh A là người rất đáng tín nhiệm và anh A tin rằng "nhịn đói chữa được bá bệnh".

Anh B là người rất đáng tín nhiệm và anh B tin rằng "nhịn đói chữa được bá bệnh".

Anh C là người rất đáng tín nhiệm và anh C tin rằng "nhịn đói chữa được bá bệnh".

Thì đưa ra quy luật: "nhịn đói chữa được bá bệnh".

Dùng những quy luật tương tự như vậy để xét đoán mọi người thì thông thường cũng giúp cho con người đối phó được với sự phức tạp của đời sống, nhưng sẽ dẫn đến những sự suy xét lệch lạc, gọi là sự lệch lạc do tri giác (cognitive biases).

Sự lệch lạc này không do tình cảm hoặc cảm xúc hoặc thành kiến mà do quá trình nhận thức trong phần vô thức. Chẳng hạn như:

Chúng ta thường có cảm giác rằng vật nào ở gần thì rõ nét hơn. Thấy một vật không rõ nét, chúng ta thường nghĩ rằng vật đó ở xa hơn khoảng cách thật sự giữa ta và vật đó; ngược lại, thấy một vật rõ nét thì chúng ta lại nghĩ rằng vật đó ở gần hơn khoảng cách thực sự. Như vậy dựa trên "sự rõ nét" để ước lượng "khoảng cách" đưa đến sự lệch lạc.

"Lệch lạc do tri giác" cũng tương tự như ảo giác, dù có cảnh giác cũng vẫn bị lệch lạc. Cảnh giác về sự lệch lạc không đem lại cho ta nhận thức chính xác. Vì vậy "sự lệch lạc do tri giác" rất khó bị loại bỏ.

Vì tính chất "ảo giác" nên những sự "lệch lạc do tri giác" là nguyên nhân chính làm cho con người có xu hướng mê tín dị đoan.

Nguyên nhân thứ hai có thể vì hoàn cảnh sinh sống lệ thuộc quá nhiều vào sự may rủi, nên con người tạo ra những quy luật quá giản lược để giải thích sự may rủi của mình, chẳng hạn như tin rằng: việc bán hàng cho người mở cửa hàng buổi sáng có ảnh hưởng lớn cho sự buôn bán ngày hôm đó v.v…

Nguyên nhân thứ ba có thể là vì thiếu tài năng mà lại có địa vị cao trong xã hội, nên phải cầu xin một thế lực siêu hình giúp đỡ v.v…

Nguyên nhân thứ tư có thể là vì thiếu học vấn, vì nghèo khổ không có phương tiện và thời giờ để mở mang trí tuệ, vì ảnh hưởng của những người chung quanh. Thông thường người ta cho đó là nguyên nhân tạo ra "mê tín dị đoan", mà quên đi những nguyên nhân quan trọng hơn đề cập ở trên.

Những nguyên nhân nói trên thúc đẩy chúng ta về hướng "mê tín dị đoan", nhưng cuộc sống thực tế hàng ngày lại thúc đẩy con người về hướng "khoa học ".

3. Những nguyên nhân thúc đẩy con người về hướng "khoa học ".

Những nhu cầu sinh lý, vật chất, tâm lý luôn luôn thúc đẩy con người tiến lên để thỏa mãn những nhu cầu càng ngày càng tăng đó. Những quy luật quá giản lược của sự "mê tín dị đoan" thường đưa đến sự thất bại trong sự đấu tranh giữa người với người. Do đó, để tồn tại, để cải thiện đời sống vật chất, để chiến thắng kẻ địch, con người không có con đường nào khác ngoài con đường khoa học. Nhờ sự hiểu biết mang tính khoa học mà hàng ngàn năm trước người ta đã có thể đốt cháy tầu địch bằng cách dùng gương tập trung ánh sáng mặt trời, người ta đã có thể dùng sự hiểu biết về gió mùa để đánh hỏa công v.v…

Nhờ phát triển nông nghiệp một cách khoa học, con người mới tạo ra được nền văn minh thời trung cổ, tạo ra được những sản phẩm văn hóa và nghệ thuật lâu đời.

Nhờ phát triển kỹ nghệ một cách khoa học, con người mới tạo được nền văn minh cơ khí trong mấy thế kỷ vừa qua.

Và ngày nay nhờ phát triển tin học một cách khoa học, loài người đang sáng tạo ra một nền văn minh mới, đang dần dần xóa bỏ một cách hòa bình được những chính quyền độc tài thối nát, những tổ chức ăn bám khổng lồ từ bao nhiêu thế kỷ trước.

Khoa học như vậy chính là con đường tiến hóa của nhân loại. Nhờ khoa học con người dần dần thoát khỏi sự lệ thuộc vào những nhu cầu sinh lý tối thiểu chẳng hạn như cơm ăn áo mặc, chỗ ở để tiến tới ăn ngon, mặc đẹp, nhà lầu, xe hơi và muôn vàn tiện nghi khác.

Nhưng cũng có những người bi quan cho rằng khoa học đã mang lại nhiều thứ bệnh mới lạ cho loài người, đã tạo ra sự diệt chủng của nhiều loại sinh vật, đã hủy diệt môi trường sống, đã làm con người mất hạnh phúc vì luôn luôn phải đấu tranh gay gắt hơn v.v…!

Thực ra những mặt tiêu cực đó không phải là do tội lỗi của khoa học mà do những hành động thiếu khoa học của con người. Và tệ hơn nữa là những người đó lại tự vỗ ngực cho mình là "nhà khoa học".

4. Sự lạm dụng danh từ "khoa học".

Vì khoa học đã tạo nên mọi nền văn minh của loài người, nên để chứng tỏ rằng mình làm đúng, nhiều người thường vỗ ngực cho rằng hành động của mình là có tính cách khoa học! Muốn phân biệt rõ những sự lạm dụng đó, chúng ta cần trở lại định nghĩa căn bản của khoa học:

Khoa học là tập hợp những sự hiểu biết về những vật thể, sự kiện hay hiện tượng tuân theo quy luật và được kiểm chứng bằng thực nghiệm.

Như vậy bất cứ quy luật nào chưa được kiểm chứng bằng thực nghiệm thì chưa thể có tính khoa học được. Hơn nữa, trong những thực nghiệm luôn luôn cần có những điều kiện tiên quyết (những giả thuyết, hypothèses) nghĩa là quy luật chỉ đúng khi những điều kiện đó được tôn trọng. Nhờ những sự chính xác đó nên khoa học đã giúp loài người chế được phi thuyền đi nghiên cứu hỏa tinh, đã can thiệp được vào quá trình sinh sản của sinh vật để tạo ra cây cỏ mới, sinh vật nhân tạo v.v….

Khoa học giúp cho con người càng ngày càng hiểu thêm về những quy luật của thiên nhiên và xã hội. Thiên nhiên và xã hội có tính vô tận nên khoa học cũng có tính vô tận, nhưng kiến thức loài người thì hạn chế theo từng thời đại.

Từ định nghĩa cơ bản của khoa học, chúng ta có thể suy luận rằng: đa số "những người huênh hoang rằng hành động của mình là có tính cách khoa học" lại là những người hành động phản khoa học, vì những gì mà họ nói chưa được kiểm chứng bằng thực nghiệm.

Những hành động của loài người đã gây ra những hiện tượng tiêu cực, chẳng hạn như: sự thay đổi sinh thái, sự diệt chủng của một số sinh vật, sự thủng lớp ozone bao quanh trái đất v.v… Nhiều người cho rằng đó là lỗi của khoa học. Nhưng thực ra đó là do những hành động thiếu hiểu biết của con người về thiên nhiên, nghĩa là những hành động thiếu khoa học.

Khoa học không bao giờ có lỗi, chỉ có những hành động lạm dụng của con người trên những thành quả của khoa học mới gây ra tội lỗi mà thôi. Chẳng hạn như nhờ khoa học con người chế được súng ống đạn dược để giết hại lẫn nhau, để bóc lột cướp bóc các dân tộc khác. Dù không có khoa học thì vẫn đầy dẫy những hành động cá lớn nuốt cá bé, nhưng với sức mạnh của khoa học thì những hành động đó tàn khốc hơn, quỷ quyệt hơn v.v…

Khoa học chính là sự tìm kiếm các quy luật thiên nhiên và xã hội để cải thiện đời sống con người. Nhưng các quy luật thường chỉ được kiểm chứng bằng thực nghiệm với một số điều kiện tiên quyết. Khi áp dụng những quy luật đó, mà không tôn trọng các điều kiện cần thiết đó, là con người đã mất tính khoa học.

5. Sự biến chất của khoa học thành mê tín dị đoan.

Trong lịch sử loài người, mỗi tiến bộ là sự thay thế kiến thức cũ bằng kiến thức mới, chẳng hạn như người ta cho rằng trái đất hình vuông trước khi khám phá ra rằng trái đất hình cầu. Những người đặt giả thuyết là "trái đất hình vuông" không có gì là phản khoa học vì giả thuyết chưa phải là quy luật. Nhưng những người có thái độ bảo thủ, có hành động ngăn cản trào lưu tiến hóa khi có người khác nghĩ rằng trái đất hình cầu, là những người bị biến chất từ khoa học thành mê tín dị đoan.

Sau khi nghiên cứu lịch sử loài người, Các Mác phân loại ra làm nhiều giai đoạn lịch sử với các chế độ khác nhau: chế độ cộng sản nguyên thủy, chế độ nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản. Cách phân loại đó có tính cách khoa học. Sau khi nghiên cứu sự hình thành của tư bản, Các Mác đặt giả thuyết cho sự hủy diệt của tư bản vì theo như quy luật của thiên nhiên có sinh thì có diệt. Sự đặt giả thuyết là một việc làm khoa học, nhưng giả thuyết không phải là quy luật. Những người đi theo chủ nghĩa Mác thường tự hào là đã vận dụng được chủ nghĩa Mác để đánh đuổi ngoại xâm. Nhưng lịch sử Việt Nam đã chứng minh tổ tiên chúng ta đã biết bao lần đánh đuổi ngoại xâm hùng mạnh gấp mấy chục lần mà có cần chủ nghĩa Mác đâu! Lịch sử chính là thực nghiệm. Nói một cách khác, giả thuyết của Các Mác, dù đúng dù sai, cũng mang tính khoa học vì chỉ là giả thuyết chưa được kiểm chứng bằng thực nghiệm; ngược lại những người cho rằng phải vận dụng chủ nghĩa Mác mới đánh đuổi được ngoại xâm là hoàn toàn phản khoa học.

Các Mác chủ trương thay thế chế độ tư bản bằng một chế độ khác để nâng cao năng suất lao động, vì chỉ có sự gia tăng năng suất lao động mới là chiều hướng phát triển của lịch sử. Như vậy chủ trương của Các Mác mang tính cách khoa học. Những người đi theo chủ nghĩa Mác lại phá hoại năng suất lao động bằng cách ngăn sông cấm chợ, bằng sự tạo căm thù trong các tầng lớp nhân dân, bằng sự tước đoạt những quyền tự do mà người dân đã được hưởng từ thời phong kiến. Những hành động đó không những không mang tính khoa học, không những có tính cách mê tín dị đoan, mà còn đạt đến tình trạng cuồng tín, sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng của dân tộc để đổi lấy tiếng anh hùng rơm!

Các Mác chủ trương thay thế chế độ tư bản tại các nước kỹ nghệ hóa cao. Giả thuyết đó có tính khoa học. Hồi thế kỷ thứ 19 khi kỹ nghệ công nghiệp còn chưa phát triển cao mà Các Mác đã tiên đoán là tại châu Mỹ, chế độ tư bản có thể chuyển sang một chế độ nhân bản một cách hòa bình. Tiên đoán đó mang tính cách khoa học mà thực tế ngày nay là một sự kiểm chứng rõ ràng nhất. Những người theo chủ nghĩa Mác lại tính chuyện đưa những nước chưa phát triển công nghiệp sang một chế độ nhân bản, hoàn toàn đi ngược lại dự đoán khoa học của Các Mác, nên đã gây cảnh lầm than cho hàng trăm triệu người, đã làm ba triệu người Việt chết oan vì những lý thuyết viển vông, thiếu khoa học.

Về phương diện xã hội, chủ nghĩa Mác xuất phát từ khoa học đã biến chất thành mê tín dị đoan, rồi cuồng tín trong thực nghiệm.

Về phương diện cá nhân, một người làm công tác khoa học cũng dễ dàng bị biến chất để trở thành mê tín dị đoan vì sự lệch lạc do tri giác. Một nhà khoa học sau hàng chục năm nghiên cứu có thể bị ám ảnh bởi vấn đề chuyên môn để trở thành thiếu hiểu biết đối với những người chung quanh, có thể biến chất từ "khoa học" thành "phản khoa học", một hình thức mê tín dị đoan. Cũng có người, có chút bằng cấp khoa học, nhưng bị thoái hóa không thể hành nghề khoa học được, xoay ra nghề mới: dùng cái nhãn hiệu khoa học để dán vào những chuyện "mê tín dị đoan" để lừa gạt những ai nhẹ dạ cả tin.

6. Tính thực tế của những người "mê tín dị đoan".

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thấy rất nhiều người mê tín dị đoan nhưng lại thành công hơn những người luôn luôn lấy khoa học soi đường chỉ lối cho mọi hành động của mình. Nếu chỉ dựa trên sự thành bại một cách đơn thuần để nhận định về khả năng khoa học thì chúng ta dễ bị rơi vào vòng bế tắc.

Thực ra sự thành công thường cần ba yếu tố: khả năng, thời cơ (may mắn) và hành động. Những người mê tín dị đoan thì khả năng có thể bị hạn chế vì phương pháp thiếu khoa học, nhưng nếu luôn luôn xông xáo hành động thì khi gặp thời cơ dĩ nhiên có thể vượt xa những người có khả năng cao hơn.

Những người mê tín dị đoan thường không mấy tự tin về khả năng của mình nên tương đối hay tìm tòi, học hỏi, bắt chước cái hay của người khác, thường hành động dựa trên cái lợi vật chất, thường biết sự hạn chế của khả năng bản thân nên thường dùng sự cần cù chăm chỉ để bù đắp lại. Sự suy luận của họ có thể mang tính chất "mê tín dị đoan", nhưng việc làm của họ lại nhằm vào những lợi ích thực tế. Và khi thời cơ đến thì họ có thể biến chất từ "mê tín dị đoan" thành tính toán khoa học.

Ngày xưa, đa số nhân dân, ăn chưa đủ no, mặc chưa đủ ấm, nên dễ bị mê tín dị đoan. Mặc dầu vậy, các nhà lãnh đạo tài ba đều nhận định rằng: "ý dân là ý trời", một bằng chứng thực nghiệm về tính thực tế của những người mê tín dị đoan. Ngày nay ở các nước tiến bộ, người dân làm chủ thực sự đất nước của họ, vấn đề bầu cử tự do chính là sự thực hiện "ý dân là ý trời". Người dân đen, dù mê tín dị đoan, vẫn thường lấy lợi ích thực tế làm kim chỉ nam cho mọi hành động. Vì vậy ý của nhân dân thường mang tính cách khoa học. Ngược lại, những kẻ lãnh đạo ngông cuồng, tự vỗ ngực là anh hùng, tự cho mình là đỉnh cao trí tuệ, lại là những người thiếu khoa học nhất, chỉ biết dùng bạo lực trấn áp nhân dân; mặc dầu có phương tiện trong tay, nhưng lại trở thành những kẻ mê tín dị đoan rồi tiến dần đến tình trạng cuồng tín.

7. Thay lời kết.

Thông thường người ta cho rằng "khoa học" là tốt, "mê tín dị đoan" là chuyện lạc hậu nên xóa bỏ, nhưng như đã trình bày ở trên, chúng ta thấy những nguyên nhân đưa đẩy con người đến tình trạng "mê tín dị đoan" là những nguyên nhân khách quan. Nói đến việc bài trừ mê tín dị đoan mà không nắm vững những nguyên nhân đó thì cũng giống như đem muối bỏ biển mà thôi. Hơn nữa khi bị chê là mê tín dị đoan, con người thường có những phản ứng ngược lại, đôi khi thù ghét kẻ đã dám chê mình. Lý do cũng đơn giản: con người ta sống cho niềm tin, vì niềm tin rất nhiều; ai động đến niềm tin của mình cũng giống như tấn công vào tâm hồn mình vậy!

Khoa học không phải là những khuôn vàng thước ngọc mà luôn luôn tiến hóa trong chiều hướng tìm hiểu và phát hiện những quy luật thiên nhiên và xã hội để ứng dụng vào cuộc sống thực tế của con người. Khoa học không bao giờ có tội, chỉ những ai lạm dụng sức mạnh của khoa học để gây tội ác mới là có tội.

Khoa học không bao giờ thoái hóa nhưng nhà khoa học có thể biến chất thành mê tín dị đoan và đôi khi thành cuồng tín nữa.

Những người mê tín dị đoan có thể rất thực tế và có thể có những hành động rất khoa học. Bài trừ mê tín dị đoan mà không nắm vững những nguyên nhân gây ra sự mê tín dị đoan thì việc bài trừ không những vô ích mà còn có hại nữa.

Phó Thường Dân
Tháng 7 năm 2002


Trang bìa 
Ðầu trang