Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone&Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM: (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ 
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Phan Nhật Nam
Phạm Văn Nhàn
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài Mới Nhất
CON VỊT


 

Sáng Tác Của
Phó Thường Dân

Ích quốc lợi dân, tội tử hình

Lời nói đầu : Bốn mươi năm sau khi chứng kiến một vụ đấu tố điạ chủ ở miền Bắc Việt Nam, ông Micae Nguyễn đình Ðại, chủ tịch xã Quỳnh Thanh, tỉnh Nghệ An, đã  kể  lại diễn biến vụ xử tử hình ông Trần thúy Doanh, vị đại ân nhân của xã Quỳnh Thanh, trong một tài liệu nói về xã Quỳnh Thanh. Vụ án được viết lại ở đây để tạo sự thuận lợi cho sự khảo cứu của các sử gia mai sau. Vì có tính cách lịch sử nên những phần trong ngoặc kép là nguyên văn của tài liệu do nhân chứng Nguyễn đình Ðại viết.

Xã Quỳnh Thanh là một xã có dân số đông nhất tỉnh Nghệ An , xã ở cách quốc lộ 1 khoảng một cây số.

Trước năm 1925, Quỳnh Thanh là một phần của Trại Dã, ông Ðại viết :«chưa có đê ngăn nước mặn nên ruộng vườn thường xuyên bị nước mặn tràn vào, chỉ có một ít nơi cao không bị ngập».

Vào khoảng năm 1923, ông Trần thúy Doanh cùng với thân sinh là cụ Trần hiến Bạch, quê ở miền bắc đã vào Nghệ An để biến vùng đất hoang vu thành ruộng đất phì nhiêu trù phú, đem lại cơm ăn áo mặc cho nhân dân. Ông Ðại viết :

«Trước khi nói về thời kỳ đắp đê ngăn nước mặn, chúng tôi muốn nói đến con người tài ba đã làm công việc ích quốc lợi dân đó. Ông Trần thúy Doanh cùng cụ thân sinh là ông Trần thái Bạch quê ở miền bắc đã vào khai khẩn vùng đất hoang vu vắng vẻ này».

Theo sự tìm hiểu của chúng tôi, tên cuả cụ thân sinh của ông Trần thúy Doanh là Trần hiến Bạch chứ không phải là Trần thái Bạch, có lẽ có sự lầm lẫn khi đánh máy.

Về con đê ích quốc lợi dân ông Ðại viết :

«Vào tháng 10.1923 đến tháng 2.1925, ông (Trần thúy Doanh) triển khai đắp một con đê dài 10,7 km thuộc các điạ phận lúc bấy giờ là Quỳnh Xuân, Quỳnh Bảng, Quỳnh Yên, Quỳnh Ðôi, con đê này thuộc phía tây sông Mơ».

Công trình đắp đê của ông Trần thúy Doanh đã đem lại rất nhiều lợi ích cho tỉnh Nghệ An. Ông Ðại viết :

«Vào mùa thu 1928, toàn tuyến đê được hoàn chỉnh, các cống đê ổn định, nước mặn không tràn vào được như lúc trước. Khi đã làm chủ được nước thủy triều thì nhân dân ta khai khẩn thêm đất đai để làm lúa. Nhờ điều kiện thay chua rửa mặn, có nước ở sông Ðô Lương chảy về làm cho việc thâm canh thêm dễ dàng. Nhờ đó dân ta đã phát triển lên trong nhiều mặt, cuộc sống ngày được nâng cao.»

Về cá nhân ông Trần thúy Doanh, ông Ðại viết :

«Về nhân cách, ông là một con người đôn hậu, đơn sơ. Ông có phong cách tốt, cư xử với mọi người giầu nghèo đều theo lương tâm và công bằng. Dáng mạo khôi ngô hiền hoà, đời sống đạo đức. Tầm vóc khoảng 1,70 m, thể hình cân đối.»

Nhưng cũng chính vì hành động  ích quốc lợi dân đó, ông Doanh trở thành địa chủ, trở thành một trong những đối tượng của cuộc đấu tố đẫm máu. Ông Ðại viết :

«Vụ án ông Trần thúy Doanh, vị đại ân nhân của Quỳnh Thanh.Vào khoảng tháng hai âm lịch năm 1955, các địa chủ đã bị bắt giữ. Sau khi phân loại và bắt giữ thì tổ chức đấu tố, những người khổ cực muốn đấu tố để được phân chia tài sản ruộng đất. Ông Trần thúy Doanh bị xếp loại vào thành phần điạ chủ, chính quyền đưa ông ra trước phiên toà tại sân bóng phía đông nhà ông Trần Ðích. Ông Doanh bị đem ra đấu hai đêm liền.»

Qua phần trình bày của ông Ðại, chúng ta có thể hiểu được phần nào chủ trương của chính quyền thời đó : sau khi giáo dục căm thù, sau khi sách động quần chúng, chính quyền đã hứa hẹn chia tài sản, cái bánh vẽ vô cùng hấp dẫn cho những người nghèo khổ. Ban tổ chức đấu tố đã tìm mọi cách để biến vị đại ân nhân của nhân dân thành kẻ tử thù !

Ông Ðại đã viết về diễn tiến cuộc tử hình như sau :

«Các lần đấu tố được tổ chức tại Quỳnh Thanh, sau khi ông Doanh bị kết án tử hình, người ta đưa ông lên rừng thông thuộc điạ phận Quỳnh Xuân để xử bắn. Vào hồi 17 giờ ngày 19 tháng tư âm lịch năm 1955, ông bị trói vào một gốc cây thông, người ta bịt mắt ông lại và nhét vải vào miệng. Khi được lệnh, có ba người cầm ba khẩu súng AK tiến ra, trong ba người này có một người con nuôi và một người làm thuê cho ông Trần thúy Doanh ngày trước. Thời điểm thi hành án tử đã tới, ba người cầm súng tiến ra lên đạn, bóp cò nhưng cả ba cây súng đều không nổ. Khi ấy đám đông xôn xao ra về, chỉ còn những người có phận sự ở lại pháp trường.»

Một cây súng hư đã là chuyện ngẫu nhiên khó có thể xẩy ra, ba cây súng hư cùng một lúc thì chắc chắn phải có bàn tay đóng góp của con người. Khi bị sách động, khi bị giáo dục căm thù, tất cả những tính xấu của con người (chẳng hạn như tham sân si, ghen tỵ với người giầu có hơn mình) đều phát triển tột độ làm cho mất cả lý trí. Các cán bộ tổ chức đã tin tưởng ở sự mất lý trí đó nên đã phân công người con nuôi và người làm thuê của ông Doanh để xử bắn. Nhưng ảnh hưởng của bốn ngàn năm văn hiến, ảnh hưởng của nền đạo đức lâu đời của dân tộc Việt đã làm cho cả ba tay súng phải tự phá hoại để cho súng của mình không nổ.Nếu chưa mất bản chất con người, không ai có thể đang tâm bắn chết ân nhân của mình, ân nhân của làng xóm mình.

Người ta thắc mắc không biết có phải việc phân công những người đã chịu ân của ông Doanh xử bắn ân nhân cuả mình là việc làm cố ý cuả ban tổ chức, để xoá bỏ tận gốc những tình nghĩa muôn đời cuả dân Việt, để có thể biến những người đó trở thành những con chiên ngoan đạo của đệ tam quốc tế, của ý thức hệ cộng sản. Nhưng dù vô tình (vì ban tổ chức chỉ biết tuân theo chỉ thị của trung ương) hay cố ý thì việc làm đó đã hoàn toàn thất bại vì ý thức hệ chỉ có giá trị ngắn hạn trong khi dân tộc Việt Nam thì vĩnh cửu.

Bị thất bại cay chua trước lương tâm của loài người, ban tổ chức đấu tố phải tăng cường lực lượng, xây dựng pháp trường, tuyển chọn những tay súng trung kiên chí cốt. Về pháp trường, ông Ðại viết :

«Tổ chức tại pháp trường : Nơi pháp trường, người ta dựng một sân khấu cao 3 mét, rộng 20 mét vuông. Ánh sáng lúc đó dùng bằng đèn khí đá để thắp sáng, có một vành móng ngựa, người ta chôn một cái thang mượn của gia đình ông Ðích và cột vào đó hai cây chuối để khi bắn đạn không đi lạc ra ngoài.»

Từ việc trói vào cây thông để xử bắn đến việc xây dựng pháp trường, chứng tỏ sự quyết tâm của ban tổ chức lần này. Sự thất bại trong việc xử tử hình lần trước khiến cho việc chọn tay súng lần này trở thành vấn đề quan trọng nhất của ban tổ chức.

Ngày 22 tháng tư âm lịch năm 1955, ông Trần thúy Doanh, vị đại ân nhân của xã Quỳnh Thanh, bị dẫn giải ra pháp trường. Ông Ðại viết :

«Ðến 22 giờ, ông Trần thúy Doanh bị dẫn ra pháp trường và đứng trước vành móng ngựa, khi đã ổn định thì viên chánh án đọc bản án, sau đó đội thi hành án đưa ông đến nơi đã định và trói ông lại, bịt miệng cùng nhét vải vào miệng. Lần này cũng như lần trước, có ba người cầm súng từ xa tiến lại và bóp cò...

Tiếng súng chát chuá nổ vang, đạn bay ngay vào trán nạn nhân. Lúc đó sân khấu bỗng sập đổ, đèn thắp cũng nổ tung. Sân khấu sập làm cho bà Phạm thị Hợp con nuôi ông Mong và O Xất con nuôi ông Thích bị thương.»

Ðối với người dân hiền hoà xã Quỳnh Thanh, phép lạ đã xảy ra hai lần ; Trời cao đã phải nổi giận trước hành động tàn bạo của con người !!! Hàng ngàn người bị sách động đến tham dự án tử hình của vị đại ân nhân của xã Quỳnh Thanh đã hoảng sợ, bỏ chạy tán loạn !!! 

Ðể mô tả tầm mức văn hoá và lương tâm của ban tổ chức án tử hình, ông Ðại viết:

«Lúc bắn xong người ta hạ xác xuống vùi đất ngay, vì phiá sau có sẵn một vũng trâu đẫm khoảng 4 tấc. Khi lấp xác thì trời đã tối, nơi chôn lại cạn nên còn lòi hai đầu gối».

Hành động đó chứng tỏ ảnh hưởng của bốn ngàn năm văn hiến, ảnh hưởng của nền đạo đức lâu đời của dân tộc Việt đã bị hoàn toàn xoá bỏ trong tâm hồn những người trong ban tổ chức án tử hình. Những người này có thể thoát khỏi sự trừng phạt của xã hội thời đó, nhưng không bao giờ thoát khỏi sự trừng phạt của toà án lương tâm mà thiên nhiên đã tạo sẵn trong tâm hồn họ. Những ăn năn hối hận trong những đêm dài không ngủ được, những hoang mang sợ hãi ngày đền tội không còn xa, những day dứt mà không thổ lộ với ai được.

Về tình trạng tâm lý của nhân dân, ông Ðại viết :

«Sáng hôm sau không ai dám đến đó để xem xét vì sợ liên lụy đến chính trị.»

Những người chưa có kinh nghiệm sống trong một xã hội bị thống trị bởi một ý thức hệ cực đoan khó có thể hiểu được tại sao mà nhân dân lại sợ cả việc đến xem xét một xác chết ! Thực ra, đứng về khoa học tâm lý, một người cực đoan về ý thức hệ mà người ta thường gọi là cuồng tín có thể làm mọi hành động bất chấp cả những đạo đức căn bản của nhân loại ; vì vậy sự sợ hãi của nhân dân chỉ là vấn đề tất yếu do nhu cầu tự vệ.

Nhưng ông Nguyễn đình Bưởi đã không sợ những kẻ cuồng tín, đã ra đắp mộ ông Doanh lại và tu sửa mộ hàng năm. Hành động của ông Bưởi là một hành động can đảm, sẵn sàng chấp nhận những thiệt thòi về quyền lợi vật chất, quyền lợi chính trị, để làm những việc phù hợp với lương tâm của con người, phù hợp với truyền thống bất khuất, phù hợp với nền văn hoá bốn ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt Nam.

Ðứng trước bạo lực, nhân dân của xã Quỳnh Thanh chỉ còn biết cầu nguyện, và họ tin rằng sự cầu nguyện của họ đã thấu tới Trời cao :

- lần xử tử đầu tiên, cả ba chiếc súng đều không nổ ;
- lần thứ hai, sau tiếng đạn nổ thì sân khấu sập đổ, đèn thắp cũng nổ tung, nhiều người bị thương, ai chứng kiến cũng đều kinh sợ ! 
và đối với kẻ cầm súng bắn ông Trần thúy Doanh, ông Ðại viết :

«Trong những người cầm súng bắn ông Doanh có một người xã Quỳnh Văn, anh ta đem cả vợ đi tham dự, mặc dầu vợ đang có thai, khi ra về đi đò của ông Phú, lúc qua sông không may đò bị lật, anh ta thoát được còn vợ chết đuối, sáng hôm sau mới tìm được xác và chôn tại Cồn Lức.»

Nhân dân của xã Quỳnh Thanh có thể hiểu được sự tàn bạo của lính viễn chinh Pháp khi xâm chiếm nước ta, của những kẻ khác máu tanh lòng ; nhưng không thể nào hiểu được sự tàn bạo của người Việt đối với người Việt, nhất là đối với những người làm việc ích quốc lợi dân như vị đại ân nhân của họ : ông Trần thúy Doanh. Nhân dân xã Quỳnh Thanh có thể hiểu được sự tàn bạo của bọn thổ phỉ cướp của giết người, nhưng nhân dân xã Quỳnh Thanh không thể nào hiểu nổi sự tàn bạo của những người nhân danh chính quyền của nhân dân để cướp của giết người. Nhân dân xã Quỳnh Thanh có thể hiểu được những gì phù hợp với văn hoá bốn ngàn năm văn hiến cuả dân tộc Việt Nam, nhưng không thể hiểu nổi những lý thuyết viển vông về đấu tranh giai cấp, về giáo dục căm thù vì trên thực tế chỉ thấy lý thuyết đó dẫn tới hận thù, dẫn tới chiến tranh, dẫn tới những cuộc tàn sát diệt chủng như ở Kămpuchia, dẫn tới sự tàn sát hàng chục triệu người ở Trung Quốc thời kỳ cách mạng văn hoá v.v..

Ðến năm 1992 thì con cháu của ông Trần thúy Doanh vào xã Quỳnh Thanh để dời mộ về miền Bắc. Theo sự tìm hiểu của chúng tôi, những người trước kia bị sách động để tố khổ ông Trần thuý Doanh, sau mấy chục năm bị dằn vặt, dầy vò bởi toà án của chính lương tâm mình, đã tình nguyện giúp đỡ con cháu ông Doanh để dời mộ, để tìm kiếm chút ít an lạc cho tâm hồn. Ông Ðại viết :

«Người Quỳnh Thanh vẫn muốn giữ lại thi hài ông Doanh, vị đại ân nhân, trên mảnh đất thân yêu của mình vì có nhiều ý nghĩa và sử tích.» 

Bốn mươi năm sau vụ án  ích quốc lợi dân, tội tử hình  của ông Trần thuý Doanh, ông Nguyễn đình Ðại, một nhân chứng của vụ án, sau khi đã trở thành Chủ Tịch xã Quỳnh Thanh đã viết lại được những điều mắt thấy tai nghe, đã nói lên được những điều suy nghĩ của nhân dân xã, vẫn giữ được truyền thống đầy tình nghĩa chẳng hạn như  ăn quả nhớ kẻ trồng cây  của dân tộc.

Theo sự tìm hiểu của chúng tôi, tổ tiên của ông Trần thuý Doanh là người gốc Nghệ An, ra miền Bắc lập nghiệp ở tỉnh Thái Bình, đến cụ Trần hiến Bạch, thân sinh của ông Doanh, là đời thứ mười.

Cụ Trần hiến Bạch là một nhà kinh doanh tài ba và yêu nước. Năm hai mươi tuổi, cụ được người Pháp mời ra làm quan, nhưng cụ từ chối vì không muốn hợp tác với những kẻ xâm chiếm nước Việt Nam.

Ông Trần thuý Doanh là trưởng nam của cụ Bạch, thừa kế được sự tài ba và lòng yêu nước của cha, nên đã trở thành đại ân nhân của xã Quỳnh Thanh. Ông Doanh đã đóng góp rất nhiều công và của cho cuộc kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp. Không những đóng góp công và của, ông Doanh còn đóng góp cả xương máu cho cuộc kháng chiến chống thực dân. Người con trai trưởng của ông Doanh, người cháu đích tôn của cụ Bạch, đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Kháng chiến thành công, người đã đóng góp rất nhiều công, của và cả xương máu đã bị xử tử hình vì những việc làm ích quốc lợi dân !

Cụ Trần hiến Bạch sau khi kinh doanh thành công ở miền Bắc, nhớ lại Nghệ An là quê hương từ mười đời trước nên đã dẫn người con trai trưởng là ông Trần thuý Doanh trở lại Nghệ An. Sau khi biến vùng đất hoang vu thành ruộng vườn trù phú, đem lại đời sống tươi vui thịnh vượng cho hàng ngàn gia đình, cụ Bạch trở về sống ở miền Bắc, để lại gia đình người con trưởng phục vụ cho quê hương của tổ tiên mười đời về trước.

Con cháu của cụ Trần hiến Bạch hiện ở rải rắc khắp bốn châu : châu Mỹ, châu Âu, châu Úc và châu Á. Mặc dầu bị vùi dập vì chiến tranh ý thức hệ, con cháu cụ luôn luôn noi theo gương sáng của người, quyết tâm làm những việc ích quốc lợi dân. Dĩ nhiên chữ  quốc  bây giờ bao gồm nhiều quốc gia, khắp bốn châu.

Nhân dân xã Quỳnh Thanh nói riêng cũng như nhân dân Việt Nam nói chung rất cần những người ích quốc lợi dân như ông Trần thuý Doanh. Không biết bao giờ đất nước Việt Nam mới phục hồi được danh dự của tất cả những người ích quốc lợi dân để có thể lôi cuốn những nhân tài của dân tộc, hiện đang xây dựng các quốc gia khác, trở về xây dựng lại quê hương.
 
Tháng 5, năm 2001
Phó Thường Dân
 

Trang bìa
Ðầu trang