Ích
quốc lợi dân, tội tử hình
Lời nói đầu : Bốn
mươi năm sau khi chứng kiến một vụ đấu tố điạ chủ
ở miền Bắc Việt Nam, ông Micae Nguyễn đình Ðại, chủ tịch
xã Quỳnh Thanh, tỉnh Nghệ An, đã kể lại diễn
biến vụ xử tử hình ông Trần thúy Doanh, vị đại ân nhân
của xã Quỳnh Thanh, trong một tài liệu nói về xã Quỳnh
Thanh. Vụ án được viết lại ở đây để tạo sự thuận
lợi cho sự khảo cứu của các sử gia mai sau. Vì có tính
cách lịch sử nên những phần trong ngoặc kép là nguyên văn
của tài liệu do nhân chứng Nguyễn đình Ðại viết.
Xã Quỳnh Thanh là một xã có dân
số đông nhất tỉnh Nghệ An , xã ở cách quốc lộ 1 khoảng
một cây số.
Trước năm 1925, Quỳnh Thanh là một
phần của Trại Dã, ông Ðại viết :«chưa có đê ngăn nước
mặn nên ruộng vườn thường xuyên bị nước mặn tràn vào,
chỉ có một ít nơi cao không bị ngập».
Vào khoảng năm 1923, ông Trần thúy
Doanh cùng với thân sinh là cụ Trần hiến Bạch, quê ở miền
bắc đã vào Nghệ An để biến vùng đất hoang vu thành ruộng
đất phì nhiêu trù phú, đem lại cơm ăn áo mặc cho nhân dân.
Ông Ðại viết :
«Trước khi nói về thời kỳ đắp
đê ngăn nước mặn, chúng tôi muốn nói đến con người tài
ba đã làm công việc ích quốc lợi dân đó. Ông Trần thúy
Doanh cùng cụ thân sinh là ông Trần thái Bạch quê ở miền
bắc đã vào khai khẩn vùng đất hoang vu vắng vẻ này».
Theo sự tìm hiểu của chúng tôi,
tên cuả cụ thân sinh của ông Trần thúy Doanh là Trần hiến
Bạch chứ không phải là Trần thái Bạch, có lẽ có sự lầm
lẫn khi đánh máy.
Về con đê ích quốc lợi dân ông
Ðại viết :
«Vào tháng 10.1923 đến tháng 2.1925,
ông (Trần thúy Doanh) triển khai đắp một con đê dài 10,7
km thuộc các điạ phận lúc bấy giờ là Quỳnh Xuân, Quỳnh
Bảng, Quỳnh Yên, Quỳnh Ðôi, con đê này thuộc phía tây sông
Mơ».
Công trình đắp đê của ông Trần
thúy Doanh đã đem lại rất nhiều lợi ích cho tỉnh Nghệ
An. Ông Ðại viết :
«Vào mùa thu 1928, toàn tuyến đê
được hoàn chỉnh, các cống đê ổn định, nước mặn không
tràn vào được như lúc trước. Khi đã làm chủ được nước
thủy triều thì nhân dân ta khai khẩn thêm đất đai để làm
lúa. Nhờ điều kiện thay chua rửa mặn, có nước ở sông
Ðô Lương chảy về làm cho việc thâm canh thêm dễ dàng. Nhờ
đó dân ta đã phát triển lên trong nhiều mặt, cuộc sống
ngày được nâng cao.»
Về cá nhân ông Trần thúy Doanh,
ông Ðại viết :
«Về nhân cách, ông là một con
người đôn hậu, đơn sơ. Ông có phong cách tốt, cư xử với
mọi người giầu nghèo đều theo lương tâm và công bằng.
Dáng mạo khôi ngô hiền hoà, đời sống đạo đức. Tầm
vóc khoảng 1,70 m, thể hình cân đối.»
Nhưng cũng chính vì hành động
ích quốc lợi dân đó, ông Doanh trở thành địa chủ, trở
thành một trong những đối tượng của cuộc đấu tố đẫm
máu. Ông Ðại viết :
«Vụ án ông Trần thúy Doanh, vị
đại ân nhân của Quỳnh Thanh.Vào khoảng tháng hai âm lịch
năm 1955, các địa chủ đã bị bắt giữ. Sau khi phân loại
và bắt giữ thì tổ chức đấu tố, những người khổ cực
muốn đấu tố để được phân chia tài sản ruộng đất.
Ông Trần thúy Doanh bị xếp loại vào thành phần điạ chủ,
chính quyền đưa ông ra trước phiên toà tại sân bóng phía
đông nhà ông Trần Ðích. Ông Doanh bị đem ra đấu hai đêm
liền.»
Qua phần trình bày của ông Ðại,
chúng ta có thể hiểu được phần nào chủ trương của chính
quyền thời đó : sau khi giáo dục căm thù, sau khi sách động
quần chúng, chính quyền đã hứa hẹn chia tài sản, cái bánh
vẽ vô cùng hấp dẫn cho những người nghèo khổ. Ban tổ
chức đấu tố đã tìm mọi cách để biến vị đại ân nhân
của nhân dân thành kẻ tử thù !
Ông Ðại đã viết về diễn tiến
cuộc tử hình như sau :
«Các lần đấu tố được tổ
chức tại Quỳnh Thanh, sau khi ông Doanh bị kết án tử hình,
người ta đưa ông lên rừng thông thuộc điạ phận Quỳnh
Xuân để xử bắn. Vào hồi 17 giờ ngày 19 tháng tư âm lịch
năm 1955, ông bị trói vào một gốc cây thông, người ta bịt
mắt ông lại và nhét vải vào miệng. Khi được lệnh, có
ba người cầm ba khẩu súng AK tiến ra, trong ba người này
có một người con nuôi và một người làm thuê cho ông Trần
thúy Doanh ngày trước. Thời điểm thi hành án tử đã tới,
ba người cầm súng tiến ra lên đạn, bóp cò nhưng cả ba
cây súng đều không nổ. Khi ấy đám đông xôn xao ra về,
chỉ còn những người có phận sự ở lại pháp trường.»
Một cây súng hư đã là chuyện
ngẫu nhiên khó có thể xẩy ra, ba cây súng hư cùng một lúc
thì chắc chắn phải có bàn tay đóng góp của con người.
Khi bị sách động, khi bị giáo dục căm thù, tất cả những
tính xấu của con người (chẳng hạn như tham sân si, ghen tỵ
với người giầu có hơn mình) đều phát triển tột độ
làm cho mất cả lý trí. Các cán bộ tổ chức đã tin tưởng
ở sự mất lý trí đó nên đã phân công người con nuôi và
người làm thuê của ông Doanh để xử bắn. Nhưng ảnh hưởng
của bốn ngàn năm văn hiến, ảnh hưởng của nền đạo đức
lâu đời của dân tộc Việt đã làm cho cả ba tay súng phải
tự phá hoại để cho súng của mình không nổ.Nếu chưa mất
bản chất con người, không ai có thể đang tâm bắn chết
ân nhân của mình, ân nhân của làng xóm mình.
Người ta thắc mắc không biết
có phải việc phân công những người đã chịu ân của ông
Doanh xử bắn ân nhân cuả mình là việc làm cố ý cuả ban
tổ chức, để xoá bỏ tận gốc những tình nghĩa muôn đời
cuả dân Việt, để có thể biến những người đó trở thành
những con chiên ngoan đạo của đệ tam quốc tế, của ý thức
hệ cộng sản. Nhưng dù vô tình (vì ban tổ chức chỉ biết
tuân theo chỉ thị của trung ương) hay cố ý thì việc làm
đó đã hoàn toàn thất bại vì ý thức hệ chỉ có giá trị
ngắn hạn trong khi dân tộc Việt Nam thì vĩnh cửu.
Bị thất bại cay chua trước lương
tâm của loài người, ban tổ chức đấu tố phải tăng cường
lực lượng, xây dựng pháp trường, tuyển chọn những tay
súng trung kiên chí cốt. Về pháp trường, ông Ðại viết
:
«Tổ chức tại pháp trường : Nơi
pháp trường, người ta dựng một sân khấu cao 3 mét, rộng
20 mét vuông. Ánh sáng lúc đó dùng bằng đèn khí đá để
thắp sáng, có một vành móng ngựa, người ta chôn một cái
thang mượn của gia đình ông Ðích và cột vào đó hai cây
chuối để khi bắn đạn không đi lạc ra ngoài.»
Từ việc trói vào cây thông để
xử bắn đến việc xây dựng pháp trường, chứng tỏ sự
quyết tâm của ban tổ chức lần này. Sự thất bại trong
việc xử tử hình lần trước khiến cho việc chọn tay súng
lần này trở thành vấn đề quan trọng nhất của ban tổ
chức.
Ngày 22 tháng tư âm lịch năm 1955,
ông Trần thúy Doanh, vị đại ân nhân của xã Quỳnh Thanh,
bị dẫn giải ra pháp trường. Ông Ðại viết :
«Ðến 22 giờ, ông Trần thúy Doanh
bị dẫn ra pháp trường và đứng trước vành móng ngựa,
khi đã ổn định thì viên chánh án đọc bản án, sau đó
đội thi hành án đưa ông đến nơi đã định và trói ông
lại, bịt miệng cùng nhét vải vào miệng. Lần này cũng như
lần trước, có ba người cầm súng từ xa tiến lại và bóp
cò...
Tiếng súng chát chuá nổ vang, đạn
bay ngay vào trán nạn nhân. Lúc đó sân khấu bỗng sập đổ,
đèn thắp cũng nổ tung. Sân khấu sập làm cho bà Phạm thị
Hợp con nuôi ông Mong và O Xất con nuôi ông Thích bị thương.»
Ðối với người dân hiền hoà
xã Quỳnh Thanh, phép lạ đã xảy ra hai lần ; Trời cao đã
phải nổi giận trước hành động tàn bạo của con người
!!! Hàng ngàn người bị sách động đến tham dự án tử hình
của vị đại ân nhân của xã Quỳnh Thanh đã hoảng sợ,
bỏ chạy tán loạn !!!
Ðể mô tả tầm mức văn hoá và
lương tâm của ban tổ chức án tử hình, ông Ðại viết:
«Lúc bắn xong người ta hạ xác
xuống vùi đất ngay, vì phiá sau có sẵn một vũng trâu đẫm
khoảng 4 tấc. Khi lấp xác thì trời đã tối, nơi chôn lại
cạn nên còn lòi hai đầu gối».
Hành động đó chứng tỏ ảnh hưởng
của bốn ngàn năm văn hiến, ảnh hưởng của nền đạo đức
lâu đời của dân tộc Việt đã bị hoàn toàn xoá bỏ trong
tâm hồn những người trong ban tổ chức án tử hình. Những
người này có thể thoát khỏi sự trừng phạt của xã hội
thời đó, nhưng không bao giờ thoát khỏi sự trừng phạt
của toà án lương tâm mà thiên nhiên đã tạo sẵn trong tâm
hồn họ. Những ăn năn hối hận trong những đêm dài không
ngủ được, những hoang mang sợ hãi ngày đền tội không
còn xa, những day dứt mà không thổ lộ với ai được.
Về tình trạng tâm lý của nhân
dân, ông Ðại viết :
«Sáng hôm sau không ai dám đến
đó để xem xét vì sợ liên lụy đến chính trị.»
Những người chưa có kinh nghiệm
sống trong một xã hội bị thống trị bởi một ý thức hệ
cực đoan khó có thể hiểu được tại sao mà nhân dân lại
sợ cả việc đến xem xét một xác chết ! Thực ra, đứng
về khoa học tâm lý, một người cực đoan về ý thức hệ
mà người ta thường gọi là cuồng tín có thể làm mọi hành
động bất chấp cả những đạo đức căn bản của nhân
loại ; vì vậy sự sợ hãi của nhân dân chỉ là vấn đề
tất yếu do nhu cầu tự vệ.
Nhưng ông Nguyễn đình Bưởi đã
không sợ những kẻ cuồng tín, đã ra đắp mộ ông Doanh lại
và tu sửa mộ hàng năm. Hành động của ông Bưởi là một
hành động can đảm, sẵn sàng chấp nhận những thiệt thòi
về quyền lợi vật chất, quyền lợi chính trị, để làm
những việc phù hợp với lương tâm của con người, phù hợp
với truyền thống bất khuất, phù hợp với nền văn hoá
bốn ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt Nam.
Ðứng trước bạo lực, nhân dân
của xã Quỳnh Thanh chỉ còn biết cầu nguyện, và họ tin
rằng sự cầu nguyện của họ đã thấu tới Trời cao :
- lần xử tử đầu tiên, cả ba
chiếc súng đều không nổ ;
- lần thứ hai, sau tiếng đạn
nổ thì sân khấu sập đổ, đèn thắp cũng nổ tung, nhiều
người bị thương, ai chứng kiến cũng đều kinh sợ !
và đối với kẻ cầm súng bắn
ông Trần thúy Doanh, ông Ðại viết :
«Trong những người cầm súng bắn
ông Doanh có một người xã Quỳnh Văn, anh ta đem cả vợ đi
tham dự, mặc dầu vợ đang có thai, khi ra về đi đò của
ông Phú, lúc qua sông không may đò bị lật, anh ta thoát được
còn vợ chết đuối, sáng hôm sau mới tìm được xác và chôn
tại Cồn Lức.»
Nhân dân của xã Quỳnh Thanh có
thể hiểu được sự tàn bạo của lính viễn chinh Pháp khi
xâm chiếm nước ta, của những kẻ khác máu tanh lòng ; nhưng
không thể nào hiểu được sự tàn bạo của người Việt
đối với người Việt, nhất là đối với những người
làm việc ích quốc lợi dân như vị đại ân nhân của họ
: ông Trần thúy Doanh. Nhân dân xã Quỳnh Thanh có thể hiểu
được sự tàn bạo của bọn thổ phỉ cướp của giết người,
nhưng nhân dân xã Quỳnh Thanh không thể nào hiểu nổi sự
tàn bạo của những người nhân danh chính quyền của nhân
dân để cướp của giết người. Nhân dân xã Quỳnh Thanh
có thể hiểu được những gì phù hợp với văn hoá bốn
ngàn năm văn hiến cuả dân tộc Việt Nam, nhưng không thể
hiểu nổi những lý thuyết viển vông về đấu tranh giai cấp,
về giáo dục căm thù vì trên thực tế chỉ thấy lý thuyết
đó dẫn tới hận thù, dẫn tới chiến tranh, dẫn tới những
cuộc tàn sát diệt chủng như ở Kămpuchia, dẫn tới sự tàn
sát hàng chục triệu người ở Trung Quốc thời kỳ cách mạng
văn hoá v.v..
Ðến năm 1992 thì con cháu của ông
Trần thúy Doanh vào xã Quỳnh Thanh để dời mộ về miền
Bắc. Theo sự tìm hiểu của chúng tôi, những người trước
kia bị sách động để tố khổ ông Trần thuý Doanh, sau mấy
chục năm bị dằn vặt, dầy vò bởi toà án của chính lương
tâm mình, đã tình nguyện giúp đỡ con cháu ông Doanh để
dời mộ, để tìm kiếm chút ít an lạc cho tâm hồn. Ông Ðại
viết :
«Người Quỳnh Thanh vẫn muốn giữ
lại thi hài ông Doanh, vị đại ân nhân, trên mảnh đất thân
yêu của mình vì có nhiều ý nghĩa và sử tích.»
Bốn mươi năm sau vụ án ích
quốc lợi dân, tội tử hình của ông Trần thuý Doanh,
ông Nguyễn đình Ðại, một nhân chứng của vụ án, sau khi
đã trở thành Chủ Tịch xã Quỳnh Thanh đã viết lại được
những điều mắt thấy tai nghe, đã nói lên được những
điều suy nghĩ của nhân dân xã, vẫn giữ được truyền thống
đầy tình nghĩa chẳng hạn như ăn quả nhớ kẻ trồng
cây của dân tộc.
Theo sự tìm hiểu của chúng tôi,
tổ tiên của ông Trần thuý Doanh là người gốc Nghệ An,
ra miền Bắc lập nghiệp ở tỉnh Thái Bình, đến cụ Trần
hiến Bạch, thân sinh của ông Doanh, là đời thứ mười.
Cụ Trần hiến Bạch là một nhà
kinh doanh tài ba và yêu nước. Năm hai mươi tuổi, cụ được
người Pháp mời ra làm quan, nhưng cụ từ chối vì không muốn
hợp tác với những kẻ xâm chiếm nước Việt Nam.
Ông Trần thuý Doanh là trưởng nam
của cụ Bạch, thừa kế được sự tài ba và lòng yêu nước
của cha, nên đã trở thành đại ân nhân của xã Quỳnh Thanh.
Ông Doanh đã đóng góp rất nhiều công và của cho cuộc kháng
chiến đánh đuổi thực dân Pháp. Không những đóng góp công
và của, ông Doanh còn đóng góp cả xương máu cho cuộc kháng
chiến chống thực dân. Người con trai trưởng của ông Doanh,
người cháu đích tôn của cụ Bạch, đã hy sinh trong cuộc
kháng chiến chống Pháp.
Kháng chiến thành công, người đã
đóng góp rất nhiều công, của và cả xương máu đã bị
xử tử hình vì những việc làm ích quốc lợi dân !
Cụ Trần hiến Bạch sau khi kinh
doanh thành công ở miền Bắc, nhớ lại Nghệ An là quê hương
từ mười đời trước nên đã dẫn người con trai trưởng
là ông Trần thuý Doanh trở lại Nghệ An. Sau khi biến vùng
đất hoang vu thành ruộng vườn trù phú, đem lại đời sống
tươi vui thịnh vượng cho hàng ngàn gia đình, cụ Bạch trở
về sống ở miền Bắc, để lại gia đình người con trưởng
phục vụ cho quê hương của tổ tiên mười đời về trước.
Con cháu của cụ Trần hiến Bạch
hiện ở rải rắc khắp bốn châu : châu Mỹ, châu Âu, châu
Úc và châu Á. Mặc dầu bị vùi dập vì chiến tranh ý thức
hệ, con cháu cụ luôn luôn noi theo gương sáng của người,
quyết tâm làm những việc ích quốc lợi dân. Dĩ nhiên chữ
quốc bây giờ bao gồm nhiều quốc gia, khắp bốn châu.
Nhân dân xã Quỳnh Thanh nói riêng
cũng như nhân dân Việt Nam nói chung rất cần những người
ích quốc lợi dân như ông Trần thuý Doanh. Không biết bao
giờ đất nước Việt Nam mới phục hồi được danh dự của
tất cả những người ích quốc lợi dân để có thể lôi
cuốn những nhân tài của dân tộc, hiện đang xây dựng các
quốc gia khác, trở về xây dựng lại quê hương.
Tháng 5, năm 2001
Phó Thường Dân
|