Thư
gởi người bạn Na Uy
Bạn
thân mến,
Thư trước bạn có hỏi tôi về
quê hương, tôi đã trả lời bạn rằng quê hương của tôi
bây giờ là trái địa cầu. Nhưng đối với đa số loài người
hiện tại thì quê hương mang một nghĩa bé nhỏ hơn, là nơi
ở đó người ta thường có chung một nền văn hóa, một tổ
chức xã hội với những luật lệ chung cho tất cả mọi người.
Với quan điểm đó thì Canada hiện
tại là quê hương thứ tư của tôi.
Quê hương thứ nhất của tôi là
một làng ở miền bắc nước Việt Nam. Tôi đã phải vĩnh
biệt quê hương muôn vàn yêu dấu này khi chưa được chín
tuổi, nhưng cũng đã hiểu sâu xa những cái đau thương của
kẻ mất quê hương.
Quê hương thứ hai của tôi là Sàigòn
trước tháng 5 năm 1975, tôi lớn lên ở đây, biết bao là
kỷ niệm, biết bao là tình thương, biết bao là nỗi nhớ.
Quê hương thứ ba của tôi là Sàigòn
sau tháng tư năm 1975 với một nền văn hóa hoàn toàn khác
hẳn, với một tổ chức xã hội hoàn toàn khác hẳn , với
những luật lệ hoàn toàn khác hẳn, với giai cấp thống trị
hoàn toàn khác hẳn. Vì vậy tôi nghĩ đó là một quê hương
khác, không phải là quê hương thứ hai: Sàigòn trước tháng
năm 1975. Những tháng đầu tiên trong quê hương thứ ba, tôi
mất hầu hết bạn bè, kẻ đã đi nước ngoài , người đi
tù cải tạo , tôi hoang mang không hiểu tại sao những bạn
bè tôi chỉ là những người làm việc chuyên môn phục vụ
dân tộc mà lại trở thành kẻ thù của chế độ. Tôi sững
sờ khi thấy thái độ của một người bà con ở miền bắc:
ông ta là một đảng viên cao cấp, nhưng khi nói chuyện với
tôi, mắt ông ta nháo nhác nhìn vào phía phòng trong xem có bị
bà vợ (cũng là đảng viên) theo dõi hay không! mặc dầu tôi
và ông ta chỉ nói chuyện về họ hàng gia tộc! Tôi cũng hoang
mang không hiểu tại sao nhiều người trung hậu lại biến
thành cuồng tín, trên lý thuyết thì hy sinh để phục vụ
nhân dân, phục vụ xã hội, mà trên thực tế thì độc đoán,
dùng tuyên truyền thay thế cho khoa học, dùng vũ lực thay thế
cho lẽ phải v.v...
Hôm nay nhận được thư bạn, tôi
vội vàng đọc ngay như trẻ thơ bóc một gói quà. Trong thư
bạn viết:
“Thật vậy chúng mình có hai quê-hương
VN, mà một cái quê-hương đã ruồng-bỏ chúng ta, xua đuổi
chúng ta và đã làm 'đầy tớ phản chủ' của dân tộc chúng
ta.
Trước đây khi mới đặt chân tới
Na-uy trong 3 năm đầu, mặc dù chữ-nghĩa và ngôn-ngữ còn
quá yếu-kém (khó học hơn tiếng Anh, tiếng Pháp), tôi đã
vì nặng lòng căm-thù bọn 'đầy tớ phản chủ' và cũng vì
lời nguyền trước ngôi mộ cạn xợt của anh tôi tại Long-Khánh
(anh tôi tự tử chết trong trại Long-Giao), khi tôi đến thăm
mộ lúc mới được thả về, là tôi sẽ trả thù để linh-hồn
anh tôi được thỏa-nguyện phần nào nơi chín suối , tôi
đã đem hết vốn-liếng ngôn-ngữ nghèo nàn mới học được
chưa quá 100 giờ, đi các nơi quanh vùng tôi ở (móc nối với
các hội như Rotary, Lions, In the Wheel v..v..) để nói chuyện
cho người bản-xứ biết CSVN là gì , số-phận người dân
VN ra sao , cuộc “nội-chiến VN” (nói theo người bản-xứ)
không phải là cuộc chiến chống ngoại-xâm mà chỉ là cuộc
chiến về ý-thức-hệ, và miền Nam thua là vì dân chúng bị
CS phỉnh-gạt, và những người gọi là lãnh-tụ chỉ cầu-vinh,
vinh thân phì gia, tham nhũng. Cũng có những thành-phần có nhiệt-tâm
với đất nước, nhưng các nhà lãnh đạo đã chịu cúi đầu
nhờ vả vào ngoại bang, nên đã lọt vào mạng lưới không
thoát ra được. Nên nhớ là cả Bắc-Âu đã suốt thời-gian
chiến-tranh ở VN ủng-hộ nhiệt tình Hà- Nội “chống Mỹ”.
Họ chưa mở mắt ra hẳn khi thấy hàng triệu người liều
chết tuôn ra biển tìm tự do.
Tôi không nghĩ là mình đã đóng-góp
được gì cho quê hương , vì chỉ lên tiếng nói ở địa
phương mà thôi, nhưng tôi biết rằng ít nhứt những người
bản xứ quanh vùng tôi ở và cả báo chí địa phương cũng
đã nghe được một tiếng nói nhỏ nhoi của tôi, nên cái
nhìn của họ đối với những “người VN tội-nghiệp”
đã được tầu Na-Uy cứu vớt kia, cũng như những người
“boat people” được Na-Uy nhận từ các trại tỵ nạn Ðông
Nam Á có đổi khác đi nhiều.
Có một lần khi cuốn phim Rambo 4
(Rambo qua Lào giải-thoát tù binh Mỹ) được chiếu lần đầu
ở đây, tờ báo địa phương lớn nhất có mời tôi và một
người khác cũng ở đây đi xem. Xong họ mời ra quán cà phê
để hỏi ý kiến chúng tôi về cuốn phim đó. Ðấy là dấu
hiệu cho tôi thấy việc làm trước đây của tôi đã được
báo chí chú ý tới. Vì vậy nên tôi mới nghĩ rằng mình cũng
đánh lên được một tiếng chuông, tuy yếu ớt nhưng cũng
vang được đến tai người bản xứ.
Tôi hy-vong bạn cứ tiếp tục viết
và viết nhiều để góp sức vào cuộc đấu tranh tư tưởng
của dân VN khắp nơi.”
Ðọc xong thư của bạn, tôi bàng
hoàng và bị xúc động mạnh, những kỷ niệm hơn hai mươi
năm về trước như hiện ra trước mắt. Tôi không khóc mà
sao nước mắt tôi giàn giụa!
Quê hương không bao giờ ruồng bỏ
chúng ta, không bao giờ xua đuổi chúng ta đâu bạn ạ, chỉ
có những tên “đầy tớ phản chủ” của dân tộc chúng
ta muốn bảo vệ “ngai vàng” của chúng đã đầy đọa chúng
ta, đã ruồng bỏ chúng ta, đã xua đuổi chúng ta mà thôi.
Tất cả những người đi theo bọn chúng chẳng qua chỉ là
những nạn nhân, đáng thương hơn đáng trách. Những người
này có thể là những người yêu nước, chẳng may đi lầm
đường lạc lối vào một chủ nghĩa giáo điều, chẳng may
bị lừa gạt vào cuộc chiến tranh ý thức hệ mà lại tưởng
lầm là chiến tranh giải phóng dân tộc, để rồi dần dần
biến thành một kẻ cuồng tín, không còn khả năng nhận định
đâu là tình dân tộc, đâu là giá trị của con người.
Mấy chục năm nay mất liên lạc
với bạn, bây giờ mới biết tin buồn về ông anh của bạn
đã mất ở trại Long Giao. Tôi xin thành thực chia buồn với
bạn. Tôi cũng xin thành kính cúi đầu bái phục trước linh
hồn của ông anh, đã noi gương bất khuất của cha ông ngày
trước, thà chết chứ không chịu để bọn giặc hành hạ.
Tôi cũng đã suy nghĩ hàng năm trước khi quyết định vĩnh
biệt quê hương thứ ba (Sàigòn sau tháng tư năm 1975), biết
bao nhiêu lần tôi tự hỏi: nếu không chấp nhận chế độ,
tại sao mình không ở lại để đấu tranh mà lại bỏ đi?
Và sau khi nhận thấy sự đấu tranh của mình sẽ giống như
việc lấy “trứng chọi đá ”, chỉ là một sự hy sinh vô
nghĩa, tôi mới quyết định ra đi để hy vọng một ngày nào
đó có thể đóng góp chút gì cho quê hương yêu dấu.
Tôi cũng rất bái phục tài năng
và sự can đảm của bạn. Ngôn ngữ Na Uy là một ngôn ngữ
rất khó học, khó hơn học tiếng Anh, tiếng Pháp. Vậy mà
chỉ sau hơn 100 giờ học, bạn đã dám đi thuyết trình bằng
tiếng Na Uy để thuyết phục những người đã hiểu sai về
cuộc chiến ở Việt Nam. Họ lầm tưởng đó là cuộc nội
chiến, họ lầm tưởng đó là cuộc chiến tranh giải phóng
dân tộc của một nước nghèo nàn lạc hậu chống lại một
cường quốc mạnh nhất thế giới: Hoa Kỳ. Họ chưa ý thức
được rằng đó là cuộc chiến ý thức hệ, chưa ý thức
được chủ trương của những kẻ theo chủ nghĩa giáo điều,
quyết tâm áp đặt ý thức hệ của họ trên toàn thế giới.
Thuyết trình bằng ngôn ngữ mẹ đẻ đã khó, thuyết trình
bằng ngoại ngữ khó khăn hơn nhiều. Thuyết trình bằng ngôn
ngữ mà mới theo học được 100 giờ thì tôi nghĩ không phải
chỉ mình tôi mà ai ai cũng phải thán phục. Hơn thế nữa,
đó lại là việc thuyết phục những người đã có thành
kiến từ mấy chục năm trước, đối với tôi thật giống
như chuyện đội đá vá trời!
Bạn cho rằng bạn chưa đóng góp
được gì cho quê hương!
Về điểm này thì tôi hoàn toàn
không đồng ý với bạn!
Chủ nghĩa cộng sản không phải
được tạo ra trong một ngày hay trong một năm mà do hàng trăm
năm mâu thuẫn gay gắt trong sự phát triển công nghiệp. Triết
lý Các Mác chủ trương giải quyết những mâu thuẫn đó bằng
cách mạng vô sản, với duy vật biện chứng làm vũ khí lý
luận, với duy vật lịch sử làm kim chỉ nam cho cuộc cách
mạng đó. Chủ nghĩa cộng sản đã đạt tới đỉnh cao sau
khi chiến thắng Mỹ ở Việt Nam.
Chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ
hồi cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990. Chủ nghĩa
cộng sản không hề bị chủ nghĩa tư bản đánh bại về
quân sự. Chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ vì những anh
hùng không tên tuổi, như ông anh của bạn, như hàng triệu
người đã vĩnh biệt quê hương, thà chết trên biển cả,
trên bức tường ô nhục Bá Linh còn hơn sống vói những kẻ
cuồng tín . Chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ vì những tiếng
nói của những người như bạn , không ngại bất cứ khó
khăn nào, dù nửa câm nửa điếc nửa mù (vì chưa rành ngôn
ngữ dân bản xứ) vẫn thuyết phục được người khác thay
đổi thành kiến có từ mấy chục năm trước!
Nếu không có những sự đấu tranh
của hàng triệu anh hùng không tên tuổi như anh em bạn thì
làm sao mà chủ nghĩa cộng sản sụp đổ được.
Chủ nghĩa cộng sản có vũ khí
lý luận là duy vật biện chứng, có khả năng vận dụng quần
chúng để cướp chính quyền; trong khi đó chủ nghĩa tư bản
lại không phải là một chủ nghĩa, lại chỉ là chiều hướng
phát triển tự nhiên của nền kinh tế nhân loại.Vì vậy
trong cuộc chiến ý thức hệ trong thế kỷ vừa qua, chủ nghĩa
cộng sản đã nhuộm đỏ được biết bao nhiêu đất nước,
đã thay đổi được lịch sử của thế giới. Và cũng vì
nguyên do đó tôi hy vọng bạn cũng như nhân dân miền nam có
thể tha thứ cho những lãnh tụ ở miền nam cái tội làm mất
nước.
Sau sự thất bại của phe tư bản
trong cuộc chiến ý thức hệ ở Việt Nam, chủ nghĩa cộng
sản đã lên tới đỉnh cao. Cái sở trường của những “anh
hùng Lương Sơn Bạc”, cướp của nhà giầu để chia cho nhà
nghèo, tự nhiên biến thành sở đoản, cả nước nghèo nàn
thì ăn cướp của ai được nữa! Tôi còn nhớ hồi cuối
thập niên 1970, khi bị áp đặt sự tôn kính “cha già của
dân tộc”, nhân dân miền nam thường đóng vai ngu dốt, khờ
dại bằng cách nói đùa rằng:
Con ơi học lấy lời cha,
Một đêm ăn cướp bằng ba năm
làm!
Trong cuộc chiến ý thức hệ , phe
tư bản đã thất bại về quân sự , đã mất ảnh hưởng
trên nhiều khu vực trong thế giới. Nhưng sự đấu tranh không
ngơi nghỉ của những anh hùng không tên tuổi đã đánh thức
lương tri của người cộng sản. Nhiều người đã từng ôm
ấp lý tưởng xây dựng một xã hội công bằng và nhân bản,
đã ngỡ ngàng nhìn thấy hàng triệu người chạy trốn cái
thiên đường do họ tạo ra. Cái dân chủ mà họ thường cho
rằng dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản dần dần
lộ nguyên hình là một chế độ phong kiến kiểu mới. Càng
tôn thờ chủ nghĩa Mác thì họ lại cảm thấy đi ngược
lại ý niệm chủ chốt của chủ nghĩa Mác: giải phóng lực
lượng sản xuất để gia tăng năng suất lao động. Sự mâu
thuẫn ẩn tàng hàng mấy chục năm, thường được che đậy
bằng chiến tranh dưới chiêu bài giải phóng dân tộc, dưới
chiêu bài chống lại cảnh người bóc lột người, càng ngày
càng lộ rõ rệt trong chính quyền “chuyên chính vô sản”.
Sau hơn bẩy mươi năm tồn tại
ở Liên bang Xô Viết, những mâu thuẫn đó đã vượt ra khỏi
tầm kiểm soát của đảng cộng sản Liên Xô, thiên đường
ảo đã sụp đổ ngay trong tâm tư của những đảng viên cộng
sản cao cấp nhất.
Bạn thân mến,
Năm 1989, khi nghe tin bức tường
ô nhục Bá Linh bị nhân dân đạp đổ, nhân dân Ðức được
thống nhất trong hòa bình hạnh phúc và thịnh vượng, tôi
thấy vô cùng đau xót cho nhân dân Việt Nam, mua cái giá thống
nhất với ba triệu mạng người vô tội, với thiên đường
ảo “độc lập, tự do, hạnh phúc”, với hàng triệu người
phải vĩnh biệt quê hương, liều chết tuôn ra đại dương
đi tìm tự do, với một chế độ phong kiến kiểu mới v.v...
Hàng triệu người phó thường dân
như bạn, như những người dân Ðông Ðức, những người
dân Ba Lan v.v… đã góp phần mình để cho chế độ cộng
sản sụp đổ, để cứu nhân loại khỏi chế độ “phong
kiến kiểu mới”. Hàng triệu người đã là những anh hùng
không tên tuổi:
Họ là những kẻ anh hùng
không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối
mênh mông
Không bao giờ được hưởng
ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận tình giúp
nước
(thơ Thế Lữ)
Nhưng những việc làm vô danh của
bạn không phải chỉ đóng góp cho sự giải phóng nhân loại
khỏi chế độ “phong kiến kiểu mới”, mà theo tôi nghĩ
cũng đóng góp công sức của bạn cho quê hương Việt Nam yêu
dấu của chúng ta.
Bạn thử nghĩ coi, nếu chế độ
cộng sản quốc tế không sụp đổ thì làm gì có chuyện
thay đổi từ kinh tế chỉ huy sang kinh tế thị trường từ
hơn mười năm qua ở Việt Nam, thì làm gì từ tình trạng
cơm không có mà ăn sang tình trạng xuất khẩu gạo hàng thứ
nhì trên thế giới. Bạn còn nhớ chăng hồi cuối thập niên
1970, nhân dân phải ăn bo bo thay gạo, trong khi đó lấy bo bo
nuôi gà thì gà không chịu ăn, lại phải lấy thóc để nuôi
gà!
Nếu chủ nghĩa cộng sản quốc
tế không sụp đổ thì làm gì có chuyện Mỹ trở lại bang
giao với Việt Nam, làm gì có chuyện Mỹ viện trợ kinh tế
cho Việt Nam.
Nhưng sau khi sụp đổ hàng chục
năm, chủ nghĩa cộng sản quốc tế vẫn còn để lại nhiều
ảnh hưởng tai hại cho tới ngày nay.
Chủ nghĩa Mác đã xoay chiều được
lịch sử thế giới trong thế kỷ vừa qua, đã trở thành
thứ thuốc kích thích của tâm hồn hàng trăm triệu người.
Di hại của thứ thuốc kích thích này dĩ nhiên gấp hàng trăm
ngàn lần thuốc phiện (Mác đã từng tuyên bố: tôn giáo là
thuốc phiện của tâm hồn). Bàn đến sức quyến rũ của
chủ nghĩa Mác, Hà Sĩ Phu đã bình luận trong bài “Chia tay
ý thức hệ-1995”: “đẩy được trí tuệ ra khỏi đầu
những người vốn thông minh đã là điều tài tình, thì việc
đẩy được lương tâm và danh dự ra khỏi những trái tim
vốn đầy tính lương thiện và lý tưởng quả là một siêu
ma lực đáng để loài người muôn đời nghiền ngẫm”.
Theo tôi nghĩ thì trong bất cứ chủ
nghĩa giáo điều nào, khi người ta trở thành cuồng tín thì
người ta đều mất cả trí tuệ lẫn lương tâm. Hơn 25 thế
kỷ trước, đức Phật đã nhìn thấy điều đó:
“Một khi đã bị kẹt vào một
chủ thuyết rồi thì người ta mất hết tự do. Người ta
trở nên độc đoán, cho rằng chỉ có chủ thuyết của mình
mới là chân lý còn tất cả các chủ thuyết khác đều là
tà đạo”.(trang 198-“Ðường Xưa Mây Trắng” của Thích
Nhất Hạnh).
Bạn thân mến,
Một trong những hậu quả tai hại
của chủ nghĩa Mác để lại cho dân tộc Việt Nam là sự
chia rẽ trầm trọng trong nhân dân, trong các cộng đồng, trong
ý thức hệ của các đoàn thể nhân dân.
Mọi phe phái đều kêu gọi đoàn
kết, nhưng càng kêu gọi thì càng chia rẽ hơn. Lý do cũng
tương đối dễ hiểu vì phe phái nào thì cũng đấu tranh cho
quyền lợi của phe phái mình; vì vậy mọi lời kêu gọi đều
phản ảnh ít nhiều quyền lợi của phe phái.
Ðứng trên quan điểm bảo vệ quyền
lợi của dân tộc thì bất cứ phe phái nào, họ chỉ đúng
khi nào họ thực sự là đầy tớ của nhân dân. Nhưng một
khi cầm quyền thì bất cứ phe phái nào cũng bị thoái hóa.
Vì quyền lực là một thứ độc dược cho tâm hồn. Khi đấu
tranh cho sự công bằng, cho sự tiến bộ của nhân dân thì
họ có thể là những người tốt; nhưng một khi nắm quyền
hạn trong tay là họ bị biến đổi dần dần từ vai trò phục
vụ nhân dân thành vai trò cưỡi đầu cưỡi cổ nhân dân.
Bạn thân mến,
Tôi thiết nghĩ sự thay đổi triều
đại này sang triều đại khác trong lịch sử của dân tộc
không quan trọng bằng nền văn hóa của dân tộc, không quan
trọng bằng sự tiến bộ của dân tộc. Các vị minh quân,
các vị anh hùng đã đóng góp cho lịch sử của dân tộc.
Nhưng những đóng góp đó có lẽ rất nhỏ nếu so sánh với
những tai hại do những kẻ gian hùng, những hôn quân, bạo
chúa gây ra cho nhân dân! Trong số các vị đó cũng có những
người thoái hóa từ anh hùng thành gian hùng, từ minh quân
thành bạo chúa.
Tôi thiết nghĩ nền văn hóa, sự
tiến bộ của dân tộc là do nhân dân đóng góp, nhất là
những người phó thường dân. Những người này thường bị
đóng góp nhiều hơn vì sự kỳ thị, sự áp bức, sự bóc
lột, sự bất công v.v...
Một số không nhỏ trong số những
người này chính là những anh hùng vô danh, những anh hùng
không tên tuổi mà tôi vô cùng ngưỡng mộ!
Những anh hùng vô danh này nhiều
vô số kể, lại không bao giờ được hưởng ánh quang vinh,
không bao giờ bị “quyền hạn” làm cho ung thối.
Ðối với tôi, ông anh của bạn
, người đã tự tử tại trại tù Long Giao , là một anh hùng
vô danh, đã noi gương cha ông ngày trước quyết tự vẫn chứ
không để bọn giặc làm nhục. Một lần nữa tôi xin thành
thực chia buồn cùng bạn và xin thành kính cúi đầu bái phục
trước linh hồn của người anh hùng vô danh đó.
Tôi thiết nghĩ dân tộc Việt Nam
cũng như những dân tộc khác trên thế giới rất cần sự
đóng góp của toàn dân, của những anh hùng vô danh. Dân tộc
Việt Nam cũng như những dân tộc khác không cần các lãnh
tụ, nhất là các lãnh tụ giả đạo đức. Nhân dân chỉ
cần những người đầy tớ trung thành với dân tộc. Nhân
dân cũng cần thường xuyên kiểm tra sự trung thành của các
đầy tớ của dân tộc, thường xuyên loại bỏ những tên
“đầy tớ phản chủ”, vì bất cứ người đầy tớ nào
của dân tộc, dù là người đạo đức nhất, cũng đều có
thể trở thành một tên “đầy tớ phản chủ” nếu dân
tộc đó không có những biện pháp ngăn ngừa trước.
Thư đã dài, tôi vẫn chưa viết
tên bạn vì theo tôi những hành động của bạn tại Na Uy
cũng là những hành động của anh hùng vô danh.
Tôi xin chúc bạn dồi dào sức khỏe
để tiếp tục những hành động của một anh hùng vô danh,
của một người phó thường dân.
Phó Thường Dân
Tháng chín năm 2002
|