Giã
từ ý thức hệ
Lời
nói đầu: Nói đến ý
thức hệ, ai ai cũng nghĩ đến
những chuyện lớn lao dành riêng
cho những nhà khảo cứu. Nhưng
trong phạm vi bài này tác giả chỉ
muốn bàn đến những chuyện
nhỏ bé: ý thức hệ của
người thường dân, người
lao động trí não hay tay chân bình
thường. Dù muốn dù không,
trong cuộc sống mỗi cá nhân, chúng
ta đều bị chi phối nặng nề
bởi ý thức hệ của bản
thân mình. Có người phủ
nhận sự hiện hữu của ý
thức hệ trong tâm hồn mình, chỉ
muốn nói đến những chuyện
vật chất thực tế. Nhưng thái
độ đó lại chính là triết
lý của kẻ đó, chính là
ý thức hệ của kẻ đó.
Triết lý của mỗi cá nhân
hay ý thức hệ của mỗi cá
nhân có thể vô cùng đơn
giản như triết lý của đứa
trẻ sơ sinh: "con có khóc mẹ mới
cho bú", có thể vô cùng huyền
bí và phức tạp như triết
lý của một số tôn giáo. Triết
lý có thể cần thiết để
giải quyết những chuyện hàng
ngày chẳng hạn như những triết
lý được diễn tả dưới
dạng châm ngôn: "miếng ngon ăn ít,
ngon lâu", "thất bại là mẹ thành
công","đói cho sạch rách cho thơm"
v.v…. Triết lý có thể đảo
lộn cả lịch sử thế giới
như chủ nghĩa Mác trong thế kỷ
vừa qua. Nhưng những triết lý
cao siêu nhất lại chính là những
triết lý đơn giản nhất, là
những tấm biển chỉ đường
cho chúng ta sống trong tươi vui hạnh
phúc, trong sự hãnh diện về bản
thân mình, trong sự hài hoà với
thiên nhiên và xã hội chung quanh.
Từ quan điểm đó chúng
ta có thể nghĩ rằng nếu độc
giả nào đọc kỹ bài này
mà không hiểu thì không phải
là độc giả đó không rành
về triết lý mà là vì tác
giả còn kém cỏi trong vấn đề
diễn đạt ý tưởng của
mình.
Một khi ý thức
hệ trong tâm hồn của chúng ta không
còn phù hợp với những
điều kiện thiên nhiên và xã
hội chung quanh thì "giã từ ý
thức hệ" có lẽ là con đường
duy nhất để có thể sống tươi
vui, hạnh phúc, hài hoà với
thiên nhiên và xã hội chung quanh.
Nhưng muốn "giã từ ý thức
hệ" thì trước hết chúng
ta cần xét qua những yếu tố
tạo ra ý thức hệ của bản
thân mình.
Phần 1: Những yếu
tố tạo ra ý thức hệ của
mỗi cá nhân.
1. Gia đình.
Từ lúc lọt lòng
mẹ, những ý thức hệ dần
dần xuất hiện trong tâm hồn con người.
Khi đói thì khóc là phản ứng
thiên nhiên của đứa trẻ,
khi khóc thì được cho bú,
dần dần đứa trẻ nghĩ
là có khóc mới được
bú. Khi trí óc đứa bé
bắt đầu phát triển thì chính
hoàn cảnh gia đình là trường
học đầu tiên. Nếu sinh ra trong một
gia đình có văn hoá cao thì
đứa trẻ sẽ được
tiếp thu nền văn hoá đó trong
sự phát triển ý thức hệ
của bản thân. Ngược lại, nếu
sinh ra trong một gia đình có văn hoá
quá thấp thì sự phát triển
ý thức hệ của đứa
trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn.
2. Nhà trường.
Nhà trường là
nơi xây dựng trí tuệ cho chúng
ta, tạo cho chúng ta những kiến thức
về văn hoá, về khoa học. Những
điều chúng ta học hỏi được
ở nhà trường dần dần
tạo thành những khả năng để
suy luận, để quyết định, để
thực hiện, để hoàn thành
một công việc được giao phó.
Nói một cách khác, nhà trường
đóng góp một cách tích cực
trong việc xây dựng ý thức
hệ của chúng ta. Mục đích của
nhà trường là để mở
mang trí tuệ cho nhân dân, khi sự
mở mang trí tuệ đó không
phù hợp với quyền lợi
của giai cấp thống trị thì chính
quyền thường can thiệp một cách
thô bạo vào để củng cố
vai trò lãnh đạo của mình.
3. Phong tục tập quán
chung quanh ta.
Những phong tục và
tập quán của xã hội chung quanh ta cũng
đóng góp rất nhiều trong việc
hình thành ý thức hệ của
bản thân chúng ta. Những phong tục
và tập quán làm cho con người
thấy cuộc sống có ý nghĩa,
có văn hoá, có văn minh v.v... Nhưng
khi những điều kiện xã hội
thay đổi quá mau, nhiều phong tục và
tập quán không còn phù hợp
nữa, có thể trở thành
hủ tục, có thể đem lại những
đau đớn vô ích cho con người.
Chẳng hạn như những người
quen với phong tục "kính lão đắc
thọ" sống trong xã hội Âu Mỹ
có khi có cảm giác như bị những
người trẻ tuổi khinh thường.
4. Thời đại.
Thời đại có
một ảnh hưởng thống trị trên
ý thức hệ của từng cá
nhân, chẳng hạn như :
- Một người sống
ở thời đại nguyên thủy
thì ý thức hệ về xã hội,
về gia đình, về văn hoá dĩ
nhiên lệ thuộc vào ý thức
hệ của thời đại nguyên thủy
của loài người.
- Một người sống
ở thời đại nô lệ thì
không coi chuyện bắt người khác
làm nô lệ là một tội ác
mà coi như là chuyện thường
tình.
- Một người sống
ở thời đại phong kiến thì
coi chuyện "trung hiếu, tiết nghĩa" như
những khuôn vàng thước ngọc.
- Một người sống
ở thời đại phát triển
tư bản chủ nghĩa coi kinh tế thị
trường là chân lý của
thời đại.
- V.v…
Phần 2. Giã từ
ý thức hệ.
Nếu ý thức hệ
của cá nhân phù hợp với
những điều kiện xã hội
chung quanh thì cuộc sống của chúng
ta hài hoà và hạnh phúc. Nhưng
những điều kiện xã hội
lại luôn luôn tiến hoá nên sự
hài hoà đó sẽ vô cùng
ngắn hạn, sự mâu thuẫn dần
dần xuất hiện và nếu ý thức
hệ cá nhân không tiến hoá kịp
với đà tiến hoá của
xã hội thì chúng ta có thể
trở thành khó tính, thiếu cởi
mở và có thể bị hoàn
toàn cô lập với xã hội
chung quanh ta. Và khi đó vấn đề
"giã từ ý thức hệ" trở
thành vô cùng cần thiết.
Vì "ý thức hệ"
của cá nhân được cấu
tạo bởi bốn yếu tố nói
trên, nên khi muốn "giã từ ý
thức hệ" chúng ta cần loại bỏ
từng yếu tố cấu thành nó.
1. Thời đại.
Mấy chục năm qua, vì
hoàn cảnh lịch sử, ý thức
hệ của hàng triệu người Việt
Nam bị thống trị bởi ý thức
hệ cộng sản đã làm cho họ
đối xử tàn bạo đối
với đồng bào ruột thịt
mà tuyệt đại đa số là
nạn nhân của cuộc chiến tranh "ý
thức hệ" thế giới.
Sự sụp đổ của
Liên Xô và hệ thống cộng sản
thế giới đã làm cho một
số người thức tỉnh, nhưng
không đủ khả năng tự giải
phóng khỏi ý thức hệ đó.
Năm 1995, ông Hà Sĩ Phu đã
viết bài "Chia tay ý thức hệ".
Bài này đã giúp cho hàng
triệu người dứt khoát được
với "ý thức hệ cộng sản"
và cũng giúp cho nhiều người
hiểu rõ hơn đâu là chỗ
sai của "ý thức hệ" đó
để không còn có những
mặc cảm sai lầm về việc đã
vĩnh biệt quê hương, về việc
đã không chấp nhận chết ở
quê hương. Bài lý luận đó
đã chứng minh được
rằng:
- Triết học Mác Lê
không có phương pháp luận. Tác
giả đã vạch ra được
tính chất tiêu cực, tính chất
duy tâm và siêu hình của "duy vật
lịch sử", giáo điều căn
bản của cuộc cách mạng vô sản
thế giới trong thế kỷ vừa
qua. Tác giả đã chứng minh được
tính chất phi khoa học của chủ nghĩa
và bản chất lạc hậu, phản lại
sự vận động của xã hội
(phản động) của các nhà lãnh
tụ đi theo chủ nghĩa đó.
- Tư duy chính trị Mác
xít chẳng qua chỉ là tư duy đức
trị phong kiến mang mầu sắc công
nghiệp. Ðạo đức là giá
trị cao quý của con người nhưng
đức trị luôn luôn tạo ra
các chính trị gia đạo đức
giả, kẻ thù muôn đời
của các tầng lớp nhân dân
mọi dân tộc. Chủ nghĩa xã hội
vì vậy chẳng qua chỉ là sự
kéo dài của chế độ phong kiến.
Cái chất phong kiến gia trưởng
chưa kịp tẩy rửa bởi một
nền dân chủ đã tìm thấy
chỗ đứng rất ngon lành trong
hệ thống chuyên chính "dân chủ
tập trung".
- Tầm văn hoá thấp
của trào lưu cộng sản. Sau 30 tháng
tư năm 1975, nhân dân miền nam đã
được chứng kiến nền
văn hoá của các cán ngố,
giai cấp thống trị dần dần bị
đồng hoá bởi văn hoá
của giai cấp bị trị.
Vì những ưu điểm
nói trên, có nhiều người
đã cho rằng "Hà Sĩ Phu là
niềm tự hào của triết học
Việt Nam".
Cuộc chiến ý thức
hệ quốc tế trong thế kỷ vừa
qua lấy Việt Nam làm bãi chiến trường
nên ý thức hệ của mỗi
người Việt Nam đều bị ảnh
hưởng ít hoặc nhiều tùy
theo hoàn cảnh gia đình và cá
nhân. Người ta thường cho
rằng đó là cuộc chiến tranh
một mất một còn giữa "chủ
nghĩa xã hội" và "chủ nghĩa
tư bản". Nhưng thực ra chỉ có
"chủ nghĩa xã hội" mới là
một chủ nghĩa, dựa trên triết
lý (hoặc ý thức hệ) Mác
Lê; trong khi đó "chủ nghĩa tư
bản" không phải là một chủ nghĩa
mà chỉ là sự phát triển
tất yếu của nền kinh tế của
nhân loại. Vì vậy trong cuộc chiến
ý thức hệ vừa qua, những
người ở phe tự do dù
biết là mình đúng nhưng lại
có mặc cảm về vấn đề
lý luận "ý thức hệ". Hà
Sĩ Phu đã được nhiều
người ca tụng vì đã giúp
họ xoá bỏ được những
mặc cảm đó.
Ði ngược lại sự
phát triển tất yếu của nền
kinh tế của nhân loại nên sau khi đạt
được đỉnh cao của chiến
thắng bằng sự mất mát lớn
nhất của dân tộc Việt Nam, chủ
nghĩa cộng sản đã tự động
tan vỡ tự bên trong mà không
phải là do những hành động
của phe "tư bản chủ nghĩa".
Hai mươi lăm thế kỷ
trước đức Phật đã
nhìn thấy cái độc hại của
những chủ nghĩa, chủ thuyết:
"Một khi đã bị kẹt
vào một chủ thuyết rồi thì
người ta mất hết tự do. Người
ta trở nên độc đoán, cho
rằng chỉ có chủ thuyết của
mình mới là chân lý còn
tất cả các chủ thuyết khác
đều là tà đạo". (Thích
Nhất Hạnh, "Ðường Xưa Mây
Trắng", trang 198).
Tiếc thay, đến đầu
thế kỷ 21 mà vẫn còn nhiều
người chưa nhìn thấy những
cái độc hại đó vì họ
bị che phủ bởi những quyền
lợi cá nhân và đảng phái.
Cũng có nhiều người
đã ý thức được
sự sai lầm của ý thức hệ
bản thân mình do ảnh hưởng
của ý thức hệ trong thời
đại mới qua, nhưng vẫn chưa
thấy được những sai lầm
căn bản của ý thức hệ đó
vì chúng bị che phủ bởi những
chiến thắng quân sự trong quá
khứ.
2. Phong tục tập quán.
Phong tục tập quán của
xã hội chung quanh có ảnh hưởng
vô cùng lớn lao trên ý thức
hệ cá nhân. Sinh ra trong một môi trường
tôn giáo nào đó, hầu hết
chúng ta sẽ mang ý thức hệ của
tôn giáo đó; sinh ra trong một môi
trường xã hội nào đó,
ý thức hệ của chúng ta chắc
chắn sẽ có hình ảnh của xã
hội đó. Khi sinh sống ở một
môi trường tôn giáo khác,
ở một môi trường xã
hội khác, thông thường chúng
ta bị lạc lõng, cô đơn và
cần một thời gian để có
thể hoà nhập vào môi trường
mới. Thời gian này dài hay
ngắn tùy hoàn cảnh cá nhân,
có nhiều trường hợp suốt
đời không hoà hợp nổi
vì ảnh hưởng của môi trường
cũ đã quá ăn sâu vào
tâm hồn hoặc vì tinh thần bảo
thủ, không chịu chấp nhận những
gì khác biệt với ý thức
hệ của mình.
Khi gặp những hiện tượng
trái ngược với văn hoá,
phong tục của mình, có nhiều người
có những phản ứng vô cùng
vô lý, gây phiền não cho mình
cho người một cách hoàn toàn
vô ích. Cách xưng hô mang tính
cách tôn ti trật tự trong văn hoá
Việt Nam, mặc dầu có tính cách
tế nhị, cũng đã gây nhiều
sự khổ sở vì giận hờn
cho nhiều người Việt khi sống
ở trong xã hội Âu Mỹ.
Tôi đã chứng
kiến trong một tiệc cưới ở
Montréal hồi năm 1989, một ông cựu
Trung Tá Việt Nam Cộng Hoà khi được
người anh trai của cô dâu lại
gần mời mọc:
- Mời anh dùng rượu.
Phản ứng một cách
vô cùng giận dữ, ông ta kêu
tên con trai của ông ta lại nói chuyện
với người đó vì
trong ý thức hệ của ông ta thì
anh trai cô dâu đáng tuổi con cháu
mà dám gọi ông ta bằng anh là
vô cùng hỗn láo. Mọi người
chung quanh phải túm lại can ngăn mới
tạm yên!
Nhiều gia đình Việt
Nam ở nước ngoài quen giáo
dục con cái kính trọng người
lớn, nhưng ở xã hội Âu
Mỹ thì người ta lại chỉ săn
đón nuông chiều con nít. Nhiều
phụ huynh Việt Nam đã bực bội
khi thấy bạn bè của con cái đến
chơi, không chào không hỏi, không
coi người lớn ra gì cả.
Sự tôn trọng tôn
ti trật tự trong văn hoá Việt Nam
tuy có nhiều điểm hay nhưng cũng
gây ra nhiều phiền nhiễu và đôi
khi làm cho tình cảm giữa cha mẹ
với con cái bị xa cách. Quan điểm
là con mình không được đối
xử với mình như là bạn
tuy cũng có cái hay chẳng hạn như
dễ giữ được sự
nề nếp trong gia đình, nhưng cũng
khó phù hợp với hoàn
cảnh xã hội Âu Mỹ, cũng làm
mất đi những tình yêu thân
mật trong gia đình.
Quan niệm về chữ nhàn
trong văn hoá Việt Nam thường dẫn
đến sự lười biếng
lao động chân tay nhất là đối
với những người đàn
ông ngày xưa khi còn là con trai còn
bị cấm không cho vào làm việc
bếp núc. Có người bị
bệnh "nhàn" xâm nhập trầm trọng
trong ý thức hệ nên suy nghĩ rằng
"làm sợ mỏi tay, đi sợ mỏi
chân" tìm mọi cách để luôn
luôn nghỉ ngơi, cho rằng như thế
mới là khôn ngoan. Nhưng thiên
nhiên sinh ra chúng ta để sống, để
vận động chứ không phải để
im lìm như cây cỏ nên sau một thời
gian trốn tránh động chân động
tay thì mọi bắp thịt sẽ teo dần,
và bản thân người đó
sẽ tiến nhanh tiến mạnh tiến vững
chắc về cõi chết!
Quan niệm về sự làm
việc cũng ảnh hưởng lớn
trên ý thức hệ của chúng
ta. Nói đến phải đi làm việc,
nhiều người nghĩ đến con
trâu phải kéo cái cầy nặng
nhọc, nhiều người có cảm
giác mệt mỏi ngay, nhiều người
còn coi như làm việc là nô lệ,
chỉ dành riêng cho những người
thấp cổ bé miệng. Thực ra, làm
việc là sử dụng sức mạnh
vật chất hay tinh thần để thực
hiện một công việc hay để đạt
một kết quả. Như vậy làm việc
bao gồm cả những hành động
giải trí như đi du lịch, đá
banh, chơi cờ v.v... Nói một cách
khác làm việc chính là sống,
làm việc phù hợp với sức
lực của mình, theo ý mình chính
là nguồn vui vô tận của mỗi
người. Dĩ nhiên khi phải làm
việc theo ý người khác thì
đó lại là chuyện đấu
tranh trong cuộc đời. Nếu trong ý
thức hệ của cá nhân, làm
việc là sống, là khoái lạc
thì chắc hẳn chúng ta chẳng bao
giờ còn cảm giác uể oải
khi làm việc vì chúng ta luôn luôn
được động viên bởi
những khoái lạc mà sự làm
việc mang lại.
Quan niệm về sự làm
việc cũng có ảnh hưởng trên
sự lười biếng của cá
nhân. Người ta thường hay
lẫn lộn giữa sự cưỡng
bách làm việc theo ý người
khác và sự làm việc tự
nguyện. Sự nhầm lẫn này dẫn
đến sự lười biếng,
người trong cuộc biết rằng mình
lười nên thất bại nhưng lại
cho rằng không thể thay đổi được
vì lười sướng hơn. Thực
ra thì lười không thể nào
sướng được, vì bản
chất của thiên nhiên trong đó
có con người là luôn luôn
vận động, tiến hoá, nên sự
lười biếng chỉ tạo ra sự
chán nản, sự mất tự tin, sự
tuyệt vọng. Chúng ta không bàn đến
tốt hay xấu, đúng hay sai ở
đây, mà chỉ bàn đến
bản chất của sự làm việc,
nghĩa là tìm mọi cách để
trốn tránh bị người khác
cưỡng bách làm việc cũng
chính là làm việc vậy, chỉ khi
nào hoàn toàn buông trôi mới
là lười biếng. Từ quan
điểm đó thì ngoại trừ
khoảng 6 đến 9 giờ ngủ mỗi
ngày, phần còn lại chúng ta luôn
luôn làm việc để hưởng
thụ, để thực hiện những
gì mình thích. Vì vậy trong những
nước tân tiến có rất
nhiều người mắc một thứ
bệnh mới: bệnh ghiền làm việc
(workaholic), trong khi đó ở những
nước chưa phát triển thì
nhiều người lại cứ mong chữ
nhàn, khi nhàn quá lại cảm thấy
nhàm chán và dễ bị rơi vào
những trò hưởng thụ thiếu
lành mạnh như tứ đổ tường.
Phong tục tập quán đã
góp phần rất lớn trong việc
tạo ra "ý thức hệ" hiện tại
của chúng ta trong khi đó phong tục
tập quán lại là thành quả của
những điều kiện thiên nhiên
và xã hội trong quá khứ. Những
điều kiện đó lại luôn
luôn thay đổi và tiến hoá,
vì vậy sự mâu thuẫn giữa
"ý thức thức hệ" của chúng
ta với điều kiện thiên nhiên
và xã hội hiện tại là chuyện
tất yếu, một thí dụ cụ thể
là nhiều người già trở
thành khó tính, không chịu hoà
hợp với những điều
kiện thiên nhiên và xã hội chung
quanh.
3. Trường học
và gia đình.
Gia đình và trường
học giữ yếu tố quyết định
trong việc hình thành ý thức
hệ cá nhân khi còn trẻ. Nhưng
khi ra đời thì ý thức
hệ đó sẽ dần dần biến
đổi để phù hợp với
những điều kiện phong tục tập
quán của xã hội chung quanh của thời
đại mà cá nhân đó đang
sống. Y thức hệ cá nhân là
kim chỉ nam cho mọi hành động cá
nhân, có thể là duy lý, duy lợi,
duy tin v.v… Khi hành động phù hợp
với ý thức hệ của mình,
người ta thường thấy thoải
mái phấn khởi, khi phải làm
những việc không phù hợp
với ý thức hệ của mình,
con người thường cảm thấy
bực bội, khổ sở, hối hận
v.v… và dĩ nhiên năng suất bị
suy giảm trầm trọng.
Vì vậy nhân dân thường
bị giai cấp thống trị tìm cách
áp đặt những ý thức
hệ để phục vụ quyền lợi
thống trị của họ, chẳng hạn như
trong chế độ phong kiến để bảo
vệ sự bất công, phân biệt
đối xử thì người ta
tìm mọi cách để giáo dục
nhân dân:
- vua là con trời!
- quan là cha mẹ nhân dân!
Trong chế độ phong kiến
mang tính cách công nghiệp, để
bảo vệ chính quyền chuyên chính
thì người ta giáo dục nhân
dân:
- trung với đảng
- suy tôn lãnh tụ
- căm thù bất cứ
ai không phục vụ quyền lợi của
chế độ
- v.v…
Trường học với
mục tiêu để mở mang trí
tuệ con người thường đã
bị sử dụng làm công cụ phục
vụ quyền lợi của chính quyền.
Tại các nước tiên tiến
hiện nay quyền hạn của chính quyền
thường được giới
hạn gắt gao bởi pháp luật trong
thời hạn bốn năm được
nhân dân giao phó, vai trò của trường
học mới dần dần trở thành
công cụ để mở mang trí tuệ
cho nhân dân.
Thay lời kết.
Mọi hành động và
thái độ của chúng ta đều
lệ thuộc vào "ý thức hệ"
của bản thân mình. Ngay cả hạnh
phúc của chúng ta cũng hoàn toàn
lệ thuộc vào ý thức hệ đó.
Nếu ý thức hệ cá nhân
của chúng ta phù hợp với
những điền kiện thiên nhiên
và xã hội chung quanh thì chúng ta
sống tươi vui hạnh phúc. Trong trường
hợp ngược lại thì chúng
ta chỉ thấy "đời là bể
khổ".
Những điều kiện
gia đình, trường học, xã
hội, thời đại trong quá khứ
đã tạo nên ý thức hệ
hiện tại trong mỗi chúng ta. Những
điều kiện này lại tiến hóa
nhanh hay chậm tùy hoàn cảnh từng
cá nhân. Riêng đối với
những người đã hơn
một lần phải vĩnh biệt quê hương
thì những điều kiện đó
biến đổi tương đương
với những biến đổi của
hàng thế kỷ trong lịch sử, và
vì vậy ý thức hệ cá nhân
thường khó có thể phù
hợp với những điều
kiện hiện tại của thiên nhiên và
xã hội chung quanh.
Một khi ý thức hệ
cá nhân không còn phù hợp
với những điều kiện thiên
nhiên và xã hội chung quanh thì chỉ
có "giã từ ý thức hệ"
mới có thể sống tươi vui
hạnh phúc. "Giã từ ý thức
hệ" nghĩa là không tin một cách
mù quáng vào bất cứ chủ
thuyết nào, bất cứ một hệ
thống triết lý đạo đức
nào (chẳng hạn như: nhân chi sơ
tính bản thiện, trai thì trung hiếu
làm đầu, trung với đảng,
hiếu với dân v.v…), để dần
dần tạo nên một ý thức
hệ mới uyển chuyển hơn để
có thể phù hợp hơn với
thiên nhiên và xã hội chung quanh,
để có thể sống hài hoà
hạnh phúc với mọi người.
Vạn vật luôn luôn theo
một chu trình sinh ra, tồn tại rồi hoại
diệt, kể cả ý thức hệ cá
nhân của chúng ta. Chúng ta có thể
dùng ý thức hệ để phục
vụ hạnh phúc của chúng ta và
không nên để nó gây ra những
phiền não, khổ đau vô ích.
Phó Thường Dân
Tháng 5, năm 2002
|