Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone+Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Nguyễn Thanh Hoàng
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài  Mới  Nhất
CON VỊT



Tác giả Trần Gia Phụng.
In lần thứ 2 - 28CAN$/22US$


Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh - Tái bản lần 2.
35CAN$/25US$ *


Tác giả Bùi Ngọc Tấn.
25CAN$/20US$
(Ở Mỹ bán 35US$).

* Giá bán kể cả cước phí.
Liên lạc: NS Việt-Nam.




Các tập thơ chiến đấu của 
Lê Khắc Anh Hào 
(và Ý Yên, Trần Thúc Vũ).

Sáng Tác Của Phó Thường Dân

Giã từ ý thức hệ

Lời nói đầu: Nói đến ý thức hệ, ai ai cũng nghĩ đến những chuyện lớn lao dành riêng cho những nhà khảo cứu. Nhưng trong phạm vi bài này tác giả chỉ muốn bàn đến những chuyện nhỏ bé: ý thức hệ của người thường dân, người lao động trí não hay tay chân bình thường. Dù muốn dù không, trong cuộc sống mỗi cá nhân, chúng ta đều bị chi phối nặng nề bởi ý thức hệ của bản thân mình. Có người phủ nhận sự hiện hữu của ý thức hệ trong tâm hồn mình, chỉ muốn nói đến những chuyện vật chất thực tế. Nhưng thái độ đó lại chính là triết lý của kẻ đó, chính là ý thức hệ của kẻ đó. Triết lý của mỗi cá nhân hay ý thức hệ của mỗi cá nhân có thể vô cùng đơn giản như triết lý của đứa trẻ sơ sinh: "con có khóc mẹ mới cho bú", có thể vô cùng huyền bí và phức tạp như triết lý của một số tôn giáo. Triết lý có thể cần thiết để giải quyết những chuyện hàng ngày chẳng hạn như những triết lý được diễn tả dưới dạng châm ngôn: "miếng ngon ăn ít, ngon lâu", "thất bại là mẹ thành công","đói cho sạch rách cho thơm" v.v…. Triết lý có thể đảo lộn cả lịch sử thế giới như chủ nghĩa Mác trong thế kỷ vừa qua. Nhưng những triết lý cao siêu nhất lại chính là những triết lý đơn giản nhất, là những tấm biển chỉ đường cho chúng ta sống trong tươi vui hạnh phúc, trong sự hãnh diện về bản thân mình, trong sự hài hoà với thiên nhiên và xã hội chung quanh. Từ quan điểm đó chúng ta có thể nghĩ rằng nếu độc giả nào đọc kỹ bài này mà không hiểu thì không phải là độc giả đó không rành về triết lý mà là vì tác giả còn kém cỏi trong vấn đề diễn đạt ý tưởng của mình.

Một khi ý thức hệ trong tâm hồn của chúng ta không còn phù hợp với những điều kiện thiên nhiên và xã hội chung quanh thì "giã từ ý thức hệ" có lẽ là con đường duy nhất để có thể sống tươi vui, hạnh phúc, hài hoà với thiên nhiên và xã hội chung quanh. Nhưng muốn "giã từ ý thức hệ" thì trước hết chúng ta cần xét qua những yếu tố tạo ra ý thức hệ của bản thân mình.

Phần 1: Những yếu tố tạo ra ý thức hệ của mỗi cá nhân.

1. Gia đình.

Từ lúc lọt lòng mẹ, những ý thức hệ dần dần xuất hiện trong tâm hồn con người. Khi đói thì khóc là phản ứng thiên nhiên của đứa trẻ, khi khóc thì được cho bú, dần dần đứa trẻ nghĩ là có khóc mới được bú. Khi trí óc đứa bé bắt đầu phát triển thì chính hoàn cảnh gia đình là trường học đầu tiên. Nếu sinh ra trong một gia đình có văn hoá cao thì đứa trẻ sẽ được tiếp thu nền văn hoá đó trong sự phát triển ý thức hệ của bản thân. Ngược lại, nếu sinh ra trong một gia đình có văn hoá quá thấp thì sự phát triển ý thức hệ của đứa trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn.

2. Nhà trường.

Nhà trường là nơi xây dựng trí tuệ cho chúng ta, tạo cho chúng ta những kiến thức về văn hoá, về khoa học. Những điều chúng ta học hỏi được ở nhà trường dần dần tạo thành những khả năng để suy luận, để quyết định, để thực hiện, để hoàn thành một công việc được giao phó. Nói một cách khác, nhà trường đóng góp một cách tích cực trong việc xây dựng ý thức hệ của chúng ta. Mục đích của nhà trường là để mở mang trí tuệ cho nhân dân, khi sự mở mang trí tuệ đó không phù hợp với quyền lợi của giai cấp thống trị thì chính quyền thường can thiệp một cách thô bạo vào để củng cố vai trò lãnh đạo của mình.

3. Phong tục tập quán chung quanh ta.

Những phong tục và tập quán của xã hội chung quanh ta cũng đóng góp rất nhiều trong việc hình thành ý thức hệ của bản thân chúng ta. Những phong tục và tập quán làm cho con người thấy cuộc sống có ý nghĩa, có văn hoá, có văn minh v.v... Nhưng khi những điều kiện xã hội thay đổi quá mau, nhiều phong tục và tập quán không còn phù hợp nữa, có thể trở thành hủ tục, có thể đem lại những đau đớn vô ích cho con người. Chẳng hạn như những người quen với phong tục "kính lão đắc thọ" sống trong xã hội Âu Mỹ có khi có cảm giác như bị những người trẻ tuổi khinh thường.

4. Thời đại.

Thời đại có một ảnh hưởng thống trị trên ý thức hệ của từng cá nhân, chẳng hạn như :

- Một người sống ở thời đại nguyên thủy thì ý thức hệ về xã hội, về gia đình, về văn hoá dĩ nhiên lệ thuộc vào ý thức hệ của thời đại nguyên thủy của loài người.

- Một người sống ở thời đại nô lệ thì không coi chuyện bắt người khác làm nô lệ là một tội ác mà coi như là chuyện thường tình.

- Một người sống ở thời đại phong kiến thì coi chuyện "trung hiếu, tiết nghĩa" như những khuôn vàng thước ngọc.

- Một người sống ở thời đại phát triển tư bản chủ nghĩa coi kinh tế thị trường là chân lý của thời đại.

- V.v…

Phần 2. Giã từ ý thức hệ.

Nếu ý thức hệ của cá nhân phù hợp với những điều kiện xã hội chung quanh thì cuộc sống của chúng ta hài hoà và hạnh phúc. Nhưng những điều kiện xã hội lại luôn luôn tiến hoá nên sự hài hoà đó sẽ vô cùng ngắn hạn, sự mâu thuẫn dần dần xuất hiện và nếu ý thức hệ cá nhân không tiến hoá kịp với đà tiến hoá của xã hội thì chúng ta có thể trở thành khó tính, thiếu cởi mở và có thể bị hoàn toàn cô lập với xã hội chung quanh ta. Và khi đó vấn đề "giã từ ý thức hệ" trở thành vô cùng cần thiết.

Vì "ý thức hệ" của cá nhân được cấu tạo bởi bốn yếu tố nói trên, nên khi muốn "giã từ ý thức hệ" chúng ta cần loại bỏ từng yếu tố cấu thành nó.

1. Thời đại.

Mấy chục năm qua, vì hoàn cảnh lịch sử, ý thức hệ của hàng triệu người Việt Nam bị thống trị bởi ý thức hệ cộng sản đã làm cho họ đối xử tàn bạo đối với đồng bào ruột thịt mà tuyệt đại đa số là nạn nhân của cuộc chiến tranh "ý thức hệ" thế giới.

Sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống cộng sản thế giới đã làm cho một số người thức tỉnh, nhưng không đủ khả năng tự giải phóng khỏi ý thức hệ đó. Năm 1995, ông Hà Sĩ Phu đã viết bài "Chia tay ý thức hệ". Bài này đã giúp cho hàng triệu người dứt khoát được với "ý thức hệ cộng sản" và cũng giúp cho nhiều người hiểu rõ hơn đâu là chỗ sai của "ý thức hệ" đó để không còn có những mặc cảm sai lầm về việc đã vĩnh biệt quê hương, về việc đã không chấp nhận chết ở quê hương. Bài lý luận đó đã chứng minh được rằng:

- Triết học Mác Lê không có phương pháp luận. Tác giả đã vạch ra được tính chất tiêu cực, tính chất duy tâm và siêu hình của "duy vật lịch sử", giáo điều căn bản của cuộc cách mạng vô sản thế giới trong thế kỷ vừa qua. Tác giả đã chứng minh được tính chất phi khoa học của chủ nghĩa và bản chất lạc hậu, phản lại sự vận động của xã hội (phản động) của các nhà lãnh tụ đi theo chủ nghĩa đó.

- Tư duy chính trị Mác xít chẳng qua chỉ là tư duy đức trị phong kiến mang mầu sắc công nghiệp. Ðạo đức là giá trị cao quý của con người nhưng đức trị luôn luôn tạo ra các chính trị gia đạo đức giả, kẻ thù muôn đời của các tầng lớp nhân dân mọi dân tộc. Chủ nghĩa xã hội vì vậy chẳng qua chỉ là sự kéo dài của chế độ phong kiến. Cái chất phong kiến gia trưởng chưa kịp tẩy rửa bởi một nền dân chủ đã tìm thấy chỗ đứng rất ngon lành trong hệ thống chuyên chính "dân chủ tập trung".

- Tầm văn hoá thấp của trào lưu cộng sản. Sau 30 tháng tư năm 1975, nhân dân miền nam đã được chứng kiến nền văn hoá của các cán ngố, giai cấp thống trị dần dần bị đồng hoá bởi văn hoá của giai cấp bị trị.

Vì những ưu điểm nói trên, có nhiều người đã cho rằng "Hà Sĩ Phu là niềm tự hào của triết học Việt Nam".

Cuộc chiến ý thức hệ quốc tế trong thế kỷ vừa qua lấy Việt Nam làm bãi chiến trường nên ý thức hệ của mỗi người Việt Nam đều bị ảnh hưởng ít hoặc nhiều tùy theo hoàn cảnh gia đình và cá nhân. Người ta thường cho rằng đó là cuộc chiến tranh một mất một còn giữa "chủ nghĩa xã hội" và "chủ nghĩa tư bản". Nhưng thực ra chỉ có "chủ nghĩa xã hội" mới là một chủ nghĩa, dựa trên triết lý (hoặc ý thức hệ) Mác Lê; trong khi đó "chủ nghĩa tư bản" không phải là một chủ nghĩa mà chỉ là sự phát triển tất yếu của nền kinh tế của nhân loại. Vì vậy trong cuộc chiến ý thức hệ vừa qua, những người ở phe tự do dù biết là mình đúng nhưng lại có mặc cảm về vấn đề lý luận "ý thức hệ". Hà Sĩ Phu đã được nhiều người ca tụng vì đã giúp họ xoá bỏ được những mặc cảm đó.

Ði ngược lại sự phát triển tất yếu của nền kinh tế của nhân loại nên sau khi đạt được đỉnh cao của chiến thắng bằng sự mất mát lớn nhất của dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản đã tự động tan vỡ tự bên trong mà không phải là do những hành động của phe "tư bản chủ nghĩa".

Hai mươi lăm thế kỷ trước đức Phật đã nhìn thấy cái độc hại của những chủ nghĩa, chủ thuyết:

"Một khi đã bị kẹt vào một chủ thuyết rồi thì người ta mất hết tự do. Người ta trở nên độc đoán, cho rằng chỉ có chủ thuyết của mình mới là chân lý còn tất cả các chủ thuyết khác đều là tà đạo". (Thích Nhất Hạnh, "Ðường Xưa Mây Trắng", trang 198).

Tiếc thay, đến đầu thế kỷ 21 mà vẫn còn nhiều người chưa nhìn thấy những cái độc hại đó vì họ bị che phủ bởi những quyền lợi cá nhân và đảng phái.

Cũng có nhiều người đã ý thức được sự sai lầm của ý thức hệ bản thân mình do ảnh hưởng của ý thức hệ trong thời đại mới qua, nhưng vẫn chưa thấy được những sai lầm căn bản của ý thức hệ đó vì chúng bị che phủ bởi những chiến thắng quân sự trong quá khứ.

2. Phong tục tập quán.

Phong tục tập quán của xã hội chung quanh có ảnh hưởng vô cùng lớn lao trên ý thức hệ cá nhân. Sinh ra trong một môi trường tôn giáo nào đó, hầu hết chúng ta sẽ mang ý thức hệ của tôn giáo đó; sinh ra trong một môi trường xã hội nào đó, ý thức hệ của chúng ta chắc chắn sẽ có hình ảnh của xã hội đó. Khi sinh sống ở một môi trường tôn giáo khác, ở một môi trường xã hội khác, thông thường chúng ta bị lạc lõng, cô đơn và cần một thời gian để có thể hoà nhập vào môi trường mới. Thời gian này dài hay ngắn tùy hoàn cảnh cá nhân, có nhiều trường hợp suốt đời không hoà hợp nổi vì ảnh hưởng của môi trường cũ đã quá ăn sâu vào tâm hồn hoặc vì tinh thần bảo thủ, không chịu chấp nhận những gì khác biệt với ý thức hệ của mình.

Khi gặp những hiện tượng trái ngược với văn hoá, phong tục của mình, có nhiều người có những phản ứng vô cùng vô lý, gây phiền não cho mình cho người một cách hoàn toàn vô ích. Cách xưng hô mang tính cách tôn ti trật tự trong văn hoá Việt Nam, mặc dầu có tính cách tế nhị, cũng đã gây nhiều sự khổ sở vì giận hờn cho nhiều người Việt khi sống ở trong xã hội Âu Mỹ.

Tôi đã chứng kiến trong một tiệc cưới ở Montréal hồi năm 1989, một ông cựu Trung Tá Việt Nam Cộng Hoà khi được người anh trai của cô dâu lại gần mời mọc:

- Mời anh dùng rượu.

Phản ứng một cách vô cùng giận dữ, ông ta kêu tên con trai của ông ta lại nói chuyện với người đó vì trong ý thức hệ của ông ta thì anh trai cô dâu đáng tuổi con cháu mà dám gọi ông ta bằng anh là vô cùng hỗn láo. Mọi người chung quanh phải túm lại can ngăn mới tạm yên!

Nhiều gia đình Việt Nam ở nước ngoài quen giáo dục con cái kính trọng người lớn, nhưng ở xã hội Âu Mỹ thì người ta lại chỉ săn đón nuông chiều con nít. Nhiều phụ huynh Việt Nam đã bực bội khi thấy bạn bè của con cái đến chơi, không chào không hỏi, không coi người lớn ra gì cả.

Sự tôn trọng tôn ti trật tự trong văn hoá Việt Nam tuy có nhiều điểm hay nhưng cũng gây ra nhiều phiền nhiễu và đôi khi làm cho tình cảm giữa cha mẹ với con cái bị xa cách. Quan điểm là con mình không được đối xử với mình như là bạn tuy cũng có cái hay chẳng hạn như dễ giữ được sự nề nếp trong gia đình, nhưng cũng khó phù hợp với hoàn cảnh xã hội Âu Mỹ, cũng làm mất đi những tình yêu thân mật trong gia đình.

Quan niệm về chữ nhàn trong văn hoá Việt Nam thường dẫn đến sự lười biếng lao động chân tay nhất là đối với những người đàn ông ngày xưa khi còn là con trai còn bị cấm không cho vào làm việc bếp núc. Có người bị bệnh "nhàn" xâm nhập trầm trọng trong ý thức hệ nên suy nghĩ rằng "làm sợ mỏi tay, đi sợ mỏi chân" tìm mọi cách để luôn luôn nghỉ ngơi, cho rằng như thế mới là khôn ngoan. Nhưng thiên nhiên sinh ra chúng ta để sống, để vận động chứ không phải để im lìm như cây cỏ nên sau một thời gian trốn tránh động chân động tay thì mọi bắp thịt sẽ teo dần, và bản thân người đó sẽ tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc về cõi chết!

Quan niệm về sự làm việc cũng ảnh hưởng lớn trên ý thức hệ của chúng ta. Nói đến phải đi làm việc, nhiều người nghĩ đến con trâu phải kéo cái cầy nặng nhọc, nhiều người có cảm giác mệt mỏi ngay, nhiều người còn coi như làm việc là nô lệ, chỉ dành riêng cho những người thấp cổ bé miệng. Thực ra, làm việc là sử dụng sức mạnh vật chất hay tinh thần để thực hiện một công việc hay để đạt một kết quả. Như vậy làm việc bao gồm cả những hành động giải trí như đi du lịch, đá banh, chơi cờ v.v... Nói một cách khác làm việc chính là sống, làm việc phù hợp với sức lực của mình, theo ý mình chính là nguồn vui vô tận của mỗi người. Dĩ nhiên khi phải làm việc theo ý người khác thì đó lại là chuyện đấu tranh trong cuộc đời. Nếu trong ý thức hệ của cá nhân, làm việc là sống, là khoái lạc thì chắc hẳn chúng ta chẳng bao giờ còn cảm giác uể oải khi làm việc vì chúng ta luôn luôn được động viên bởi những khoái lạc mà sự làm việc mang lại.

Quan niệm về sự làm việc cũng có ảnh hưởng trên sự lười biếng của cá nhân. Người ta thường hay lẫn lộn giữa sự cưỡng bách làm việc theo ý người khác và sự làm việc tự nguyện. Sự nhầm lẫn này dẫn đến sự lười biếng, người trong cuộc biết rằng mình lười nên thất bại nhưng lại cho rằng không thể thay đổi được vì lười sướng hơn. Thực ra thì lười không thể nào sướng được, vì bản chất của thiên nhiên trong đó có con người là luôn luôn vận động, tiến hoá, nên sự lười biếng chỉ tạo ra sự chán nản, sự mất tự tin, sự tuyệt vọng. Chúng ta không bàn đến tốt hay xấu, đúng hay sai ở đây, mà chỉ bàn đến bản chất của sự làm việc, nghĩa là tìm mọi cách để trốn tránh bị người khác cưỡng bách làm việc cũng chính là làm việc vậy, chỉ khi nào hoàn toàn buông trôi mới là lười biếng. Từ quan điểm đó thì ngoại trừ khoảng 6 đến 9 giờ ngủ mỗi ngày, phần còn lại chúng ta luôn luôn làm việc để hưởng thụ, để thực hiện những gì mình thích. Vì vậy trong những nước tân tiến có rất nhiều người mắc một thứ bệnh mới: bệnh ghiền làm việc (workaholic), trong khi đó ở những nước chưa phát triển thì nhiều người lại cứ mong chữ nhàn, khi nhàn quá lại cảm thấy nhàm chán và dễ bị rơi vào những trò hưởng thụ thiếu lành mạnh như tứ đổ tường.

Phong tục tập quán đã góp phần rất lớn trong việc tạo ra "ý thức hệ" hiện tại của chúng ta trong khi đó phong tục tập quán lại là thành quả của những điều kiện thiên nhiên và xã hội trong quá khứ. Những điều kiện đó lại luôn luôn thay đổi và tiến hoá, vì vậy sự mâu thuẫn giữa "ý thức thức hệ" của chúng ta với điều kiện thiên nhiên và xã hội hiện tại là chuyện tất yếu, một thí dụ cụ thể là nhiều người già trở thành khó tính, không chịu hoà hợp với những điều kiện thiên nhiên và xã hội chung quanh.

3. Trường học và gia đình.

Gia đình và trường học giữ yếu tố quyết định trong việc hình thành ý thức hệ cá nhân khi còn trẻ. Nhưng khi ra đời thì ý thức hệ đó sẽ dần dần biến đổi để phù hợp với những điều kiện phong tục tập quán của xã hội chung quanh của thời đại mà cá nhân đó đang sống. Y thức hệ cá nhân là kim chỉ nam cho mọi hành động cá nhân, có thể là duy lý, duy lợi, duy tin v.v… Khi hành động phù hợp với ý thức hệ của mình, người ta thường thấy thoải mái phấn khởi, khi phải làm những việc không phù hợp với ý thức hệ của mình, con người thường cảm thấy bực bội, khổ sở, hối hận v.v… và dĩ nhiên năng suất bị suy giảm trầm trọng.

Vì vậy nhân dân thường bị giai cấp thống trị tìm cách áp đặt những ý thức hệ để phục vụ quyền lợi thống trị của họ, chẳng hạn như trong chế độ phong kiến để bảo vệ sự bất công, phân biệt đối xử thì người ta tìm mọi cách để giáo dục nhân dân:

- vua là con trời!

- quan là cha mẹ nhân dân!

Trong chế độ phong kiến mang tính cách công nghiệp, để bảo vệ chính quyền chuyên chính thì người ta giáo dục nhân dân:

- trung với đảng

- suy tôn lãnh tụ

- căm thù bất cứ ai không phục vụ quyền lợi của chế độ

- v.v…

Trường học với mục tiêu để mở mang trí tuệ con người thường đã bị sử dụng làm công cụ phục vụ quyền lợi của chính quyền. Tại các nước tiên tiến hiện nay quyền hạn của chính quyền thường được giới hạn gắt gao bởi pháp luật trong thời hạn bốn năm được nhân dân giao phó, vai trò của trường học mới dần dần trở thành công cụ để mở mang trí tuệ cho nhân dân.

Thay lời kết.

Mọi hành động và thái độ của chúng ta đều lệ thuộc vào "ý thức hệ" của bản thân mình. Ngay cả hạnh phúc của chúng ta cũng hoàn toàn lệ thuộc vào ý thức hệ đó. Nếu ý thức hệ cá nhân của chúng ta phù hợp với những điền kiện thiên nhiên và xã hội chung quanh thì chúng ta sống tươi vui hạnh phúc. Trong trường hợp ngược lại thì chúng ta chỉ thấy "đời là bể khổ".

Những điều kiện gia đình, trường học, xã hội, thời đại trong quá khứ đã tạo nên ý thức hệ hiện tại trong mỗi chúng ta. Những điều kiện này lại tiến hóa nhanh hay chậm tùy hoàn cảnh từng cá nhân. Riêng đối với những người đã hơn một lần phải vĩnh biệt quê hương thì những điều kiện đó biến đổi tương đương với những biến đổi của hàng thế kỷ trong lịch sử, và vì vậy ý thức hệ cá nhân thường khó có thể phù hợp với những điều kiện hiện tại của thiên nhiên và xã hội chung quanh.

Một khi ý thức hệ cá nhân không còn phù hợp với những điều kiện thiên nhiên và xã hội chung quanh thì chỉ có "giã từ ý thức hệ" mới có thể sống tươi vui hạnh phúc. "Giã từ ý thức hệ" nghĩa là không tin một cách mù quáng vào bất cứ chủ thuyết nào, bất cứ một hệ thống triết lý đạo đức nào (chẳng hạn như: nhân chi sơ tính bản thiện, trai thì trung hiếu làm đầu, trung với đảng, hiếu với dân v.v…), để dần dần tạo nên một ý thức hệ mới uyển chuyển hơn để có thể phù hợp hơn với thiên nhiên và xã hội chung quanh, để có thể sống hài hoà hạnh phúc với mọi người.

Vạn vật luôn luôn theo một chu trình sinh ra, tồn tại rồi hoại diệt, kể cả ý thức hệ cá nhân của chúng ta. Chúng ta có thể dùng ý thức hệ để phục vụ hạnh phúc của chúng ta và không nên để nó gây ra những phiền não, khổ đau vô ích.

Phó Thường Dân
Tháng 5, năm 2002


Trang bìa 
Ðầu trang