Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone&Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM: (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ 
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Phan Nhật Nam
Phạm Văn Nhàn
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài Mới Nhất
CON VỊT


 

Sáng Tác Của
Phó Thường Dân

Giã từ bể khổ (2)

4.8) Sống lạc quan.

Vui sống, vui với hiện tại, vui với những gì mình có trong tầm tay; tìm vui trong công việc phải làm, tìm vui trong nhiệm vụ phải thực hiện;  biến việc làm thành niềm vui sáng tạo, thành niềm vui sống động, thành  sự thực hiện các mục đích. Ðó là một quan điểm sống, là một cách sống, một cách hành động để có hạnh phúc ngay khi đang hành động. Ðó cũng là một phương tiện hữu hiệu trong việc hoá giải các cảm xúc tiêu cực " thù hận, giận hờn, buồn bã, lo âu, sợ hãi ". Sống vui giúp ta dễ tha thứ, dễ xoá bỏ thù hận, giận hờn; sống vui thì ta khó có thể có thì giờ để buồn bã, lo âu, sợ hãi vô cớ. Một thí dụ cụ thể: lau bàn sau khi ăn cơm xong; một người nặng đầu óc phong kiến cho rằng lau bàn không phải là việc xứng đáng để mình làm, nhưng vì hoàn cảnh bắt buộc phải làm nên thấy khổ sở mà phải làm; một người vui sống thì thấy sống sạch sẽ là một trình độ văn minh, lau bàn là một hành động văn minh, ăn ở dơ dáy mới là việc đáng tránh. Nói như vậy không phải là để người khác lạm dụng sự vui sống cuả mình cho những ý đồ đen tối cuả họ, mà trái lại để sự vui sống giúp ta sáng suốt hơn để đấu tranh với chúng.

Vui sống là một cách sống với một quan điểm lạc quan, thấy rõ giá trị cuả sự sống là sự vận động, sự đóng góp, sự hưởng thụ, sự tươi cười; khác hẳn với thái độ thở vắn than dài, thương vay khóc mướn, lấy hình thức đau thương làm cứu cánh cuộc đời.

Quan điểm vui sống tượng trưng cho một trình độ phát triển cao cuả đời sống con người. Trong chế độ phong kiến, sự phân biệt người trên kẻ dưới rất là quan trọng; người trên thì luôn luôn có quan điểm: "lập nghiêm ai dám tới gần" để cho người khác nể sợ mình. Sự xa cách giữa người có quyền và nhân dân vô cùng rõ rệt, sự xa cách của các giai cấp trong xã hội, người giầu, kẻ nghèo, người trên kẻ dưới làm cho cuộc sống luôn luôn khép
kín, những tình cảm thật thường bị che đậy. Trong quan hệ phong kiến mối liên hệ giữa người với người là mối liên hệ chủ tớ, mối liên hệ người trên kẻ dưới, mối liên hệ không bình đẳng. Mối liên hệ này có thể cần thiết trong một xã hội lạc hậu, nghèo đói. Nhưng khi con người đã đủ ăn đủ mặc thì mối liên hệ này trở thành lỗi thời, phản động, cản trở hạnh phúc cuả con người.

Nói đến vui sống, có người có phản ứng tiêu cực:"ai mà chẳng muốn vui sống nhưng mà cuộc đời đầy dẫy khó khăn, làm sao mà vui cho được?". Ðể xua đuổi khỏi tư duy những ý tưởng bi quan đó, ta cần dựa trên vài ý niệm căn bản sau đây:

- mọi người đều bình đẳng, người này nhất thời hơn kẻ khác chẳng qua vì hoàn cảnh khác nhau, mỗi người đều có những năng khiếu khác nhau. Nếu năng khiếu cá nhân phù hợp với nhu cầu xã hội thì con người được trọng dụng, có thể trở thành nổi tiếng, thành anh hùng, thành nhân vật quan trọng trong lịch sử v.v...Ngược lại, thì có thể bị đói rách, khinh khi, tù đầy, hành hạ v.v...

- quan hệ giữa người với người phải là "tương thân tương kính" như quan niệm bằng hữu ngày xưa cuả văn hoá phương đông cũng như quan niệm kính trọng lẫn nhau cuả phương tây.

- Con người có; thể tạo "cực lạc hay thiên đàng" ngay tại trần gian, ngay tại cuộc sống hôm nay, một cách thực tế, không viển vông mộng tưởng. Những kẻ bạo tàn đã tạo được "địa ngục hay cực hình" ngay trên trái đất, cớ sao chúng ta không xây được "lâu đài hạnh phúc" cho chính chúng ta?

- Nụ cười không những là biểu hiệu cuả niềm vui mà còn có thể làm tăng sức khoẻ tinh thần và vật chất cuả con người.

- Nói chuyện khôi hài (joke), thường bị giai cấp phong kiến và bọn độc tài ngăn cấm, phải là một hành động cần thiết cho cuộc sống hàng ngày để ta tăng cường nội lực, tăng cường phẩm chất cuả đời sống.

- Bất kỳ ai cũng có thể tự luyện cho mình có quan điểm vui sống. Nếu chẳng may ta bị nhồi nhét vào đầu những tư tưởng yếm thế "đời là bể khổ", những quan điểm tu hành khổ hạnh để được hưởng ơn trên hay được hưởng phúc trong kiếp sau thì chỉ có sự tự cải tạo tư duy mới đem lại được quan điểm vui sống.

- Hạnh phúc là môt trạng thái thoải mái trong nội tâm. Những sự thành công có thể đem lại những giây phút thoải mái trong nội tâm. Tuy nhiên, thời gian này thường rất ngắn ngủi, và sau đó kẻ thành công lại thấy nhàm chán về những thành quả đã đạt được và lại đòi hỏi những gì ngoài tầm tay để rơi vào tình trạng lo âu, nhức nhối. Sự vui sống thì lại có thể luôn luôn đem lại trạng thái thoải mái trong nội tâm, giúp ta dễ dàng hoá giải các cảm xúc tiêu cực do các hiện tượng khách quan gây ra; vì dù trong hoàn cảnh nào ta vẫn
có thể có những mặt tích cực, vẫn có thể vui sống thời gian còn lại của đời ta.

Vui sống là một quan niệm sống phù hợp với tình trạng phát triển cao của con người. Vui sống là một phương tiện hữu hiệu để hoá giải các cảm xúc tiêu cực. Vui sống là xây dựng thiên đàng hay cực lạc trên ngay trái đất này bằng hành động xây dựng, bằng tình thương, bằng bác ái, từ bi hỷ xả; là xây dựng thiên đàng hay cực lạc cho chính mình và nếu có thể giúp đỡ ngườI khác xây dựng cho chính họ. Quan điểm vui sống tuyệt đối chối bỏ sự xây
dựng thiên đàng hay cực lạc hay xã hội lý tưởng bằng chiến tranh, thù hận, bằng hành động người bóc lột người, người hành hạ người. Quan điểm vui sống tuyệt đối chối bỏ sự xây dựng hạnh phúc bằng áp đặt tư tưởng, áp đặt niềm tin, áp đặt mọi hình thức độc tài, áp đặt một mô hình xã hội nào đó. Quan điểm vui sống liên hệ đến nội tâm cuả từng cá nhân trong tập thể cuả loài người.

Nói tóm lại, vui sống không những là một biện pháp hoá giải hữu hiệu các cảm xúc tiêu cực mà còn nâng cao phẩm chất của đời sống.

4.9) Làm việc.

Nói đến phải đi làm việc, nhiều người có cảm giác mệt mỏi ngay, nhiều người còn coi như làm việc là nô lệ, chỉ dành riêng cho những người thấp cổ bé miệng. Những nguyên nhân của những cảm xúc và quan điểm tiêu cực ấy tồn tại từ lâu đời, chẳng hạn như:

- Sự cưỡng bức lao động trong các chế độ nô lệ và phong kiến.

- Sự đấu tranh quá gay gắt giữa người với người từ chế độ nô lệ đến chế độ phong kiến, qua chế độ tư bản cho đến ngày nay.

- Sự bóc lột giữa người với người trong việc mưu sinh, trong việc tranh dành quyền hạn và những phương tiện vật chất.

- Sự lưà gạt cuả những kẻ có quyền, có thế.
- Những " tư tưởng đạo đức giả " bảo vệ kẻ có quyền.
- Phản ứng tiêu cực cuả những người bị bóc lột áp bức.

- Sự mệt mỏi tinh thần và thể chất do sự làm việc gây ra. Người lao động bị héo mòn vì không được bồi dưỡng đầy đủ.

Những ảnh hưởng cuả sự làm việc trên cảm xúc cá nhân có nhiều dạng khác nhau:

- thù hận: khi con người bị bắt buộc phải làm việc theo ý người khác để sinh nhai hay để sống còn, hay sợ bị trừng phạt;

- giận hờn: khi con nngười bị bắt làm việc theo những phương pháp ngu xuẩn, không có sự sáng tạo;

- buồn bã: khi con người phải làm những việc mà mình không thích;

- lo âu: khi con người không hiểu rõ công việc mình phải làm, không thấy có phương hướng rõ rệt;

- sợ hãi: khi con người bị bắt buộc phải làm những chuyện nguy hiểm,
chẳng hạn như tấn công địch thủ ngoài chiến trường;

- yêu thương: khi ta làm một việc từ thiện, khi ta giúp đỡ người khác đang gặp khó khăn;
- vồn vã: khi ta có một việc làm thích hợp với ta;
- vui tươi: khi việc làm đem lại hạnh phúc;
- thoải mái: khi trong việc làm có nhiều thuận lợi, dễ dàng;
- tự tin: khi việc làm đem lại cho ta những khả năng mình mong muốn.

Thực ra, làm việc là xử dụng sức mạnh vật chất hay tinh thần để thực hiện một công việc hay để đạt một kết quả. Như vậy làm việc bao gồm cả những hành động giải trí như đi du lịch, đá banh, chơi cờ v.v...Làm việc có thể là lao động chân tay như lau một cái bàn, có thể là lao động trí óc như thiết kế một cái cầu; nhưng thực ra công việc nào cũng cần cả lao động chân tay lẫn lao động trí óc, như việc lau bàn cũng cần quyết định lau chỗ nào, lau bằng gì; và việc thiết kế một cây cầu thì cũng phải vẽ đường thẳng, vẽ đường xiên v.v...Nói chung, việc nào cũng cần cả sức mạnh vật chất lẫn tinh thần, chỉ có khác là ở mức độ khác nhau. Sự khác biệt này đã tạo nên những thành kiến sai lầm về lao động trí óc và lao động chân tay. Sự cách biệt về thù lao giữa các loại công việc cũng thường trầm trọng hoá thành kiến này, nhất là ở các nước chưa kỹ nghệ hoá cao.

Làm việc là một hành động, mà hành động thì thường gây ra cảm xúc. Ðang buồn mà phải làm việc thì chắc là buồn thêm. Như vậy làm việc có thể là một biện pháp để hoá giải các cảm xúc tiêu cực hay không?

Chúng ta cần phân biệt rõ rệt các loại công việc đối với mỗi cá nhân. Ðang buồn mà bắt buộc phải làm công việc mà mình không thích thì chắc chắn là buồn thêm. Ngược lại nếu làm việc gì mà mình thích thì có thể nguôi ngoai nỗi buồn. Khi nóng giận, nếu ta tìm một việc khác để làm thì cũng dễ bớt nóng. Khi lo âu hoặc sợ hãi thì sự làm việc dễ giúp ta quên đi những âu lo, sợ hãi vô cớ. Nói tóm lại, làm một việc mà mình thích có thể giúp hoá giải các cảm xúc tiêu cực, nhất là khi ta hiểu rõ những mặt tích cực cuả sự làm việc.

Chúng ta thử tìm hiểu những mặt tích cực cuả sự làm việc:

- đem lại ấm no cho cá nhân và gia đình;
- cải thiện đời sống vật chất và tinh thần;
- đóng góp cho sự phát triển cuả xã hội loài người;
- đem lại ý nghĩa cho cuộc sống;
- đem lại sự sáng tạo, một yếu tố quan trọng để tạo nên hạnh phúc cuả con người;
- đem lại sự thoả mãn tâm lý;
- làm việc là thể hiện cho sự sống cuả một người, cho giá trị cá nhân cuả người đó;

- làm việc là một sự phối hợp cuả trí óc và chân tay để hoạt động một cách hữu hiệu; làm việc là hoạt động cần thiết cho trí não và tay chân để duy trì và phát triển kỹ năng, để tránh bị thoái hoá, đào thải theo quy luật thiên nhiên;

- chỉ có sự làm việc mới phản ảnh được giá trị thực cuả một người. Dù học thức uyên bác, dù bác ái từ bi, nhưng nếu không làm việc thì cũng chỉ là con số không lớn và có khi còn là ký sinh trùng cuả xã hội. Chỉ có làm việc thì học thức uyên thâm mới có giá trị, chỉ có làm việc thì bác ái từ bi mớI thật là từ bi bác ái. Ngược lại thì chẳng qua chỉ là đống rác trí thức và đạo đức giả. Làm sao ta từ bi bác ái được nếu ta cứ muốn "cuả người phúc ta", cướp công lao động cuả người khác để bố thí cho kẻ nghèo chẳng qua chỉ là một sự lưà gạt!;

- làm việc là một yếu tố quan trọng nhất trong đời sống con người. Chỉ trong làm việc con người mới có sáng tạo, mới thực sự sống một cuộc sống cao hơn loài vật.

Ngày nay, sự cưỡng bách lao động nô lệ đã được xoá bỏ, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt thì những cảm xúc do sự làm việc gây ra đều là do những yếu tố chủ quan mà ra cả. Chúng ta thử tìm hiểu các yếu tố chủ quan gây ra những cảm xúc tiêu cực:

- thành kiến cho rằng sự làm việc là một hình thức cuả người bóc lột người. Thành kiến này có thể làm ta trở thành lười biếng, thoái hoá về tinh thần cũng như về thể chất vì sự thiếu hoạt động;

- thiếu hoạch định: không lượng sức mình, làm những việc không phù hợp với khả năng thể chất và trí tuệ cuả mình có thể gây nên sự thất bại và các cảm xúc tiêu cực;

- lầm lẫn sự trốn việc với năng suất cao: không phải làm gì cả mà vẫn đạt được kết quả có thể cho ta cảm giác là mình khôn ngoan, may mắn hơn người khác; sự thực đó chỉ là lưà người, dối mình; sau một lúc phấn khởi ngắn ngủi sẽ là những cảm xúc lo âu, sợ hãi vì thiếu tự tin trong những thử thách trong tương lai;

- quan điểm về cuộc sống "không làm mà hưởng mới là khôn ngoan". Quan điểm này có thể dẫn đến lười biếng, trốn việc. Sự may mắn có thể cho phép ta không làm mà hưởng chẳng hạn như trúng số độc đắc. Nhưng sự trúng số không nhất thiết biến ta thành ký sinh trùng cuả xã hội, mà trái lại có thể giúp ta có những cơ hội làm những việc tốt hơn, trong lãnh vực mình có khả năng hơn. Những mong muốn "không làm mà hưởng" thường
mãnh liệt khi đời sống vật chất còn nhiều khó khăn;

- ảnh hưởng phong kiến khinh thường lao động tay chân.

Như vậy, những yếu tố chủ quan là những nguyên nhân chính làm chúng ta chán ngán sự làm việc. Thực ra, ngay cả những công việc mà chúng ta không thích mà vẫn phải làm cũng có thể mang lại những lợi ích cho ta, vẫn có thể giúp ta hoá giải các cảm xúc tiêu cực. Ðể tận dụng thành quả cuả sự làm việc, chúng ta cần:

- kiểm soát những yếu tố chủ quan để có thể ngăn chặn những ảnh hưởng xấu cuả sự làm việc trên cảm xúc cá nhân;

- phân tích những nguyên nhân gây ra sự lười biếng và nhìn nhận các mặt tích cực cuả sự làm việc để dần dần loại bỏ những thành kiến sai lầm, dần dần có một quan điểm đúng đắn về sự làm việc.

- dùng sự làm việc để hoá giải các cảm xúc tiêu cực gây ra bởi hoàn cảnh chung quanh và để tạo nên các cảm xúc tích cực mới. 

Nói tóm lại, sự làm việc không những là một biện pháp để hoá giải các cảm xúc tiêu cực mà còn là một phương tiện để ta sáng tạo ra chính cuộc đời của mình

4.10) Tự bảo vệ.

Tại sao tự bảo vệ lại là một biện pháp để hoá giải các cảm xúc tiêu cực?

Thực ra hoá giải các cảm xúc tiêu cực cũng có thể coi như một phương sách tự bảo vệ bởi vì những cảm xúc này có thể gây những thiệt hại lớn lao cho chính chúng ta. Nhưng hoá giải các cảm xúc tiêu cực là một vấn đề vô cùng rộng lớn và khó khăn nên chúng ta sẽ không bàn đến phương sách tự bảo vệ này ở đây.

Những phương sách tự bảo vệ khác gồm có:

- rèn luyện thân thể, tập võ để có sức khoẻ tốt, phòng ngừa được bệnh tật, chống đỡ được khi bị kẻ khác hành hung.

- học tập để hiểu được đâu là nguyên nhân cuả sự nguy hiểm (tránh những nguy hại cho thể chất cũng như cho tinh thần)

- trang bị khí giơ&uggrave;i hay nhờ người khác bảo vệ khi cần thiết. 
- rèn luyện khả năng xét đoán để phòng ngừa sự lưà gạt cuả kẻ khác.
- tránh những hòan cảnh có thể gây nên các cảm xúc tiêu cực v.v...

Trong những phương sách tự bảo vệ nói trên thì chỉ có phương sách cuốI cùng là một phương tiện trực tiếp để hoá giải các cảm xúc tiêu cực. Nếu không phân tích kỹ thì phương tiện này có vẻ rất thụ động, có thể tạo nên sự nhút nhát, tự cô lập.

Thực ra "tránh những hoàn cảnh có thể gây nên cảm xúc tiêu cực" bao gồm nhiều hành động cụ thể:

- đóng vai khờ (lờ sự khiêu khích cuả kẻ khác): trong sự tiếp xúc hàng ngày, có thể có người muốn công kích ta vì một nguyên do cá nhân nào đó. Sự tảng lờ có thể vô hiệu hoá sự tấn công cuả người khác.

- im lặng là vàng. Mặc dầu tham gia nói chuyện là rất cần thiết, nhưng khi câu chuyện có thể đưa đến sự la hét, cãi lộn ầm ĩ, thì sự im lặng để có một giải pháp hoà bình, bình tĩnh thường là giải pháp tốt nhất.

- tìm mọi cách để đứng ra ngoài một nhóm tranh luận thiếu xây dựng.

- tìm mọi cách để cắt đứt một cách hoà bình cuộc nói chuyện với kẻ gây hấn, chẳng hạn như đổi đề tài, lấy lý do bận chuyện khác để rút lui.

- giúp đỡ nhưng không lo âu cho bất cứ ai. Lo âu cho người khác không những đem phiền toái cho mình mà lại không làm được việc gì thiết thực. Ðáng lẽ lo âu cho con mình không có tương lai thì ta nên giáo dục cho con mình biết tự lập.

- tự bảo vệ trong tư duy. Có nhiều khi con người bị ám ảnh bởi sự lo âu, sợ hãi. Tự bảo vệ trong tư duy là biến ngay những lo âu, sợ hãi này thành hành động cụ thể, hữu ích cho mình hay cho người chung quanh.

- tư duy trong sáng. Có nhiều khi con người bị ám ảnh bởi những chuyện ân oán. Tư duy trong sáng là có một quan điểm sáng suốt về ân oán. Người nào có ân với ta thì ta nên nhớ và trả ân nếu có thể được, người nào có oán vớI ta thì ta nên tha, không phải để khuyến khích kẻ xấu mà chính là để tránh cảm xúc tiêu cực, nghĩa là để tự bảo vệ; việc trừng trị kẻ xấu ta có thể nhờ pháp luật cuả xã hội, tự mình thay pháp luật không những gây tai hại cho chính mình mà còn là phạm pháp nữa. Ta nên cảnh giác cao về những lời
kêu gọi bổn phận và trách nhiệm đối với thượng đế đối với loài người, đốI với quốc gia, đối với gia tộc, đối với gia đình v.v...của những kẻ đầu cơ, những kẻ tội lỗi, những kẻ lưu manh, những kẻ ăn bám v.v...Tình thương đặt không đúng chỗ, đúng người chẳng qua chỉ là sự ngu dại. Những kẻ nói ra là nhân danh người khác, chẳng hạn như nhân danh  thượng đế, nhân danh tổ quốc, nhân danh tập thể, nhân danh tôn giáo, đa số chỉ là những kẻ lưà gạt.

- Không làm hại kẻ khác. Ở đây chúng ta không bàn đến khía cạnh đạo đức mà chỉ bàn đến tính cách tự bảo vệ cuả vấn đề này. Ðó là một sự tự bảo vệ dài hạn, nếu ta không làm hại ai thì chẳng ai nghĩ đến chuyện phải trả thù ta, và ta chẳng cần lo âu bị người khác trả thù.

- Không cần ai có bổn phận với mình. Ðây là một quan điểm tự lập rất hữu hiệu cho việc tự bảo vệ. Ta đối xử tốt đối với người khác để làm đẹp đờI sống cuả chính bản thân ta chứ không cần để người khác trả ơn. Từ quan điểm tự bảo vệ đó ta có thể tránh được nhiều thất vọng về sự bạc bẽo cuả người đời. Ngày xưa đã có người than rằng "cứu vật vật trả ơn, cứu nhân nhân trả oán", chẳng qua chỉ vì thiếu tự bảo vệ mà thôi. Nói như vậy không phải là phủ nhận bổn phận chữa bệnh cuả người bác sĩ đối với ta khi ta đau ốm; vì đó là trách nhiệm cuả việc làm cuả người bác sĩ đối với bất cứ một bệnh nhân nào, chứ không phải bổn phận đối với cá nhân ta. Từ quan điểm đó ta không cần gì đòi hỏi hoặc cầu xin người bác sĩ mà chỉ cần suy xét người đó có làm đúng lương tâm nghề nghiệp hay không, nếu không, ta có thể tìm cách để đối phó hoặc đổi bác sĩ điều trị.

- Xét lại bổn phận đối với người khác. Có những niềm tin, có những tập tục in sâu vào trí não ta những bổn phận, chẳng hạn như thù nhà, nợ nước, chẳng hạn như bổn phận giúp đỡ bà con, họ hàng thân thuộc. Ðáng lẽ áy náy vì khó khăn hoàn thành một bổn phận nào đó thì tại sao ta không tự hỏI vì sao ta có bổn phận đó? Ngay cả đối với người mà mình chịu ơn, thay vì lo buồn vì chưa có điều kiện báo ơn ta có thể cố gắng làm việc thêm để có phương tiện báo ơn bằng chính mồ hôi và nước mắt cuả mình. Hoàn thành bổn phận chỉ có giá trị tinh thần, lấy công lao động cuả người khác để hoàn thành bổn phận cuả mình thì làm gì có giá trị tinh thần, nếu không phải là đạo đức giả, là ăn cắp!!

Nói tóm lại, tự bảo vệ bằng cách "tránh những hoàn cảnh có thể gây nên cảm xúc tiêu cực" đòi hỏi chúng ta nhiều hành động tích cực cụ thể. Các hành động này cũng giúp ta hoá giải một số cảm xúc tiêu cực khi chúng bắt đầu xuất hiện.

4.11) Tự chế.

Tự chế là tự kiềm chế mình để tránh những điều thái quá, hạn chế mọi hành động ngông cuồng, mọi sự sa ngã. Như vậy tự chế có tính cách ngăn ngưà các cảm xúc tiêu cực.

Tại sao tự chế lại có thể là một biện pháp để hoá giải các cảm xúc tiêu cực?

Chúng ta thử tìm hiểu những khó khăn và những thuận lợi cuả sự tự chế, trước hết là những khó khăn:

- tự chế đòi hỏi một sự thích ứng đặc biệt với hoàn cảnh, nếu không, người ta có thể rơi vào tình trạng thái quá cuả tự chế, cuộc sống sẽ thiếu tươi vui, hạnh phúc. Có người bị ám ảnh bởi sự tự chế, lúc nào cũng kiêng khem, cũng lo âu, sợ hãi v.v...

- sự thái quá trong tự chế cũng tai hại chẳng kém gì sự không tự chế.
- tự chế có thhể tạo ra cảm tưởng thiếu tự do.

- tự chế có thể gây nên sự thiếu cởi mở chẳng hạn như vì tự chế để sống đúng theo lễ giáo cổ truyền con người có thể tự cô lập với những người chung quanh.

Những thuận lợi cuả sự tự chế gồm có:

- tránh sa ngã. Con người luôn luôn có những dục vọng, những đam mê. Sự thỏa mãn một dục vọng thường sinh ra một dục vọng mới có cường độ cao hơn. Và cứ thế con người chạy theo dục vọng càng ngày càng có nhiều dục vọng hơn. Có người cho rằng dục vọng là nguồn gốc cuả sự đau khổ, muốn hết khổ ta phải diệt dục. Nhưng thực ra dục vọng là cần thiết cho hạnh phúc con người. Không có dục vọng nữa thì cuộc sống còn gì là hạnh phúc. Chúng ta không cần diệt dục mà chỉ cần tự chế thì ta vẫn hưởng được hạnh phúc cuả cuộc sống mà vẫn tránh khỏi các cạm bẫy của dục vọng. Trong đời sống thực tế thì sự trừng phạt cuả thiên nhiên và xã hội là những sự hạn chế khách quan những dục vọng của con người, chẳng hạn như xâm phạm tài sản của người khác thì bị tù. Nhưng những sự hạn chế này thông thường không hữu hiệu bằng sự tự chế vì không có tính cách tự giác, tự nguyện và đôi khi có tính cách bất công.

- kiểm soát được cảm xúc. Nhờ tự chế ta có thể tránh khỏi những hành động mù quáng, hoàn toàn do sự thúc đẩy của cảm xúc.

- cuộc sống có trình độ cao. Nhờ tự chế ta có thể có một cuộc sống hài hoà, tinh thần sáng suốt trong một thể chất lành mạnh.

- cuộc sống có tình cảm đẹp. Nhờ tự chế ta có thể có được mối liên lạc đẹp với mọi người, không bồng bột nhất thời, không phũ phàng phản bội.

- cuộc sống có ý nghĩa cao. Nhờ tự chế ta không phạm phải những lỗi lầm mà có khi hối hận suốt đời. Dù có thất bại nhưng nếu ta tự chế thì cũng dễ dàng hoá giải các cảm xúc tiêu cực vì ta không có gì phải hối tiếc.

Một khi sa ngã thì con người không còn khả năng hoá giải các cảm xúc tiêu cực, vì vậy tự chế phải là điều kiện tiên quyết để ta có thể hoá giải các cảm xúc tiêu cực, các hình thức cuả sự đau khổ.

Nhờ tự chế, ta mới có thể kiểm soát được các hành động thiếu sáng suốt, bộc phát từ những cảm xúc tiêu cực. Như vậy tự chế là bước đầu trong quá trình hoá giải các cảm xúc tiêu cực.

Nhờ tự chế ta có thể có cuộc sống có ý nghĩa, có trình độ, có tình cảm đẹp; nguồn gốc của những cảm xúc tích cực; biện pháp hữu hiệu lâu dài trong việc hoá giải các cảm xúc tiêu cực.

Nắm vững những khó khăn và những thuận lợi của sự tự kiềm chế, ta có thể tránh những khó khăn và phát huy những thuận lợi để dùng sự tự chế như một biện pháp để ngăn ngừa, để hoá giải các cảm xúc tiêu cực và để tạo ra các cảm xúc tích cực.

4.12) Tha thứ.

Thù, giận là những phản ứng tự nhiên của con người khi bị xúc phạm về vật chất cũng như về tinh thần.

Ngày xưa, có những kẻ coi như việc trả thù là cứu cánh của cuộc đời, coi như là một hình thức thi hành bổn phận làm người. " Thù nhà, nợ nước từng được coi như việc phải thực hiện của kẻ anh hùng! ". Ðối với những người có niềm tin đó, chưa trả được thù thì ăn ngủ không yên! Ðối với họ, tha thứ là yếu hèn, là khuyến khích những kẻ tội lỗi!

Có người nói lấy đức báo oán thì lấy gì báo đức!

Có người coi sự tha thứ kẻ thù là hèn nhát, là vì không đủ khả năng trả thù!

Ngày xưa, những hình phạt đối với kẻ bị kết tội nhiều khi mang tính cách trả thù, chẳng hạn như tùng xẻo, ném đá cho chết v.v...

Có những nơi người ta còn giáo dục căm thù để sách động quần chúng nổi dậy theo sự lãnh đạo của một nhóm người, một đảng phái v.v...

Ðể hiểu rõ hơn về những hành động kể trên chúng ta thử tìm hiểu những mặt tích cực cũng như tiêu cực của sự căm thù; trước hết là những mặt tích cực:

- sức mạnh của căm thù. Sự căm thù có tác dụng như một niềm tin, người trả thù có cảm giác như sống có lý tưởng, có ý nghĩa, có sức mạnh tinh thần.

- tạo đoàn kết cho những người có chung một kẻ thù. Sự giáo dục căm thù có mục đích sách động quần chúng hành động tập trung để trả thù chung.

- quên được những khó khăn trước mắt, sự thôi thúc trả thù có thể làm quên đi những khó khăn về kinh tế thông thường của con người.

- ngăn cản kẻ khác phạm tội vì sợ bị trả thù.

- là một vũ khí để tự vệ, kẻ khác không giám tấn công vì sợ bị trả thù.

- thoả mãn về quyền lực vì làm kẻ khác sợ, ví dụ như luật "chu di tam tộc" của bọn vua chúa ngày xưa.

- "sát nhất nhân vạn nhân cụ", cai trị nhân dân bằng bạo lực thì giải quyết nhanh chóng được các vấn đề tệ nạn xã hội.

- thái độ thù nghịch làm cho người khác phải nhượng bộ.

Những mặt tiêu cực của sự thù hận gồm có:

- thiếu văn minh;
- thiếu tình nhân loại, nhất là những hình thức trả thù thô bạo.
- thù hận đẻ ra thêm thù hận " lấy oán báo oán, oán oán chập chùng ".
- mất sáng suốt, " giận mất khôn "
- trở thành tàn bạo.
- mất hạnh phúc.
- ảnh hưởng xấu về lâu dài cho sức khỏe vật chất cũng như tinh thần.
- thay pháp luật trừng phạt kẻ khác, một hình thức phạm tội.
- thoa mãn tính ích kỷ xấu xa, vui sướng trên sự đau khổ, sợ hãi của người khác. Sự vui sướng này rất ngắn ngủi, vô nghĩa.
- bạo động
- tội lỗi
- thiếu cởi mở
- hẹp hòi
- thân tâm rối loạn
- thoái hoá, có thể dẫn đến mất nhân tính. Trong chiến tranh lâu dài, thông thường cả hai bên dần dần trở thành ác quỷ!

Những mặt tích cực của thù hận thường không phải là những mặt tốt của loài người, có văn minh, có lý trí sáng suốt, có tình thương nhân loại. Những mặt tiêu cực của thù hận thì có thể không những xoá bỏ hạnh phúc của con người mà còn có thể xóa bỏ ngay cả bản tính con người.

May thay, con người có thể tha thứ để xóa bỏ hận thù. Chúng ta thử tìm hiểu những ưu khuyết điểm của sự tha thứ. Trước hết là những khuyết điểm:

- dễ bị lợi dụng
- thiếu đấu tranh
- thiếu phân biệt giữa thù và bạn
- chấp nhận sự tồn tại của kẻ thù

Những ưu điểm của sự tha thứ:

- xoá bỏ hận thù
- thân tâm dễ an lạc
- tâm hồn mở rộng, tránh được những tỵ hiềm nhỏ nhen
- cảm hóa được người khác
- tăng cường sức khỏe vật chất và tinh thần
- nâng cao giá trị con người
- cảm giác sâu xa ccủa từ bi, bác ái
- biện pháp hữ;u hiệu để xoá bỏ các cảm xúc tiêu cực. Sự tha thứ làm vơi bớt nhanh chóng những thù hận, giận hờn; tránh được buồn bã vì những hành động của người khác; tránh được lo âu, sợ hãi vì sự oán hờn của kẻ khác.

Ðể tránh khỏi những khuyết điểm cuả sự tha thứ, ta cần:

- cảnh giác cao đe&å tránh bị kẻ khác lợi dụng
- tăng cường &nntilde;ấu tranh bất bạo động
- phân biệt rõ người tốt, kẻ xấu, người có ích cho xã hội, kẻ nguy hiểm cho xã hội.
- dựa trên phápp luật, sự công bằng để loại trừ nguy hiểm cho mình và cho xã hội.
- quan điểm đứng đắn về sự tha thứ: tha thứ không phải là quên hết những lỗi lầm của kẻ khác mà chỉ là để cho người khác có dịp sám hối, có dịp sửa chữa, có dịp làm lại cuộc đời. Việc ngăn ngừa kẻ tội lỗi tiếp tục làm điều ác, cũng như việc lật đổ bạo quyền luôn luôn cần thiết. Với tinh thần sáng suốt, với thân tâm an lạc thì sự đấu tranh sẽ hữu hiệu hơn nhiều là sự đấu tranh bằng căm thù và uất hận. Cách đây nửa thế kỷ, khi sự bạo động còn là chuyện hàng ngày trong các gia đình, trong các xã hội, Gandhi đã có thể dùng đấu tranh bất bạo động để đuổi đế quốc Anh khỏi Ấn Ðộ, đáng suy ngẫm lắm thay!

Với các hành động kể trên để ngăn ngừa những khuyết điểm của sự tha thứ, ta có thể dùng sự tha thứ như một biện pháp hóa giải hữu hiệu các cảm xúc tiêu cực.

4.13) Tu thân.

Nói đến tu thân, nhiều người nghĩ ngay đến những điều lệ khó khăn, những ràng buộc rắc rối, những cố gắng không ngừng v.v...nói chung là những điều không mấy hào hứng, thích thú; có người còn nghĩ đến ăn uống khổ hạnh, tự hành xác, tự xóa bỏ đời sống của chính mình v.v...để lo cho những gì xa vời ở thế giới bên kia, thế giới vô hình, thế giới trong trí tưởng tượng.

Mỗi ý thức hệ đều có những hình thức tu thân khác nhau, nhưng tất cả đều để phục vụ cho quyền lợi của ý thức hệ đó.

Ở đây chúng ta không bàn tới bất kỳ một ý thức hệ nào và tu thân chỉ hoàn toàn vì quyền lợi tinh thần và vật chất của bản thân mình; tu thân chỉ có nghiã là sửa chữa bản thân mình để có thể sống hài hoà với hoàn cảnh chung quanh với mục đích để đem lại hạnh phúc ngay lúc này, ngay trong cuộc sống hiện tại. Bất cứ hình thức tu thân nào đem lại những sự ràng buộc, sự rắc rối, sự chán nản, sự khổ hạnh, sự đau đớn, sự căm hờn đều nên loại bỏ. Nói một cách khác, tu thân ở đây chỉ là một biện pháp để hóa giải các cảm xúc tiêu cực mà thôi.

Với mục đích đó, hành động tu thân bao gồm:

- tìm hiểu hoàn ca&ûnh chung quanh. Sự hiểu biết hoàn cảnh thiên nhiên, xã hội chung quanh ta là bước đầu để ta tránh những đau đớn, những khó khăn. Một thí dụ đơn giản: biết trời sắp lạnh ta phải chuẩn bị áo ấm. Hoàn cảnh chung quanh ta luôn luôn thay đổi và tiến hoá, nếu ta không theo kịp thì chắc chắn sẽ bị đào thải, dễ dàng trở thành bi quan tiêu cực.

- tìm cách để hoà đồng những đặc tính cá nhân của mình với ngoại cảnh. Những đặc tính cá nhân của mình đa số được hình thành dần dần từ lúc thơ ấu tới nay bởi những tác động của thiên nhiên và xã hội chung quanh ta. Nếu ta lớn lên trong môi trường mê tín dị đoan thì thông thường ta có xu hướng bảo vệ các hủ tục; nếu ta được giáo dục trong môi trường khoa học thì ta thông thường có xu hướng lý luận. Ngoại trừ những người có đầu óc cách mạng, những kẻ “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, đa số những đặc tính cá nhân chỉ là phản ảnh của những hoàn cảnh thiên nhiên và xã hội chung quanh. Nhưng sự phản ảnh này thường không theo kịp những tiến hoá của hoàn cảnh chung quanh, nên nếu không thay đổi kịp bằng cách tu thân thì ta có thể cảm thấy “đời là bể khổ”, chẳng hạn như một người còn mang nặng ảnh hưởng về những tiêu chuẩn đạo đức của “nhị thập tứ hiếu”, lại sống ở thời đại “internet”, thì có thể bị người chung quanh coi là thành phần nguy hiểm cho xã hội, cần phải loại bỏ.

- nhìn nhận nhữ;ng sai lầm, trước hết là trong nội tâm, sau dần dần tiến tới nhìn nhận sai lầm của mình đối với kẻ khác. Nhìn nhận sai lầm ở đây không giống như “xưng tội của đạo Công Giáo” hay “sám hối của đạo Phật”, nhìn nhận sai lầm ở đây hoàn toàn vì lợi ích tâm lý cá nhân. Chỉ có nhìn nhận sự sai lầm của chính mình ta mới có thể cải thiện, mới có thể tiến bộ được, mới có thể xoa dịu mau chóng những cảm xúc tiêu cực. Trong đời sống thực tế, nhiều người thường chối bỏ sự sai lầm của bản thân để tránh sự tấn công của kẻ khác. Vì vậy trong giai đoạn đầu của tu thân, ta có thể chỉ nhìn nhận sự sai lầm trong nội tâm ta mà thôi. Ðến giai đoạn cao hơn, thì sự nhìn nhận sai lầm đối với kẻ khác sẽ trở nên cần thiết; bởi vì nó đem cho ta sức mạnh để cảm hoá được người khác.

- sửa chữa những sai lầm. Lầm lỗi là chuyện bình thường của con người. Chỉ có người chết mới không còn lầm lỗi. Nhưng nếu biết mình lầm mà không chịu sửa thì khó thể nào tránh khỏi sự thù ghét hay tẩy chay của người khác. Hơn nữa, sự cố gắng sửa chữa những sai lầm sẽ tạo một trạng thái tâm lý mới, tạo những cảm xúc tiêu cực mới. Nói một cách khác, sửa chữa những sai lầm là cần thiết để xây dựng một cuộc sống hạnh phúc.

- tự thắng bản thân mình. Thắng được kẻ khác đã khó, thắng được những cái xấu, cái sai của bản thân mình còn khó hơn nhiều. Sự đấu tranh nào chẳng đòi hỏi sự cố gắng. Nhưng càng khó khăn thì chiến thắng càng vinh quang. Chiến thắng được cái sai của bản thân mình không những vinh quang mà còn đem lại những lợi ích lớn lao.

Những lợi ích tinh thần và vật chất của sự tu thân bao gồm:

- tự tin
- hướng thiện
- hãnh diện về việc mình làm
- tự trang bị những yếu tố căn bản để thành công
- tâm lý phát triển cao
- nội lực tăng cường
- tâm hồn thoải mái
- thân tâm an lạc
- trí não sáng suốt
- thể chất ít bệnh tật
- cuộc sống lành mạnh
- sống có lý tưởng cao đẹp
- xóa những mặ;c cảm sai lầm
- xóa những thành kiến lệch lạc
- xóa những niềm tin bệnh hoạn
- cảm hoá được người khác

Nói thì dễ, nhưng làm thì khó. Muốn tu thân ta phải trước hết tìm cách tránh sự gò bó vào những mục tiêu cố định bằng cách sống vui tươi hài hoà vớI mọi người chung quanh, tập để thắng bản thân mình từ những việc dễ rồi dần dần đến những việc khó hơn, luôn luôn tu thân một cách thực tiễn, không viển vông lý thuyết suông. Chẳng hạn ta thấy ngần ngại trong công việc phải làm hàng ngày. Chúng ta hãy phân tích những nguyên nhân của sự ngần ngại đó rồi bắt đầu thực hiện những việc dễ nhất với chủ tâm là làm sao thực hiện việc đó một cách hào hứng. Vấn đề quan trọng ở đây không phải là hoàn tất càng nhanh càng tốt công việc đó, mà là thi hành càng hào hứng càng tốt công việc đó. Nói một cách khác trong vấn đề tu thân ta phải thay đổi ngay trong tư duy mục tiêu của việc ta làm: không phải là năng suất mà chủ yếu là sự hào hứng, vui tươi.

Tu thân ở đây khác hẳn với cách sống của các người tu hành của các tôn giáo, với những điều cấm kỵ về thể chất, về sinh lý, về tinh thần.

Tu thân ở đây không cần phải kiêng cữ bất cứ việc gì kể cả uống rượu, đánh bạc, làm tình, hút thuốc v.v...

Tu thân ở đây là để sống sung sướng, không đau khổ. Chỉ có những gì tạo ra đau khổ là ta phải kiêng cữ mà thôi. Trước hết ta tu thân để tránh những đau khổ trực tiếp ngắn hạn. Một thí dụ đơn giản như ăn quá no thì ý ách khó chịu nên ta tự nhủ ăn uống phải chăng để bớt khó chịu. Ðến giai đoạn hai, ta tu thân để tránh những đau khổ gián tiếp dài hạn. Trong giai đoạn này chúng ta cần suy nghĩ thêm về những quy luật thiên nhiên và xã hội chẳng hạn như "gieo gió thì gặt bão". Ðến giai đoạn tiến bộ thì ta cần vận dụng những quy luật này vào trong cuộc sống hàng ngày. Chẳng hạn như khi vận dụng quy luật "sự biến đổi về lượng sẽ dẫn tới sự biến đổi về chất" vào trong công việc phải làm thì ta không còn đau đớn, bồn chồn, lo âu vô ích trong 'khi tác động để thay đổi lượng' vì ta biết chắc rằng sự thay đổi về chất là tất yếu. Một thí dụ cụ thể, sự tu thân lâu dài đến một lúc nào đó sẽ biến đổi hẳn bản chất một người từ độc ác thành từ bi.

4.14) Bình tâm.

Ai chẳng biết bình tĩnh là tốt, nóng nẩy hùng hổ thì dễ hỏng việc. Nhưng nói thì dễ mà làm thì quá khó. Làm sao bình tâm được khi sống là đấu tranh không ngừng, không khoan nhượng giữa người với người. Cây dù muốn lặng nhưng gió chẳng đừng, mình muốn yên thân nhưng kẻ khác lại muốn lợi dụng mình, muốn tấn công mình, muốn ăn cướp của do mồ hôi nước mắt của mình.

Thực ra càng khó khăn thì sự bình tĩnh càng cần thiết để ta giải quyết mọi việc hữu hiệu hơn. Sự mất bình tĩnh thường kéo theo sự mất sáng suốt, sự nông nổi thiếu suy nghĩ, sự nóng giận làm hư hỏng mọi chuyện v.v...Sự mất bình tĩnh chẳng qua chỉ là phản ứng tự nhiên của con người đối với những sự kiện khó khăn của thiên nhiên, của xã hội, của những người chung quanh v.v...Những phản ứng này có thể kiểm soát được nhờ biết suy xét, nhờ kinh nghiệm, nhờ thực tập.

Chúng ta cũng cần phân biệt những trường hợp "bình tĩnh giả tạo", chẳng hạn như "điếc không sợ súng" hoặc "ngu si hưởng thái bình" của những người sống bưà bãi, bạ đâu xâu đấy, khoai lang bóc ngắn cắn dài. Những trường hợp này thì sự 'không có phản ứng ngay' không phải là sự bình tĩnh mà chẳng qua chỉ là sự nhu nhược của tâm hồn, sự lười biếng của trí tuệ, một hình thức suy thoái của con người. Sự bình tĩnh chúng ta bàn đến ở đây là sự bình tĩnh trong hành động chứ không phải sự tê liệt trong hành động.

Chúng ta cũng cần phân biệt sự bình tĩnh với sự 'không dám phản ứng vì yếu hèn hay vì nhịn nhục'. Sự yếu hèn hay sự nhịn nhục có thể gây nên những cảm xúc tiêu cực mãnh liệt, phá hoại tàn bạo năng lực của người trong cuộc. Sự bình tĩnh giúp ta lựa chọn hành động có lợi nhất để tránh những cảm xúc tiêu cực và tạo những cảm xúc tích cực.

Những mặt tích cực của sự bình tĩnh thì vô số kể, nhưng vấn đề là làm sao để có thể bình tĩnh được và tại sao bình tĩnh lại là một biện pháp để hoá giảI các cảm xúc tiêu cực?

Bình tĩnh giúp cho ta tránh được những hành động điên rồ do những cảm xúc mãnh liệt gây ra. Chỉ có sự bình tĩnh mới giúp ta nhận thức được các cảm xúc tiêu cực cùng những tác hại của chúng, mới giúp ta hiểu được đâu là những nguyên nhân.

Sự bình tâm đòi hỏi một năng lực đặc biệt, không phải là để dồn nén các cảm xúc, mà là để ngăn chặn những phản ứng tức thời thiếu suy nghĩ, để phản ứng một cách khoa học, có phân biệt phải trái, có phân biệt lợi hại, có hoạch định, có dự trù thời cơ thuận lợi v.v...

Muốn tìm những biện pháp để giúp ta luôn luôn giữ được bình tĩnh, ta hãy thử tìm hiểu những lý do làm ta mất bình tĩnh:

- biến cố lớn
- sự nguy hiểm đe dọa
- sư thất bại đe dọa
- sự khó khăn
- bị khiêu khích
- bị nhục mạ
- bị coi thường
- bị đau đớn
- bị mất mát
- bị rối loạn
- sự hoang mang
- sự tuyệt vọng
- sự thay đổi đột ngột các điều kiện sinh hoạt v.v...

Thông thường càng lớn tuổi thì người ta thường bình tĩnh hơn vì đã trải qua nhiều kinh nghiệm, đến khi gặp lại một việc tương tự thì người ta ít luống cuống hơn, ít bị kích động hơn. Nhưng với mức tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay thì thường người già không theo kip trào lưu tiến bộ bằng người trẻ nên thường không theo kịp các sự thay đổi các điều kiện sinh hoạt, chẳng hạn như những sự tự động hoá trong mọi lãnh vực, sự thay đổi nhanh chóng của những mối liên hệ trong gia đình, ngoài xã hội v.v...

Muốn bình tĩnh chúng ta cần thấu hiểu các nguyên nhân gây ra sự mất bình tĩnh và tìm các phản ứng tức thời thích hợp. Phản ứng tức thời là hành động ngay lập tức để thay thế những hành động ngoài ý muốn do những cảm xúc tiêu cực gây ra. Những hành động này cũng có tác dụng hoá giải đôi phần những cảm xúc đó. Thông thường thì sự bình tĩnh đòi hỏi một năng lực đặc biệt. Nhưng nếu ta thực tập thường xuyên thì năng lực sẽ tăng mau và sau một thời gian ta có thể có những phản ứng với một thái độ hoàn toàn bình tĩnh. Sự thực tập thường đòi hỏi một sự kiên trì, một sự cố gắng; nhưng cũng mang lại ngay những lợi ích lớn lao thiết thực tức thời. Với các nguyên nhân khác nhau, có thể chúng ta cần có phản ứng tức thời khác nhau tuỳ từng trường hợp.

Nguyên nhân làm mất bình tĩnh Phản ứng tức thời:

Biến cố lớn Chuẩn bị đối phó
Sự nguy hiểm đe dọa Chuẩn bị đối phó
Sự thất bại đe dọa Thận trọng hơn
Sự khó khăn Phân tích để tìm lý do
Bị khiêu khích Ðánh trống lảng
Bị nhục mạ Cảnh cáo đối phương
Bị coi thường Ðánh trống lảng
Bị rối loạn Nghỉ ngơi
Sự hoang mang Phân tích
Sự tuyệt vọng Tìm sự giúp đỡ của bạn bè, người thân
Sự thay đổi các điều kiện sinh hoạt Phân tích để học hỏi
Bị đau đớn Tìm sự giúp đỡ của người khác
Bị mất mát Tìm sự giúp đỡ của người khác

Chuẩn bị đối phó là hoạch định chương trình một cách tỷ mỉ để đối phó vớI từng hiện tượng, từng hoàn cảnh khác nhau. Ðánh trống lảng là một hành động để đánh lạc hướng đối phương, chẳng hạn như đối phương tìm cách chọc giận mà mình lại cười lớn thì đối phương khó mà tiếp tục khiêu khích.

Sau phản ứng tức thời, thông thường con người lấy lại được sự bình tĩnh để đối phó với hoàn cảnh. Dĩ nhiên sự đối phó tùy thuộc khả năng của mỗi cá nhân.

Một hiện tượng khách quan có thể gây cho ta sự mất bình tĩnh và đồng thời những cảm xúc tiêu cực. Chẳng hạn như khi bị kẻ khác nhục mạ, con người thường rơi vào tình trạng mất bình tĩnh và nổi giận. Sự mất bình tĩnh cộng hưởng với sự nổi giận có thể dẫn đến những phản ứng cực đoan như xử dụng bạo lực. Nhưng nếu phản ứng tức thời là cảnh cáo đối phương thì sự giận dữ cũng tạm thời được xoa dịu. Vì vậy sự tập luyện để giữ được bình tĩnh là sự ngăn ngừa hữu hiệu những hậu qủa do phản ứng của các cảm xúc tiêu cực. Sự bình tĩnh làm dịu bớt những phản ứng quá khích do các cảm xúc thù hận, giận dữ, buồn khổ, lo lắng, sợ hãi gây ra, và đồng thời hoá giải dần dần các cảm xúc đó.

Nói tóm lại chúng ta có thể tập luyện để luôn luôn bình tĩnh trong sự vận động không ngừng của cuộc sống. Sự bình tĩnh không những giúp ta hoá giải các cảm xúc tiêu cực mà còn giúp ta ngăn ngừa những hậu quả tai hại của những cảm xúc đó.

4.15) Tự động viên.

Nghe nói đến động viên, có người nghĩ đến những sự bó buộc làm bia đỡ đạn ngoài chiến trường để phục vụ cho quyền lợi hay lý tưởng của kẻ khác, có người nghĩ tới những sự sách động tâm lý để xô đẩy những người ngây thơ vô tội đâm đầu vào chỗ chết để trở thành thánh tử vì đạo, anh hùng dân tộc v.v...

Mặc dù có thể nhìn thấy những ý đồ đen tối ẩn tàng trong những sự động viên tinh thần, chúng ta cũng không thể phủ nhận sức mạnh lớn lao mà sự động viên tinh thần có thể đạt được. Nó có thể kích động người khác lao đầu vào chỗ chết không chút sợ hãi, lao đầu vào tội ác mà lại tưởng là đem lại hạnh phúc cho nhân loại. Ở đây chúng ta sẽ dùng sức mạnh của sự động viên tinh thần để hoá giải các cảm xúc tiêu cực của chính bản thân mình.

Trong bất cứ tập thể nào, con người thường làm việc theo sự hoạch định, điều hành, chỉ huy, kiểm soát của người khác. Vì vậy nhiều người thường làm việc với một tinh thần tiêu cực, nghĩa là làm việc vì bị bắt buộc một cách trực tiếp hay một cách gián tiếp. Ðể tăng năng suất của sự làm việc, người ta thường cần có một tinh thần tích cực, để có thể làm việc với nhiều sáng tạo. Sự động viên tinh thần có mục đích thay đổi tinh thần tiêu cực thành tinh thần tích cực. Những nhà lãnh đạo đã có thể động viên tinh thần của cả một dân tộc để làm nên lịch sử. Chẳng lẽ chúng ta không thể tự động viên để hoá giải các cảm xúc tiêu cực của mình hay sao?

Muốn có một tinh thần tích cực để hành động, người ta thường cần những yếu tố sau đây:

- hiểu rõ mục đích của hành động của mình.
- tự do trong hành động để có nhiều sáng tạo.
- yêu việc mình làm; chẳng hạn như nhà khoa học quên thời gian trong việc nghiên cứu.
- có những phương tiện cần thiết cho hành động.
- thù lao xứng đáng.

Như vậy, nếu muốn dùng " tự động viên " như một biện pháp để hoá giải các cảm xúc tiêu cực, ta cần chuẩn bị kỹ các yếu tố đó; yếu tố "thù lao xứng đáng" có thể thay thế bằng "sự tự thưởng", chẳng hạn như sau khi hoàn thành một nhiệm vụ ta đi ăn ở một tiệm mà mình thích.

Hành động của con người thường rất cuồng nhiệt khi:

- phục vụ cho lý tưởng.
- phục vụ cho niềm tin; chẳng hạn như những người sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ quê hương của họ, bảo vệ tín ngưỡng của họ, gia đình họ v.v...
- phục vụ cho công lý.
- phục vụ cho tình yêu.
- phục vụ cho quyền lợi bản thân; chẳng hạn như hoá giải các cảm xúc tiêu cực để mang lại hạnh phúc cho cá nhân mình.

Khi cần hoá giải một cảm xúc tiêu cực, "tự động viên" là một hành động tâm lý để tái xác định:

- cảm xúc đó là phản ứng tự nhiên của con người đối với một hiện tượng thiên nhiên hay xã hội.

- cảm xúc đó gây cho mình đau khổ.

- cảm xúc đó có thể đưa đến những hành động mù quáng, những tác hại về thể chất cũng như về tinh thần; chẳng hạn như sự lo âu thái quá có thể làm heó mòn, có thể làm điên loạn.

- hoá giải cảm xúc đó là cần thiết để loại trừ sự đau khổ.

- chúng ta không thay đổi được biến cố thiên nhiên hay xã hội, nhưng chúng ta có thể làm chủ được cảm xúc của chính mình.

- nếu bị tê liệt tinh thần bởi cảm xúc đó, sự tự động viên có thể giúp ta tiếp tục hoạt động bình thường, và những hoạt động này sẽ tạo ra những cảm xúc tích cực mới.

- cảm xúc đó có tính cách chủ quan, phụ thuộc vào quan điểm, niềm tin của chính mình.

- mục đích của "tự động viên tinh thần" là để trở lại ngay hoat động bình thường với một tinh thần tích cực, để chấm dứt càng sớm càng tốt tác hại của cảm xúc tiêu cực.

Nói tóm lại, ta có thể dùng " tự động viên tinh thần " như một biện pháp để hoá giải các cảm xúc tiêu cực, để có thể trở lại hoạt động bình thường càng sớm càng tốt với một tinh thần tích cực. Sự tự động viên cũng tăng hiệu lực của các biện pháp hoá giải khác và tạo sự phấn khởi khi vận dụng các biện pháp đó.

Kết luận.

Những hiện tượng khách quan của thiên nhiên hay xã hội tạo nên những cảm xúc, những hình thức của hạnh phúc và đau khổ. Những hiện tượng đó thường ở ngoài tầm tay của chúng ta, nhưng những cảm xúc lại là vấn đề nội tâm của mỗi người. Vì vậy hạnh phúc hay đau khổ luôn luôn ở trong tầm tay của ta. Hành động cá nhân của mỗi người luôn luôn tạo nên cảm xúc giống như những hiện tượng khách quan. Mười lăm hành động trình bày ở trên không những có thể tạo nên những cảm xúc tích cực mới, hình thức của sự hạnh phúc, mà còn có thể hoá giải được những cảm xúc tiêu cực gây nên bởi những hiện tượng khách quan. Những hành động này cũng giúp ta dần dần hiểu rõ những nhu cầu trong nội tâm của chính mình để tự thoát ra khỏi cái mê hồn trận của dục vọng, để tối thiểu hoá những tác động tai hại, tối đa hoá những tác động thuận lợi của ngoại cảnh, để dần dần thay thế những tình cảnh:

"Cũng liều nhắm mắt đưa chân
Thử xem con tạo xoay vần đến đâu!"
(trích truyện Kiều)
bằng những hành động thực tiễn để có thể:
"Sống vui trong chốn phong trần
Tiếp tay con tạo xoay vần thế gian"


Phó Thường Dân

Viết tại Québec, Canada
Tháng 12 năm 2000
           

Trang bìa
Ðầu trang