|
Giã
từ bể khổ (2)
4.8) Sống lạc quan.
Vui sống, vui với
hiện tại, vui với những gì mình có trong tầm tay; tìm vui
trong công việc phải làm, tìm vui trong nhiệm vụ phải thực
hiện; biến việc làm thành niềm vui sáng tạo, thành
niềm vui sống động, thành sự thực hiện các mục đích.
Ðó là một quan điểm sống, là một cách sống, một cách
hành động để có hạnh phúc ngay khi đang hành động. Ðó
cũng là một phương tiện hữu hiệu trong việc hoá giải các
cảm xúc tiêu cực " thù hận, giận hờn, buồn bã, lo âu,
sợ hãi ". Sống vui giúp ta dễ tha thứ, dễ xoá bỏ thù hận,
giận hờn; sống vui thì ta khó có thể có thì giờ để buồn
bã, lo âu, sợ hãi vô cớ. Một thí dụ cụ thể: lau bàn sau
khi ăn cơm xong; một người nặng đầu óc phong kiến cho rằng
lau bàn không phải là việc xứng đáng để mình làm, nhưng
vì hoàn cảnh bắt buộc phải làm nên thấy khổ sở mà phải
làm; một người vui sống thì thấy sống sạch sẽ là một
trình độ văn minh, lau bàn là một hành động văn minh, ăn
ở dơ dáy mới là việc đáng tránh. Nói như vậy không phải
là để người khác lạm dụng sự vui sống cuả mình cho những
ý đồ đen tối cuả họ, mà trái lại để sự vui sống giúp
ta sáng suốt hơn để đấu tranh với chúng.
Vui sống là một
cách sống với một quan điểm lạc quan, thấy rõ giá trị
cuả sự sống là sự vận động, sự đóng góp, sự hưởng
thụ, sự tươi cười; khác hẳn với thái độ thở vắn than
dài, thương vay khóc mướn, lấy hình thức đau thương làm
cứu cánh cuộc đời.
Quan điểm vui sống
tượng trưng cho một trình độ phát triển cao cuả đời sống
con người. Trong chế độ phong kiến, sự phân biệt người
trên kẻ dưới rất là quan trọng; người trên thì luôn luôn
có quan điểm: "lập nghiêm ai dám tới gần" để cho người
khác nể sợ mình. Sự xa cách giữa người có quyền và nhân
dân vô cùng rõ rệt, sự xa cách của các giai cấp trong xã
hội, người giầu, kẻ nghèo, người trên kẻ dưới làm cho
cuộc sống luôn luôn khép
kín, những tình
cảm thật thường bị che đậy. Trong quan hệ phong kiến mối
liên hệ giữa người với người là mối liên hệ chủ tớ,
mối liên hệ người trên kẻ dưới, mối liên hệ không bình
đẳng. Mối liên hệ này có thể cần thiết trong một xã
hội lạc hậu, nghèo đói. Nhưng khi con người đã đủ ăn
đủ mặc thì mối liên hệ này trở thành lỗi thời, phản
động, cản trở hạnh phúc cuả con người.
Nói đến vui sống,
có người có phản ứng tiêu cực:"ai mà chẳng muốn vui sống
nhưng mà cuộc đời đầy dẫy khó khăn, làm sao mà vui cho
được?". Ðể xua đuổi khỏi tư duy những ý tưởng bi quan
đó, ta cần dựa trên vài ý niệm căn bản sau đây:
- mọi người đều
bình đẳng, người này nhất thời hơn kẻ khác chẳng qua
vì hoàn cảnh khác nhau, mỗi người đều có những năng khiếu
khác nhau. Nếu năng khiếu cá nhân phù hợp với nhu cầu xã
hội thì con người được trọng dụng, có thể trở thành
nổi tiếng, thành anh hùng, thành nhân vật quan trọng trong
lịch sử v.v...Ngược lại, thì có thể bị đói rách, khinh
khi, tù đầy, hành hạ v.v...
- quan hệ giữa
người với người phải là "tương thân tương kính" như quan
niệm bằng hữu ngày xưa cuả văn hoá phương đông cũng như
quan niệm kính trọng lẫn nhau cuả phương tây.
- Con người có;
thể tạo "cực lạc hay thiên đàng" ngay tại trần gian, ngay
tại cuộc sống hôm nay, một cách thực tế, không viển vông
mộng tưởng. Những kẻ bạo tàn đã tạo được "địa ngục
hay cực hình" ngay trên trái đất, cớ sao chúng ta không xây
được "lâu đài hạnh phúc" cho chính chúng ta?
- Nụ cười không
những là biểu hiệu cuả niềm vui mà còn có thể làm tăng
sức khoẻ tinh thần và vật chất cuả con người.
- Nói chuyện khôi
hài (joke), thường bị giai cấp phong kiến và bọn độc tài
ngăn cấm, phải là một hành động cần thiết cho cuộc sống
hàng ngày để ta tăng cường nội lực, tăng cường phẩm
chất cuả đời sống.
- Bất kỳ ai cũng
có thể tự luyện cho mình có quan điểm vui sống. Nếu chẳng
may ta bị nhồi nhét vào đầu những tư tưởng yếm thế "đời
là bể khổ", những quan điểm tu hành khổ hạnh để được
hưởng ơn trên hay được hưởng phúc trong kiếp sau thì chỉ
có sự tự cải tạo tư duy mới đem lại được quan điểm
vui sống.
- Hạnh phúc là
môt trạng thái thoải mái trong nội tâm. Những sự thành công
có thể đem lại những giây phút thoải mái trong nội tâm.
Tuy nhiên, thời gian này thường rất ngắn ngủi, và sau đó
kẻ thành công lại thấy nhàm chán về những thành quả đã
đạt được và lại đòi hỏi những gì ngoài tầm tay để
rơi vào tình trạng lo âu, nhức nhối. Sự vui sống thì lại
có thể luôn luôn đem lại trạng thái thoải mái trong nội
tâm, giúp ta dễ dàng hoá giải các cảm xúc tiêu cực do các
hiện tượng khách quan gây ra; vì dù trong hoàn cảnh nào ta
vẫn
có thể có những
mặt tích cực, vẫn có thể vui sống thời gian còn lại của
đời ta.
Vui sống là một
quan niệm sống phù hợp với tình trạng phát triển cao của
con người. Vui sống là một phương tiện hữu hiệu để hoá
giải các cảm xúc tiêu cực. Vui sống là xây dựng thiên đàng
hay cực lạc trên ngay trái đất này bằng hành động xây
dựng, bằng tình thương, bằng bác ái, từ bi hỷ xả; là
xây dựng thiên đàng hay cực lạc cho chính mình và nếu có
thể giúp đỡ ngườI khác xây dựng cho chính họ. Quan điểm
vui sống tuyệt đối chối bỏ sự xây
dựng thiên đàng
hay cực lạc hay xã hội lý tưởng bằng chiến tranh, thù hận,
bằng hành động người bóc lột người, người hành hạ
người. Quan điểm vui sống tuyệt đối chối bỏ sự xây
dựng hạnh phúc bằng áp đặt tư tưởng, áp đặt niềm tin,
áp đặt mọi hình thức độc tài, áp đặt một mô hình xã
hội nào đó. Quan điểm vui sống liên hệ đến nội tâm cuả
từng cá nhân trong tập thể cuả loài người.
Nói tóm lại, vui
sống không những là một biện pháp hoá giải hữu hiệu các
cảm xúc tiêu cực mà còn nâng cao phẩm chất của đời sống.
4.9) Làm việc.
Nói đến phải
đi làm việc, nhiều người có cảm giác mệt mỏi ngay, nhiều
người còn coi như làm việc là nô lệ, chỉ dành riêng cho
những người thấp cổ bé miệng. Những nguyên nhân của những
cảm xúc và quan điểm tiêu cực ấy tồn tại từ lâu đời,
chẳng hạn như:
- Sự cưỡng bức
lao động trong các chế độ nô lệ và phong kiến.
- Sự đấu tranh
quá gay gắt giữa người với người từ chế độ nô lệ
đến chế độ phong kiến, qua chế độ tư bản cho đến ngày
nay.
- Sự bóc lột giữa
người với người trong việc mưu sinh, trong việc tranh dành
quyền hạn và những phương tiện vật chất.
- Sự lưà gạt
cuả những kẻ có quyền, có thế.
- Những " tư tưởng
đạo đức giả " bảo vệ kẻ có quyền.
- Phản ứng tiêu
cực cuả những người bị bóc lột áp bức.
- Sự mệt mỏi
tinh thần và thể chất do sự làm việc gây ra. Người lao
động bị héo mòn vì không được bồi dưỡng đầy đủ.
Những ảnh hưởng
cuả sự làm việc trên cảm xúc cá nhân có nhiều dạng khác
nhau:
- thù hận: khi con
người bị bắt buộc phải làm việc theo ý người khác để
sinh nhai hay để sống còn, hay sợ bị trừng phạt;
- giận hờn: khi
con nngười bị bắt làm việc theo những phương pháp ngu xuẩn,
không có sự sáng tạo;
- buồn bã: khi con
người phải làm những việc mà mình không thích;
- lo âu: khi con người
không hiểu rõ công việc mình phải làm, không thấy có phương
hướng rõ rệt;
- sợ hãi: khi con
người bị bắt buộc phải làm những chuyện nguy hiểm,
chẳng hạn như
tấn công địch thủ ngoài chiến trường;
- yêu thương: khi
ta làm một việc từ thiện, khi ta giúp đỡ người khác đang
gặp khó khăn;
- vồn vã: khi ta
có một việc làm thích hợp với ta;
- vui tươi: khi
việc làm đem lại hạnh phúc;
- thoải mái: khi
trong việc làm có nhiều thuận lợi, dễ dàng;
- tự tin: khi việc
làm đem lại cho ta những khả năng mình mong muốn.
Thực ra, làm việc
là xử dụng sức mạnh vật chất hay tinh thần để thực
hiện một công việc hay để đạt một kết quả. Như vậy
làm việc bao gồm cả những hành động giải trí như đi du
lịch, đá banh, chơi cờ v.v...Làm việc có thể là lao động
chân tay như lau một cái bàn, có thể là lao động trí óc
như thiết kế một cái cầu; nhưng thực ra công việc nào
cũng cần cả lao động chân tay lẫn lao động trí óc, như
việc lau bàn cũng cần quyết định lau chỗ nào, lau bằng
gì; và việc thiết kế một cây cầu thì cũng phải vẽ đường
thẳng, vẽ đường xiên v.v...Nói chung, việc nào cũng cần
cả sức mạnh vật chất lẫn tinh thần, chỉ có khác là ở
mức độ khác nhau. Sự khác biệt này đã tạo nên những
thành kiến sai lầm về lao động trí óc và lao động chân
tay. Sự cách biệt về thù lao giữa các loại công việc cũng
thường trầm trọng hoá thành kiến này, nhất là ở các nước
chưa kỹ nghệ hoá cao.
Làm việc là một
hành động, mà hành động thì thường gây ra cảm xúc. Ðang
buồn mà phải làm việc thì chắc là buồn thêm. Như vậy
làm việc có thể là một biện pháp để hoá giải các cảm
xúc tiêu cực hay không?
Chúng ta cần phân
biệt rõ rệt các loại công việc đối với mỗi cá nhân.
Ðang buồn mà bắt buộc phải làm công việc mà mình không
thích thì chắc chắn là buồn thêm. Ngược lại nếu làm việc
gì mà mình thích thì có thể nguôi ngoai nỗi buồn. Khi nóng
giận, nếu ta tìm một việc khác để làm thì cũng dễ bớt
nóng. Khi lo âu hoặc sợ hãi thì sự làm việc dễ giúp ta
quên đi những âu lo, sợ hãi vô cớ. Nói tóm lại, làm một
việc mà mình thích có thể giúp hoá giải các cảm xúc tiêu
cực, nhất là khi ta hiểu rõ những mặt tích cực cuả sự
làm việc.
Chúng ta thử tìm
hiểu những mặt tích cực cuả sự làm việc:
- đem lại ấm no
cho cá nhân và gia đình;
- cải thiện đời
sống vật chất và tinh thần;
- đóng góp cho
sự phát triển cuả xã hội loài người;
- đem lại ý nghĩa
cho cuộc sống;
- đem lại sự
sáng tạo, một yếu tố quan trọng để tạo nên hạnh phúc
cuả con người;
- đem lại sự
thoả mãn tâm lý;
- làm việc là
thể hiện cho sự sống cuả một người, cho giá trị cá nhân
cuả người đó;
- làm việc là một
sự phối hợp cuả trí óc và chân tay để hoạt động một
cách hữu hiệu; làm việc là hoạt động cần thiết cho trí
não và tay chân để duy trì và phát triển kỹ năng, để tránh
bị thoái hoá, đào thải theo quy luật thiên nhiên;
- chỉ có sự làm
việc mới phản ảnh được giá trị thực cuả một người.
Dù học thức uyên bác, dù bác ái từ bi, nhưng nếu không
làm việc thì cũng chỉ là con số không lớn và có khi còn
là ký sinh trùng cuả xã hội. Chỉ có làm việc thì học thức
uyên thâm mới có giá trị, chỉ có làm việc thì bác ái từ
bi mớI thật là từ bi bác ái. Ngược lại thì chẳng qua chỉ
là đống rác trí thức và đạo đức giả. Làm sao ta từ
bi bác ái được nếu ta cứ muốn "cuả người phúc ta", cướp
công lao động cuả người khác để bố thí cho kẻ nghèo
chẳng qua chỉ là một sự lưà gạt!;
- làm việc là một
yếu tố quan trọng nhất trong đời sống con người. Chỉ
trong làm việc con người mới có sáng tạo, mới thực sự
sống một cuộc sống cao hơn loài vật.
Ngày nay, sự cưỡng
bách lao động nô lệ đã được xoá bỏ, ngoại trừ một
số trường hợp đặc biệt thì những cảm xúc do sự làm
việc gây ra đều là do những yếu tố chủ quan mà ra cả.
Chúng ta thử tìm hiểu các yếu tố chủ quan gây ra những
cảm xúc tiêu cực:
- thành kiến cho
rằng sự làm việc là một hình thức cuả người bóc lột
người. Thành kiến này có thể làm ta trở thành lười biếng,
thoái hoá về tinh thần cũng như về thể chất vì sự thiếu
hoạt động;
- thiếu hoạch định:
không lượng sức mình, làm những việc không phù hợp với
khả năng thể chất và trí tuệ cuả mình có thể gây nên
sự thất bại và các cảm xúc tiêu cực;
- lầm lẫn sự
trốn việc với năng suất cao: không phải làm gì cả mà vẫn
đạt được kết quả có thể cho ta cảm giác là mình khôn
ngoan, may mắn hơn người khác; sự thực đó chỉ là lưà
người, dối mình; sau một lúc phấn khởi ngắn ngủi sẽ
là những cảm xúc lo âu, sợ hãi vì thiếu tự tin trong những
thử thách trong tương lai;
- quan điểm về
cuộc sống "không làm mà hưởng mới là khôn ngoan". Quan điểm
này có thể dẫn đến lười biếng, trốn việc. Sự may mắn
có thể cho phép ta không làm mà hưởng chẳng hạn như trúng
số độc đắc. Nhưng sự trúng số không nhất thiết biến
ta thành ký sinh trùng cuả xã hội, mà trái lại có thể giúp
ta có những cơ hội làm những việc tốt hơn, trong lãnh vực
mình có khả năng hơn. Những mong muốn "không làm mà hưởng"
thường
mãnh liệt khi đời
sống vật chất còn nhiều khó khăn;
- ảnh hưởng phong
kiến khinh thường lao động tay chân.
Như vậy, những
yếu tố chủ quan là những nguyên nhân chính làm chúng ta chán
ngán sự làm việc. Thực ra, ngay cả những công việc mà chúng
ta không thích mà vẫn phải làm cũng có thể mang lại những
lợi ích cho ta, vẫn có thể giúp ta hoá giải các cảm xúc
tiêu cực. Ðể tận dụng thành quả cuả sự làm việc, chúng
ta cần:
- kiểm soát những
yếu tố chủ quan để có thể ngăn chặn những ảnh hưởng
xấu cuả sự làm việc trên cảm xúc cá nhân;
- phân tích những
nguyên nhân gây ra sự lười biếng và nhìn nhận các mặt
tích cực cuả sự làm việc để dần dần loại bỏ những
thành kiến sai lầm, dần dần có một quan điểm đúng đắn
về sự làm việc.
- dùng sự làm việc
để hoá giải các cảm xúc tiêu cực gây ra bởi hoàn cảnh
chung quanh và để tạo nên các cảm xúc tích cực mới.
Nói tóm lại, sự
làm việc không những là một biện pháp để hoá giải các
cảm xúc tiêu cực mà còn là một phương tiện để ta sáng
tạo ra chính cuộc đời của mình
4.10) Tự bảo vệ.
Tại sao tự bảo
vệ lại là một biện pháp để hoá giải các cảm xúc tiêu
cực?
Thực ra hoá giải
các cảm xúc tiêu cực cũng có thể coi như một phương sách
tự bảo vệ bởi vì những cảm xúc này có thể gây những
thiệt hại lớn lao cho chính chúng ta. Nhưng hoá giải các cảm
xúc tiêu cực là một vấn đề vô cùng rộng lớn và khó
khăn nên chúng ta sẽ không bàn đến phương sách tự bảo
vệ này ở đây.
Những phương sách
tự bảo vệ khác gồm có:
- rèn luyện thân
thể, tập võ để có sức khoẻ tốt, phòng ngừa được bệnh
tật, chống đỡ được khi bị kẻ khác hành hung.
- học tập để
hiểu được đâu là nguyên nhân cuả sự nguy hiểm (tránh
những nguy hại cho thể chất cũng như cho tinh thần)
- trang bị khí giơ&uggrave;i
hay nhờ người khác bảo vệ khi cần thiết.
- rèn luyện khả
năng xét đoán để phòng ngừa sự lưà gạt cuả kẻ khác.
- tránh những hòan
cảnh có thể gây nên các cảm xúc tiêu cực v.v...
Trong những phương
sách tự bảo vệ nói trên thì chỉ có phương sách cuốI cùng
là một phương tiện trực tiếp để hoá giải các cảm xúc
tiêu cực. Nếu không phân tích kỹ thì phương tiện này có
vẻ rất thụ động, có thể tạo nên sự nhút nhát, tự cô
lập.
Thực ra "tránh những
hoàn cảnh có thể gây nên cảm xúc tiêu cực" bao gồm nhiều
hành động cụ thể:
- đóng vai khờ
(lờ sự khiêu khích cuả kẻ khác): trong sự tiếp xúc hàng
ngày, có thể có người muốn công kích ta vì một nguyên do
cá nhân nào đó. Sự tảng lờ có thể vô hiệu hoá sự tấn
công cuả người khác.
- im lặng là vàng.
Mặc dầu tham gia nói chuyện là rất cần thiết, nhưng khi
câu chuyện có thể đưa đến sự la hét, cãi lộn ầm ĩ,
thì sự im lặng để có một giải pháp hoà bình, bình tĩnh
thường là giải pháp tốt nhất.
- tìm mọi cách
để đứng ra ngoài một nhóm tranh luận thiếu xây dựng.
- tìm mọi cách
để cắt đứt một cách hoà bình cuộc nói chuyện với kẻ
gây hấn, chẳng hạn như đổi đề tài, lấy lý do bận chuyện
khác để rút lui.
- giúp đỡ nhưng
không lo âu cho bất cứ ai. Lo âu cho người khác không những
đem phiền toái cho mình mà lại không làm được việc gì
thiết thực. Ðáng lẽ lo âu cho con mình không có tương lai
thì ta nên giáo dục cho con mình biết tự lập.
- tự bảo vệ trong
tư duy. Có nhiều khi con người bị ám ảnh bởi sự lo âu,
sợ hãi. Tự bảo vệ trong tư duy là biến ngay những lo âu,
sợ hãi này thành hành động cụ thể, hữu ích cho mình hay
cho người chung quanh.
- tư duy trong sáng.
Có nhiều khi con người bị ám ảnh bởi những chuyện ân
oán. Tư duy trong sáng là có một quan điểm sáng suốt về
ân oán. Người nào có ân với ta thì ta nên nhớ và trả ân
nếu có thể được, người nào có oán vớI ta thì ta nên
tha, không phải để khuyến khích kẻ xấu mà chính là để
tránh cảm xúc tiêu cực, nghĩa là để tự bảo vệ; việc
trừng trị kẻ xấu ta có thể nhờ pháp luật cuả xã hội,
tự mình thay pháp luật không những gây tai hại cho chính mình
mà còn là phạm pháp nữa. Ta nên cảnh giác cao về những
lời
kêu gọi bổn phận
và trách nhiệm đối với thượng đế đối với loài người,
đốI với quốc gia, đối với gia tộc, đối với gia đình
v.v...của những kẻ đầu cơ, những kẻ tội lỗi, những
kẻ lưu manh, những kẻ ăn bám v.v...Tình thương đặt không
đúng chỗ, đúng người chẳng qua chỉ là sự ngu dại. Những
kẻ nói ra là nhân danh người khác, chẳng hạn như nhân danh
thượng đế, nhân danh tổ quốc, nhân danh tập thể, nhân
danh tôn giáo, đa số chỉ là những kẻ lưà gạt.
- Không làm hại
kẻ khác. Ở đây chúng ta không bàn đến khía cạnh đạo
đức mà chỉ bàn đến tính cách tự bảo vệ cuả vấn đề
này. Ðó là một sự tự bảo vệ dài hạn, nếu ta không làm
hại ai thì chẳng ai nghĩ đến chuyện phải trả thù ta, và
ta chẳng cần lo âu bị người khác trả thù.
- Không cần ai có
bổn phận với mình. Ðây là một quan điểm tự lập rất
hữu hiệu cho việc tự bảo vệ. Ta đối xử tốt đối với
người khác để làm đẹp đờI sống cuả chính bản thân
ta chứ không cần để người khác trả ơn. Từ quan điểm
tự bảo vệ đó ta có thể tránh được nhiều thất vọng
về sự bạc bẽo cuả người đời. Ngày xưa đã có người
than rằng "cứu vật vật trả ơn, cứu nhân nhân trả oán",
chẳng qua chỉ vì thiếu tự bảo vệ mà thôi. Nói như vậy
không phải là phủ nhận bổn phận chữa bệnh cuả người
bác sĩ đối với ta khi ta đau ốm; vì đó là trách nhiệm
cuả việc làm cuả người bác sĩ đối với bất cứ một
bệnh nhân nào, chứ không phải bổn phận đối với cá nhân
ta. Từ quan điểm đó ta không cần gì đòi hỏi hoặc cầu
xin người bác sĩ mà chỉ cần suy xét người đó có làm đúng
lương tâm nghề nghiệp hay không, nếu không, ta có thể tìm
cách để đối phó hoặc đổi bác sĩ điều trị.
- Xét lại bổn
phận đối với người khác. Có những niềm tin, có những
tập tục in sâu vào trí não ta những bổn phận, chẳng hạn
như thù nhà, nợ nước, chẳng hạn như bổn phận giúp đỡ
bà con, họ hàng thân thuộc. Ðáng lẽ áy náy vì khó khăn
hoàn thành một bổn phận nào đó thì tại sao ta không tự
hỏI vì sao ta có bổn phận đó? Ngay cả đối với người
mà mình chịu ơn, thay vì lo buồn vì chưa có điều kiện báo
ơn ta có thể cố gắng làm việc thêm để có phương tiện
báo ơn bằng chính mồ hôi và nước mắt cuả mình. Hoàn thành
bổn phận chỉ có giá trị tinh thần, lấy công lao động
cuả người khác để hoàn thành bổn phận cuả mình thì làm
gì có giá trị tinh thần, nếu không phải là đạo đức giả,
là ăn cắp!!
Nói tóm lại, tự
bảo vệ bằng cách "tránh những hoàn cảnh có thể gây nên
cảm xúc tiêu cực" đòi hỏi chúng ta nhiều hành động tích
cực cụ thể. Các hành động này cũng giúp ta hoá giải một
số cảm xúc tiêu cực khi chúng bắt đầu xuất hiện.
4.11) Tự chế.
Tự chế là tự
kiềm chế mình để tránh những điều thái quá, hạn chế
mọi hành động ngông cuồng, mọi sự sa ngã. Như vậy tự
chế có tính cách ngăn ngưà các cảm xúc tiêu cực.
Tại sao tự chế
lại có thể là một biện pháp để hoá giải các cảm xúc
tiêu cực?
Chúng ta thử tìm
hiểu những khó khăn và những thuận lợi cuả sự tự chế,
trước hết là những khó khăn:
- tự chế đòi
hỏi một sự thích ứng đặc biệt với hoàn cảnh, nếu không,
người ta có thể rơi vào tình trạng thái quá cuả tự chế,
cuộc sống sẽ thiếu tươi vui, hạnh phúc. Có người bị
ám ảnh bởi sự tự chế, lúc nào cũng kiêng khem, cũng lo
âu, sợ hãi v.v...
- sự thái quá trong
tự chế cũng tai hại chẳng kém gì sự không tự chế.
- tự chế có thhể
tạo ra cảm tưởng thiếu tự do.
- tự chế có thể
gây nên sự thiếu cởi mở chẳng hạn như vì tự chế để
sống đúng theo lễ giáo cổ truyền con người có thể tự
cô lập với những người chung quanh.
Những thuận lợi
cuả sự tự chế gồm có:
- tránh sa ngã. Con
người luôn luôn có những dục vọng, những đam mê. Sự thỏa
mãn một dục vọng thường sinh ra một dục vọng mới có
cường độ cao hơn. Và cứ thế con người chạy theo dục
vọng càng ngày càng có nhiều dục vọng hơn. Có người cho
rằng dục vọng là nguồn gốc cuả sự đau khổ, muốn hết
khổ ta phải diệt dục. Nhưng thực ra dục vọng là cần thiết
cho hạnh phúc con người. Không có dục vọng nữa thì cuộc
sống còn gì là hạnh phúc. Chúng ta không cần diệt dục mà
chỉ cần tự chế thì ta vẫn hưởng được hạnh phúc cuả
cuộc sống mà vẫn tránh khỏi các cạm bẫy của dục vọng.
Trong đời sống thực tế thì sự trừng phạt cuả thiên nhiên
và xã hội là những sự hạn chế khách quan những dục vọng
của con người, chẳng hạn như xâm phạm tài sản của người
khác thì bị tù. Nhưng những sự hạn chế này thông thường
không hữu hiệu bằng sự tự chế vì không có tính cách tự
giác, tự nguyện và đôi khi có tính cách bất công.
- kiểm soát được
cảm xúc. Nhờ tự chế ta có thể tránh khỏi những hành động
mù quáng, hoàn toàn do sự thúc đẩy của cảm xúc.
- cuộc sống có
trình độ cao. Nhờ tự chế ta có thể có một cuộc sống
hài hoà, tinh thần sáng suốt trong một thể chất lành mạnh.
- cuộc sống có
tình cảm đẹp. Nhờ tự chế ta có thể có được mối liên
lạc đẹp với mọi người, không bồng bột nhất thời, không
phũ phàng phản bội.
- cuộc sống có
ý nghĩa cao. Nhờ tự chế ta không phạm phải những lỗi lầm
mà có khi hối hận suốt đời. Dù có thất bại nhưng nếu
ta tự chế thì cũng dễ dàng hoá giải các cảm xúc tiêu cực
vì ta không có gì phải hối tiếc.
Một khi sa ngã thì
con người không còn khả năng hoá giải các cảm xúc tiêu
cực, vì vậy tự chế phải là điều kiện tiên quyết để
ta có thể hoá giải các cảm xúc tiêu cực, các hình thức
cuả sự đau khổ.
Nhờ tự chế, ta
mới có thể kiểm soát được các hành động thiếu sáng
suốt, bộc phát từ những cảm xúc tiêu cực. Như vậy tự
chế là bước đầu trong quá trình hoá giải các cảm xúc
tiêu cực.
Nhờ tự chế ta
có thể có cuộc sống có ý nghĩa, có trình độ, có tình
cảm đẹp; nguồn gốc của những cảm xúc tích cực; biện
pháp hữu hiệu lâu dài trong việc hoá giải các cảm xúc tiêu
cực.
Nắm vững những
khó khăn và những thuận lợi của sự tự kiềm chế, ta có
thể tránh những khó khăn và phát huy những thuận lợi để
dùng sự tự chế như một biện pháp để ngăn ngừa, để
hoá giải các cảm xúc tiêu cực và để tạo ra các cảm xúc
tích cực.
4.12) Tha thứ.
Thù, giận là những
phản ứng tự nhiên của con người khi bị xúc phạm về vật
chất cũng như về tinh thần.
Ngày xưa, có những
kẻ coi như việc trả thù là cứu cánh của cuộc đời, coi
như là một hình thức thi hành bổn phận làm người. " Thù
nhà, nợ nước từng được coi như việc phải thực hiện
của kẻ anh hùng! ". Ðối với những người có niềm tin đó,
chưa trả được thù thì ăn ngủ không yên! Ðối với họ,
tha thứ là yếu hèn, là khuyến khích những kẻ tội lỗi!
Có người nói lấy
đức báo oán thì lấy gì báo đức!
Có người coi sự
tha thứ kẻ thù là hèn nhát, là vì không đủ khả năng trả
thù!
Ngày xưa, những
hình phạt đối với kẻ bị kết tội nhiều khi mang tính
cách trả thù, chẳng hạn như tùng xẻo, ném đá cho chết
v.v...
Có những nơi người
ta còn giáo dục căm thù để sách động quần chúng nổi dậy
theo sự lãnh đạo của một nhóm người, một đảng phái
v.v...
Ðể hiểu rõ hơn
về những hành động kể trên chúng ta thử tìm hiểu những
mặt tích cực cũng như tiêu cực của sự căm thù; trước
hết là những mặt tích cực:
- sức mạnh của
căm thù. Sự căm thù có tác dụng như một niềm tin, người
trả thù có cảm giác như sống có lý tưởng, có ý nghĩa,
có sức mạnh tinh thần.
- tạo đoàn kết
cho những người có chung một kẻ thù. Sự giáo dục căm thù
có mục đích sách động quần chúng hành động tập trung
để trả thù chung.
- quên được những
khó khăn trước mắt, sự thôi thúc trả thù có thể làm quên
đi những khó khăn về kinh tế thông thường của con người.
- ngăn cản kẻ
khác phạm tội vì sợ bị trả thù.
- là một vũ khí
để tự vệ, kẻ khác không giám tấn công vì sợ bị trả
thù.
- thoả mãn về
quyền lực vì làm kẻ khác sợ, ví dụ như luật "chu di tam
tộc" của bọn vua chúa ngày xưa.
- "sát nhất nhân
vạn nhân cụ", cai trị nhân dân bằng bạo lực thì giải
quyết nhanh chóng được các vấn đề tệ nạn xã hội.
- thái độ thù
nghịch làm cho người khác phải nhượng bộ.
Những mặt tiêu
cực của sự thù hận gồm có:
- thiếu văn minh;
- thiếu tình nhân
loại, nhất là những hình thức trả thù thô bạo.
- thù hận đẻ
ra thêm thù hận " lấy oán báo oán, oán oán chập chùng ".
- mất sáng suốt,
" giận mất khôn "
- trở thành tàn
bạo.
- mất hạnh phúc.
- ảnh hưởng xấu
về lâu dài cho sức khỏe vật chất cũng như tinh thần.
- thay pháp luật
trừng phạt kẻ khác, một hình thức phạm tội.
- thoa mãn tính
ích kỷ xấu xa, vui sướng trên sự đau khổ, sợ hãi của
người khác. Sự vui sướng này rất ngắn ngủi, vô nghĩa.
- bạo động
- tội lỗi
- thiếu cởi mở
- hẹp hòi
- thân tâm rối
loạn
- thoái hoá, có
thể dẫn đến mất nhân tính. Trong chiến tranh lâu dài, thông
thường cả hai bên dần dần trở thành ác quỷ!
Những mặt tích
cực của thù hận thường không phải là những mặt tốt
của loài người, có văn minh, có lý trí sáng suốt, có tình
thương nhân loại. Những mặt tiêu cực của thù hận thì
có thể không những xoá bỏ hạnh phúc của con người mà
còn có thể xóa bỏ ngay cả bản tính con người.
May thay, con người
có thể tha thứ để xóa bỏ hận thù. Chúng ta thử tìm hiểu
những ưu khuyết điểm của sự tha thứ. Trước hết là những
khuyết điểm:
- dễ bị lợi dụng
- thiếu đấu tranh
- thiếu phân biệt
giữa thù và bạn
- chấp nhận sự
tồn tại của kẻ thù
Những ưu điểm
của sự tha thứ:
- xoá bỏ hận thù
- thân tâm dễ
an lạc
- tâm hồn mở
rộng, tránh được những tỵ hiềm nhỏ nhen
- cảm hóa được
người khác
- tăng cường sức
khỏe vật chất và tinh thần
- nâng cao giá trị
con người
- cảm giác sâu
xa ccủa từ bi, bác ái
- biện pháp hữ;u
hiệu để xoá bỏ các cảm xúc tiêu cực. Sự tha thứ làm
vơi bớt nhanh chóng những thù hận, giận hờn; tránh được
buồn bã vì những hành động của người khác; tránh được
lo âu, sợ hãi vì sự oán hờn của kẻ khác.
Ðể tránh khỏi
những khuyết điểm cuả sự tha thứ, ta cần:
- cảnh giác cao
đe&å tránh bị kẻ khác lợi dụng
- tăng cường &nntilde;ấu
tranh bất bạo động
- phân biệt rõ
người tốt, kẻ xấu, người có ích cho xã hội, kẻ nguy
hiểm cho xã hội.
- dựa trên phápp
luật, sự công bằng để loại trừ nguy hiểm cho mình và
cho xã hội.
- quan điểm đứng
đắn về sự tha thứ: tha thứ không phải là quên hết những
lỗi lầm của kẻ khác mà chỉ là để cho người khác có
dịp sám hối, có dịp sửa chữa, có dịp làm lại cuộc đời.
Việc ngăn ngừa kẻ tội lỗi tiếp tục làm điều ác, cũng
như việc lật đổ bạo quyền luôn luôn cần thiết. Với
tinh thần sáng suốt, với thân tâm an lạc thì sự đấu tranh
sẽ hữu hiệu hơn nhiều là sự đấu tranh bằng căm thù và
uất hận. Cách đây nửa thế kỷ, khi sự bạo động còn
là chuyện hàng ngày trong các gia đình, trong các xã hội, Gandhi
đã có thể dùng đấu tranh bất bạo động để đuổi đế
quốc Anh khỏi Ấn Ðộ, đáng suy ngẫm lắm thay!
Với các hành động
kể trên để ngăn ngừa những khuyết điểm của sự tha thứ,
ta có thể dùng sự tha thứ như một biện pháp hóa giải hữu
hiệu các cảm xúc tiêu cực.
4.13) Tu thân.
Nói đến tu thân,
nhiều người nghĩ ngay đến những điều lệ khó khăn, những
ràng buộc rắc rối, những cố gắng không ngừng v.v...nói
chung là những điều không mấy hào hứng, thích thú; có người
còn nghĩ đến ăn uống khổ hạnh, tự hành xác, tự xóa bỏ
đời sống của chính mình v.v...để lo cho những gì xa vời
ở thế giới bên kia, thế giới vô hình, thế giới trong trí
tưởng tượng.
Mỗi ý thức hệ
đều có những hình thức tu thân khác nhau, nhưng tất cả
đều để phục vụ cho quyền lợi của ý thức hệ đó.
Ở đây chúng ta
không bàn tới bất kỳ một ý thức hệ nào và tu thân chỉ
hoàn toàn vì quyền lợi tinh thần và vật chất của bản
thân mình; tu thân chỉ có nghiã là sửa chữa bản thân mình
để có thể sống hài hoà với hoàn cảnh chung quanh với mục
đích để đem lại hạnh phúc ngay lúc này, ngay trong cuộc
sống hiện tại. Bất cứ hình thức tu thân nào đem lại những
sự ràng buộc, sự rắc rối, sự chán nản, sự khổ hạnh,
sự đau đớn, sự căm hờn đều nên loại bỏ. Nói một cách
khác, tu thân ở đây chỉ là một biện pháp để hóa giải
các cảm xúc tiêu cực mà thôi.
Với mục đích
đó, hành động tu thân bao gồm:
- tìm hiểu hoàn
ca&ûnh chung quanh. Sự hiểu biết hoàn cảnh thiên nhiên,
xã hội chung quanh ta là bước đầu để ta tránh những đau
đớn, những khó khăn. Một thí dụ đơn giản: biết trời
sắp lạnh ta phải chuẩn bị áo ấm. Hoàn cảnh chung quanh
ta luôn luôn thay đổi và tiến hoá, nếu ta không theo kịp
thì chắc chắn sẽ bị đào thải, dễ dàng trở thành bi quan
tiêu cực.
- tìm cách để
hoà đồng những đặc tính cá nhân của mình với ngoại cảnh.
Những đặc tính cá nhân của mình đa số được hình thành
dần dần từ lúc thơ ấu tới nay bởi những tác động của
thiên nhiên và xã hội chung quanh ta. Nếu ta lớn lên trong môi
trường mê tín dị đoan thì thông thường ta có xu hướng
bảo vệ các hủ tục; nếu ta được giáo dục trong môi trường
khoa học thì ta thông thường có xu hướng lý luận. Ngoại
trừ những người có đầu óc cách mạng, những kẻ “gần
bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, đa số những đặc tính
cá nhân chỉ là phản ảnh của những hoàn cảnh thiên nhiên
và xã hội chung quanh. Nhưng sự phản ảnh này thường không
theo kịp những tiến hoá của hoàn cảnh chung quanh, nên nếu
không thay đổi kịp bằng cách tu thân thì ta có thể cảm
thấy “đời là bể khổ”, chẳng hạn như một người còn
mang nặng ảnh hưởng về những tiêu chuẩn đạo đức của
“nhị thập tứ hiếu”, lại sống ở thời đại “internet”,
thì có thể bị người chung quanh coi là thành phần nguy hiểm
cho xã hội, cần phải loại bỏ.
- nhìn nhận nhữ;ng
sai lầm, trước hết là trong nội tâm, sau dần dần tiến
tới nhìn nhận sai lầm của mình đối với kẻ khác. Nhìn
nhận sai lầm ở đây không giống như “xưng tội của đạo
Công Giáo” hay “sám hối của đạo Phật”, nhìn nhận sai
lầm ở đây hoàn toàn vì lợi ích tâm lý cá nhân. Chỉ có
nhìn nhận sự sai lầm của chính mình ta mới có thể cải
thiện, mới có thể tiến bộ được, mới có thể xoa dịu
mau chóng những cảm xúc tiêu cực. Trong đời sống thực tế,
nhiều người thường chối bỏ sự sai lầm của bản thân
để tránh sự tấn công của kẻ khác. Vì vậy trong giai đoạn
đầu của tu thân, ta có thể chỉ nhìn nhận sự sai lầm trong
nội tâm ta mà thôi. Ðến giai đoạn cao hơn, thì sự nhìn
nhận sai lầm đối với kẻ khác sẽ trở nên cần thiết;
bởi vì nó đem cho ta sức mạnh để cảm hoá được người
khác.
- sửa chữa những
sai lầm. Lầm lỗi là chuyện bình thường của con người.
Chỉ có người chết mới không còn lầm lỗi. Nhưng nếu biết
mình lầm mà không chịu sửa thì khó thể nào tránh khỏi
sự thù ghét hay tẩy chay của người khác. Hơn nữa, sự cố
gắng sửa chữa những sai lầm sẽ tạo một trạng thái tâm
lý mới, tạo những cảm xúc tiêu cực mới. Nói một cách
khác, sửa chữa những sai lầm là cần thiết để xây dựng
một cuộc sống hạnh phúc.
- tự thắng bản
thân mình. Thắng được kẻ khác đã khó, thắng được những
cái xấu, cái sai của bản thân mình còn khó hơn nhiều. Sự
đấu tranh nào chẳng đòi hỏi sự cố gắng. Nhưng càng khó
khăn thì chiến thắng càng vinh quang. Chiến thắng được cái
sai của bản thân mình không những vinh quang mà còn đem lại
những lợi ích lớn lao.
Những lợi ích
tinh thần và vật chất của sự tu thân bao gồm:
- tự tin
- hướng thiện
- hãnh diện về
việc mình làm
- tự trang bị
những yếu tố căn bản để thành công
- tâm lý phát triển
cao
- nội lực tăng
cường
- tâm hồn thoải
mái
- thân tâm an lạc
- trí não sáng
suốt
- thể chất ít
bệnh tật
- cuộc sống lành
mạnh
- sống có lý tưởng
cao đẹp
- xóa những mặ;c
cảm sai lầm
- xóa những thành
kiến lệch lạc
- xóa những niềm
tin bệnh hoạn
- cảm hoá được
người khác
Nói thì dễ, nhưng
làm thì khó. Muốn tu thân ta phải trước hết tìm cách tránh
sự gò bó vào những mục tiêu cố định bằng cách sống
vui tươi hài hoà vớI mọi người chung quanh, tập để thắng
bản thân mình từ những việc dễ rồi dần dần đến những
việc khó hơn, luôn luôn tu thân một cách thực tiễn, không
viển vông lý thuyết suông. Chẳng hạn ta thấy ngần ngại
trong công việc phải làm hàng ngày. Chúng ta hãy phân tích
những nguyên nhân của sự ngần ngại đó rồi bắt đầu
thực hiện những việc dễ nhất với chủ tâm là làm sao
thực hiện việc đó một cách hào hứng. Vấn đề quan trọng
ở đây không phải là hoàn tất càng nhanh càng tốt công việc
đó, mà là thi hành càng hào hứng càng tốt công việc đó.
Nói một cách khác trong vấn đề tu thân ta phải thay đổi
ngay trong tư duy mục tiêu của việc ta làm: không phải là
năng suất mà chủ yếu là sự hào hứng, vui tươi.
Tu thân ở đây
khác hẳn với cách sống của các người tu hành của các
tôn giáo, với những điều cấm kỵ về thể chất, về sinh
lý, về tinh thần.
Tu thân ở đây
không cần phải kiêng cữ bất cứ việc gì kể cả uống
rượu, đánh bạc, làm tình, hút thuốc v.v...
Tu thân ở đây
là để sống sung sướng, không đau khổ. Chỉ có những gì
tạo ra đau khổ là ta phải kiêng cữ mà thôi. Trước hết
ta tu thân để tránh những đau khổ trực tiếp ngắn hạn.
Một thí dụ đơn giản như ăn quá no thì ý ách khó chịu
nên ta tự nhủ ăn uống phải chăng để bớt khó chịu. Ðến
giai đoạn hai, ta tu thân để tránh những đau khổ gián tiếp
dài hạn. Trong giai đoạn này chúng ta cần suy nghĩ thêm về
những quy luật thiên nhiên và xã hội chẳng hạn như "gieo
gió thì gặt bão". Ðến giai đoạn tiến bộ thì ta cần vận
dụng những quy luật này vào trong cuộc sống hàng ngày. Chẳng
hạn như khi vận dụng quy luật "sự biến đổi về lượng
sẽ dẫn tới sự biến đổi về chất" vào trong công việc
phải làm thì ta không còn đau đớn, bồn chồn, lo âu vô ích
trong 'khi tác động để thay đổi lượng' vì ta biết chắc
rằng sự thay đổi về chất là tất yếu. Một thí dụ cụ
thể, sự tu thân lâu dài đến một lúc nào đó sẽ biến
đổi hẳn bản chất một người từ độc ác thành từ bi.
4.14) Bình tâm.
Ai chẳng biết bình
tĩnh là tốt, nóng nẩy hùng hổ thì dễ hỏng việc. Nhưng
nói thì dễ mà làm thì quá khó. Làm sao bình tâm được khi
sống là đấu tranh không ngừng, không khoan nhượng giữa người
với người. Cây dù muốn lặng nhưng gió chẳng đừng, mình
muốn yên thân nhưng kẻ khác lại muốn lợi dụng mình, muốn
tấn công mình, muốn ăn cướp của do mồ hôi nước mắt
của mình.
Thực ra càng khó
khăn thì sự bình tĩnh càng cần thiết để ta giải quyết
mọi việc hữu hiệu hơn. Sự mất bình tĩnh thường kéo theo
sự mất sáng suốt, sự nông nổi thiếu suy nghĩ, sự nóng
giận làm hư hỏng mọi chuyện v.v...Sự mất bình tĩnh chẳng
qua chỉ là phản ứng tự nhiên của con người đối với
những sự kiện khó khăn của thiên nhiên, của xã hội, của
những người chung quanh v.v...Những phản ứng này có thể
kiểm soát được nhờ biết suy xét, nhờ kinh nghiệm, nhờ
thực tập.
Chúng ta cũng cần
phân biệt những trường hợp "bình tĩnh giả tạo", chẳng
hạn như "điếc không sợ súng" hoặc "ngu si hưởng thái bình"
của những người sống bưà bãi, bạ đâu xâu đấy, khoai
lang bóc ngắn cắn dài. Những trường hợp này thì sự 'không
có phản ứng ngay' không phải là sự bình tĩnh mà chẳng qua
chỉ là sự nhu nhược của tâm hồn, sự lười biếng của
trí tuệ, một hình thức suy thoái của con người. Sự bình
tĩnh chúng ta bàn đến ở đây là sự bình tĩnh trong hành
động chứ không phải sự tê liệt trong hành động.
Chúng ta cũng cần
phân biệt sự bình tĩnh với sự 'không dám phản ứng vì
yếu hèn hay vì nhịn nhục'. Sự yếu hèn hay sự nhịn nhục
có thể gây nên những cảm xúc tiêu cực mãnh liệt, phá hoại
tàn bạo năng lực của người trong cuộc. Sự bình tĩnh giúp
ta lựa chọn hành động có lợi nhất để tránh những cảm
xúc tiêu cực và tạo những cảm xúc tích cực.
Những mặt tích
cực của sự bình tĩnh thì vô số kể, nhưng vấn đề là
làm sao để có thể bình tĩnh được và tại sao bình tĩnh
lại là một biện pháp để hoá giảI các cảm xúc tiêu cực?
Bình tĩnh giúp cho
ta tránh được những hành động điên rồ do những cảm xúc
mãnh liệt gây ra. Chỉ có sự bình tĩnh mới giúp ta nhận
thức được các cảm xúc tiêu cực cùng những tác hại của
chúng, mới giúp ta hiểu được đâu là những nguyên nhân.
Sự bình tâm đòi
hỏi một năng lực đặc biệt, không phải là để dồn nén
các cảm xúc, mà là để ngăn chặn những phản ứng tức
thời thiếu suy nghĩ, để phản ứng một cách khoa học, có
phân biệt phải trái, có phân biệt lợi hại, có hoạch định,
có dự trù thời cơ thuận lợi v.v...
Muốn tìm những
biện pháp để giúp ta luôn luôn giữ được bình tĩnh, ta
hãy thử tìm hiểu những lý do làm ta mất bình tĩnh:
- biến cố lớn
- sự nguy hiểm
đe dọa
- sư thất bại
đe dọa
- sự khó khăn
- bị khiêu khích
- bị nhục mạ
- bị coi thường
- bị đau đớn
- bị mất mát
- bị rối loạn
- sự hoang mang
- sự tuyệt vọng
- sự thay đổi
đột ngột các điều kiện sinh hoạt v.v...
Thông thường càng
lớn tuổi thì người ta thường bình tĩnh hơn vì đã trải
qua nhiều kinh nghiệm, đến khi gặp lại một việc tương
tự thì người ta ít luống cuống hơn, ít bị kích động
hơn. Nhưng với mức tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay
thì thường người già không theo kip trào lưu tiến bộ bằng
người trẻ nên thường không theo kịp các sự thay đổi các
điều kiện sinh hoạt, chẳng hạn như những sự tự động
hoá trong mọi lãnh vực, sự thay đổi nhanh chóng của những
mối liên hệ trong gia đình, ngoài xã hội v.v...
Muốn bình tĩnh
chúng ta cần thấu hiểu các nguyên nhân gây ra sự mất bình
tĩnh và tìm các phản ứng tức thời thích hợp. Phản ứng
tức thời là hành động ngay lập tức để thay thế những
hành động ngoài ý muốn do những cảm xúc tiêu cực gây ra.
Những hành động này cũng có tác dụng hoá giải đôi phần
những cảm xúc đó. Thông thường thì sự bình tĩnh đòi hỏi
một năng lực đặc biệt. Nhưng nếu ta thực tập thường
xuyên thì năng lực sẽ tăng mau và sau một thời gian ta có
thể có những phản ứng với một thái độ hoàn toàn bình
tĩnh. Sự thực tập thường đòi hỏi một sự kiên trì, một
sự cố gắng; nhưng cũng mang lại ngay những lợi ích lớn
lao thiết thực tức thời. Với các nguyên nhân khác nhau, có
thể chúng ta cần có phản ứng tức thời khác nhau tuỳ từng
trường hợp.
Nguyên nhân làm
mất bình tĩnh Phản ứng tức thời:
Biến cố lớn Chuẩn
bị đối phó
Sự nguy hiểm đe
dọa Chuẩn bị đối phó
Sự thất bại
đe dọa Thận trọng hơn
Sự khó khăn Phân
tích để tìm lý do
Bị khiêu khích
Ðánh trống lảng
Bị nhục mạ Cảnh
cáo đối phương
Bị coi thường
Ðánh trống lảng
Bị rối loạn
Nghỉ ngơi
Sự hoang mang Phân
tích
Sự tuyệt vọng
Tìm sự giúp đỡ của bạn bè, người thân
Sự thay đổi các
điều kiện sinh hoạt Phân tích để học hỏi
Bị đau đớn Tìm
sự giúp đỡ của người khác
Bị mất mát Tìm
sự giúp đỡ của người khác
Chuẩn bị đối
phó là hoạch định chương trình một cách tỷ mỉ để đối
phó vớI từng hiện tượng, từng hoàn cảnh khác nhau. Ðánh
trống lảng là một hành động để đánh lạc hướng đối
phương, chẳng hạn như đối phương tìm cách chọc giận mà
mình lại cười lớn thì đối phương khó mà tiếp tục khiêu
khích.
Sau phản ứng tức
thời, thông thường con người lấy lại được sự bình tĩnh
để đối phó với hoàn cảnh. Dĩ nhiên sự đối phó tùy
thuộc khả năng của mỗi cá nhân.
Một hiện tượng
khách quan có thể gây cho ta sự mất bình tĩnh và đồng thời
những cảm xúc tiêu cực. Chẳng hạn như khi bị kẻ khác
nhục mạ, con người thường rơi vào tình trạng mất bình
tĩnh và nổi giận. Sự mất bình tĩnh cộng hưởng với sự
nổi giận có thể dẫn đến những phản ứng cực đoan như
xử dụng bạo lực. Nhưng nếu phản ứng tức thời là cảnh
cáo đối phương thì sự giận dữ cũng tạm thời được
xoa dịu. Vì vậy sự tập luyện để giữ được bình tĩnh
là sự ngăn ngừa hữu hiệu những hậu qủa do phản ứng
của các cảm xúc tiêu cực. Sự bình tĩnh làm dịu bớt những
phản ứng quá khích do các cảm xúc thù hận, giận dữ, buồn
khổ, lo lắng, sợ hãi gây ra, và đồng thời hoá giải dần
dần các cảm xúc đó.
Nói tóm lại chúng
ta có thể tập luyện để luôn luôn bình tĩnh trong sự vận
động không ngừng của cuộc sống. Sự bình tĩnh không những
giúp ta hoá giải các cảm xúc tiêu cực mà còn giúp ta ngăn
ngừa những hậu quả tai hại của những cảm xúc đó.
4.15) Tự động viên.
Nghe nói đến động
viên, có người nghĩ đến những sự bó buộc làm bia đỡ
đạn ngoài chiến trường để phục vụ cho quyền lợi hay
lý tưởng của kẻ khác, có người nghĩ tới những sự sách
động tâm lý để xô đẩy những người ngây thơ vô tội
đâm đầu vào chỗ chết để trở thành thánh tử vì đạo,
anh hùng dân tộc v.v...
Mặc dù có thể
nhìn thấy những ý đồ đen tối ẩn tàng trong những sự
động viên tinh thần, chúng ta cũng không thể phủ nhận sức
mạnh lớn lao mà sự động viên tinh thần có thể đạt được.
Nó có thể kích động người khác lao đầu vào chỗ chết
không chút sợ hãi, lao đầu vào tội ác mà lại tưởng là
đem lại hạnh phúc cho nhân loại. Ở đây chúng ta sẽ dùng
sức mạnh của sự động viên tinh thần để hoá giải các
cảm xúc tiêu cực của chính bản thân mình.
Trong bất cứ tập
thể nào, con người thường làm việc theo sự hoạch định,
điều hành, chỉ huy, kiểm soát của người khác. Vì vậy
nhiều người thường làm việc với một tinh thần tiêu cực,
nghĩa là làm việc vì bị bắt buộc một cách trực tiếp
hay một cách gián tiếp. Ðể tăng năng suất của sự làm
việc, người ta thường cần có một tinh thần tích cực,
để có thể làm việc với nhiều sáng tạo. Sự động viên
tinh thần có mục đích thay đổi tinh thần tiêu cực thành
tinh thần tích cực. Những nhà lãnh đạo đã có thể động
viên tinh thần của cả một dân tộc để làm nên lịch sử.
Chẳng lẽ chúng ta không thể tự động viên để hoá giải
các cảm xúc tiêu cực của mình hay sao?
Muốn có một tinh
thần tích cực để hành động, người ta thường cần những
yếu tố sau đây:
- hiểu rõ mục
đích của hành động của mình.
- tự do trong hành
động để có nhiều sáng tạo.
- yêu việc mình
làm; chẳng hạn như nhà khoa học quên thời gian trong việc
nghiên cứu.
- có những phương
tiện cần thiết cho hành động.
- thù lao xứng
đáng.
Như vậy, nếu muốn
dùng " tự động viên " như một biện pháp để hoá giải
các cảm xúc tiêu cực, ta cần chuẩn bị kỹ các yếu tố
đó; yếu tố "thù lao xứng đáng" có thể thay thế bằng "sự
tự thưởng", chẳng hạn như sau khi hoàn thành một nhiệm
vụ ta đi ăn ở một tiệm mà mình thích.
Hành động của
con người thường rất cuồng nhiệt khi:
- phục vụ cho lý
tưởng.
- phục vụ cho
niềm tin; chẳng hạn như những người sẵn sàng hy sinh tính
mạng để bảo vệ quê hương của họ, bảo vệ tín ngưỡng
của họ, gia đình họ v.v...
- phục vụ cho
công lý.
- phục vụ cho
tình yêu.
- phục vụ cho
quyền lợi bản thân; chẳng hạn như hoá giải các cảm xúc
tiêu cực để mang lại hạnh phúc cho cá nhân mình.
Khi cần hoá giải
một cảm xúc tiêu cực, "tự động viên" là một hành động
tâm lý để tái xác định:
- cảm xúc đó là
phản ứng tự nhiên của con người đối với một hiện tượng
thiên nhiên hay xã hội.
- cảm xúc đó gây
cho mình đau khổ.
- cảm xúc đó có
thể đưa đến những hành động mù quáng, những tác hại
về thể chất cũng như về tinh thần; chẳng hạn như sự
lo âu thái quá có thể làm heó mòn, có thể làm điên loạn.
- hoá giải cảm
xúc đó là cần thiết để loại trừ sự đau khổ.
- chúng ta không
thay đổi được biến cố thiên nhiên hay xã hội, nhưng chúng
ta có thể làm chủ được cảm xúc của chính mình.
- nếu bị tê liệt
tinh thần bởi cảm xúc đó, sự tự động viên có thể giúp
ta tiếp tục hoạt động bình thường, và những hoạt động
này sẽ tạo ra những cảm xúc tích cực mới.
- cảm xúc đó có
tính cách chủ quan, phụ thuộc vào quan điểm, niềm tin của
chính mình.
- mục đích của
"tự động viên tinh thần" là để trở lại ngay hoat động
bình thường với một tinh thần tích cực, để chấm dứt
càng sớm càng tốt tác hại của cảm xúc tiêu cực.
Nói tóm lại, ta
có thể dùng " tự động viên tinh thần " như một biện pháp
để hoá giải các cảm xúc tiêu cực, để có thể trở lại
hoạt động bình thường càng sớm càng tốt với một tinh
thần tích cực. Sự tự động viên cũng tăng hiệu lực của
các biện pháp hoá giải khác và tạo sự phấn khởi khi vận
dụng các biện pháp đó.
Kết luận.
Những hiện tượng
khách quan của thiên nhiên hay xã hội tạo nên những cảm
xúc, những hình thức của hạnh phúc và đau khổ. Những hiện
tượng đó thường ở ngoài tầm tay của chúng ta, nhưng những
cảm xúc lại là vấn đề nội tâm của mỗi người. Vì vậy
hạnh phúc hay đau khổ luôn luôn ở trong tầm tay của ta. Hành
động cá nhân của mỗi người luôn luôn tạo nên cảm xúc
giống như những hiện tượng khách quan. Mười lăm hành động
trình bày ở trên không những có thể tạo nên những cảm
xúc tích cực mới, hình thức của sự hạnh phúc, mà còn
có thể hoá giải được những cảm xúc tiêu cực gây nên
bởi những hiện tượng khách quan. Những hành động này cũng
giúp ta dần dần hiểu rõ những nhu cầu trong nội tâm của
chính mình để tự thoát ra khỏi cái mê hồn trận của dục
vọng, để tối thiểu hoá những tác động tai hại, tối
đa hoá những tác động thuận lợi của ngoại cảnh, để
dần dần thay thế những tình cảnh:
"Cũng
liều nhắm mắt đưa chân
Thử xem con tạo
xoay vần đến đâu!"
(trích truyện Kiều)
bằng những hành động
thực tiễn để có thể:
"Sống
vui trong chốn phong trần
Tiếp tay con
tạo xoay vần thế gian"
Phó Thường Dân
Viết tại Québec,
Canada
Tháng 12 năm 2000
|