Giã
từ bể khổ (1)
Lời
nói đầu:
"Ngũ
thập tri thiên mệnh". Nhớ lời dạy ấy của cha ông, tôi
bỗng quên đi sự hiểu biết nông cạn của mình mà bàn
chuyện giã từ bể khổ, chuyện mà nhiều người coi
như là việc "đội đá vá trời". Nhưng biết đâu ước muốn
"giã từ bể khổ" này chẳng là của chung của nhiều người,
nhất là những người đã hơn một lần phải “vĩnh biệt
quê hương".
Tuy
dựa trên sự phân tích khoa học, nhưng mục đích của người
viết là để đại đa số đồng bào có thể ứng dụng các
biện pháp hóa giải cho trường hợp cá nhân của mình. Người
viết không có tham vọng để truyền bá một học thuyết hay
một cách sống. Tuy vậy người viết không thể giấu niềm
hy vọng được người đọc quan tâm hưởng ứng mà chỉ bảo
thêm để sớm đạt được tình trạng "thân tâm thường an
lạc".
Bài
này gồm có bốn phần:
1.
nhận định
2.
nhu cầu
3.
nhân quả
4.
thực hành: nhận thức, phân tích, xét lại niềm tin, tư duy
tích cực, tự an ủi, vận động, tiếp xúc, sống vui, làm
việc, tự vệ, tự chế, tha thứ, tu thân, bình tâm, tự động
viên.
1. Nhận định:
Từ
khi con người ý thức được sự hiện hữu của mình, sự
đi tìm hạnh phúc trở thành lẽ sống. Muôn ngàn giải pháp
phức tạp đã ra đời, mang nhiều mầu sắc tôn giáo và văn
hóa khác nhau. Kết quả của những giải pháp đó vẫn còn
là những đề tài tranh luận.
Ðể
tránh khỏi những sự tranh luận vô tận, chúng ta thử phân
tích hạnh phúc và đau khổ dưới dạng đơn giản nhất của
chúng.
Con
người tự cảm thấy hạnh phúc sau khi thỏa mãn một nhu cầu
sinh lý, vật chất hay tâm lý. Hạnh phúc được biểu lộ
bằng những cảm xúc tích cực như thương yêu, vồn vã, tươi
vui, thoải mái, tự tin.
Con
người cảm thấy đau khổ khi một nhu cầu sinh lý, vật chất
hay tâm lý không được thỏa mãn. Các hình thức của đau
khổ là những cảm xúc tiêu cực như thù hận, giận hờn,
buồn bã, lo âu, sợ hãi.
Như
vậy hạnh phúc cũng như đau khổ luôn luôn ở trong tầm tay
của tất cả mọi người. Nhưng cuộc sống luôn luôn thúc
đẩy con người cải thiện để sống ở một mức cao hơn,
và càng cố gắng cải thiện thì ta lại càng cảm thấy hạnh
phúc xa vời. Lý do thật đơn giản là sự cải thiện luôn
luôn tao ra muôn vàn nhu cầu vật chất và tâm lý mới, ngoài
ý muốn và ngoài khả năng thỏa mãn của người trong cuộc.
Mọi người đều có thể hiểu rõ quy luật này, nhưng vận
dụng quy luật này thì mỗi người lại vận dụng khác nhau
tùy theo từng hoàn cảnh cá nhân, xã hội, trình độ phát
triển tâm lý của mỗi người.Có người tìm cách rút chân
ra khỏi cuộc chạy đua của cuộc sống, lấy diệt dục làm
phương châm đi tìm hạnh phúc; có kẻ vận dụng quy luật
để hạnh phúc hóa cuộc đời.
Hạnh
phúc và đau khổ luôn luôn như hình với bóng, như hai mặt
đối lập của một thể thống nhất mà ta không thể tách
rời một cách đơn thuần được. Không đạt được điều
mình muốn, có người đã thấy khổ sở; vừa thoát cảnh
khổ, kẻ khác lại tự thấy vô cùng sung sướng; cùng trong
những điều kiện vật chất giống nhau, có người thấy khổ,
có kẻ thấy sướng. Người quen nhàn hạ, gặp việc khó khăn
là thấy đau khổ; kẻ quen sống trong thiếu thốn được tạm
đầy đủ là thấy hạnh phúc rồi; hạnh phúc là nguyên nhân
gián tiếp của đau khổ và ngược lại đau khổ lại là tiền
đề của hạnh phúc.
Sự
thôi thúc tiến lên của cuộc sống tạo ra các nhu cầu vật
chất và tâm lý. Khi được thỏa mãn, các nhu cầu trở thành
nguyên nhân của hạnh phúc, khi vượt khỏi khả năng của
cá nhân, nhu cầu trở thành nguyên nhân của sự đau khổ.
Dứt bỏ mọi nhu cầu là dứt bỏ cả đau khổ lẫn hạnh
phúc là dứt bỏ cuộc sống, là dứt bỏ đóa hoa tuyệt vời
của thiên nhiên. Như vậy để có thể luôn luôn sống trong
vui tươi hạnh phúc ta cần tìm hiểu các nhu cầu trong nội
tâm của chính mình, cần tìm hiểu mối liên hệ nhân quả
của chúng, và cần thực hành các biện pháp hóa giải để
biến tình trạng thụ động trước ngoại cảnh thành tình
trạng chủ động cuộc sống vui tươi của chính mình. Phải
chăng đây cũng là con đường dẫn ta tiến dần tới tình
trạng "thân tâm thường an lạc" để có thể sống một cách
hào hùng, sáng suốt và từ bi?
2. Nhu cầu:
Nhu
cầu có thể tạm phân ra làm ba loại:
- Nhu
cầu sinh lý là những nhu cầu cơ bản cho cơ thể con người,
chẳng hạn như ăn cho khỏi đói, mặc cho khỏi lạnh. Sự
thoả mãn hay không những nhu cầu này tạo cảm giác sướng
hay khổ. Sự thoả mãn đó không tạo nên những nhu cầu mới
nên những nhu cầu sinh lý có tính cách hạn chế. Những nhu
cầu này đã được đáp ứng đầy đủ trong những nước
kỹ nghệ hoá. Các hiện tượng sinh tử lão bệnh đều ở
trong lãnh vực sinh lý cuả con người. Nhu cầu "bất tử" cũng
liên quan đến sinh lý nhưng mang nhiều tính chất tâm lý cuả
ý thức cuả con người. Nhu cầu này có thể tạo ra các nhu
cầu vật chất và tâm lý muôn vàn phức tạp trong đời sống
con người. Chỉ có sự chấp nhận quy luật tuần hoàn cuả
thiên nhiên mới có thể làm dịu bớt nhu cầu này.
- Nhu
cầu vật chất là những nhu cầu về tiện nghi cuả đời
sống con người. Loại nhu cầu này thay đổi tùy theo tình
trạng tiến bộ cuả loài người, tuỳ theo xã hội và tùy
theo sở thích cuả mỗi cá nhân. Loại nhu cầu này là động
cơ thúc đẩy loài người tiến lên, là bản chất cuả xã
hội loài người. Loại nhu cầu này đã thay đổi bộ mặt
cuả trái đất, đã thay đổi dần dần quan hệ giữa người
với người. Sự thoả mãn một nhu cầu vật chất luôn luôn
tạo ra những ước muốn mới và dần dần biến thành những
nhu cầu mới, sự tăng trưởng này nhanh hay chậm tùy theo tình
trạng phát triển tâm lý cuả từng cá nhân.
- Nhu
cầu tâm lý là nhu cầu cuả ý thức loài người, nên thường
có tính cách trừu tượng. Loại nhu cầu này thúc đẩy con
người tạo ra những tài sản văn hoá nghệ thuật. Loại nhu
cầu này bao gồm cả hỉ nộ aí ố tham sân si. LoạI nhu cầu
này thay đổi tuỳ theo trình độ phát triển cuả loài người.
Khi vật chất còn quá thiếu thốn, con người thường mong
ở phép lạ, ở phúc đức, ở ơn trên v.v...để giải quyết
những khó khăn vật chất hàng ngày. Ngày nay ở những nước
đã phát triển, những mong muốn này vẫn còn tồn tại, thường
không phải để giải quyết những khó khăn hàng ngày, mà
để hy vọng thực hiện được những ước muốn cuả con
người. Trí tưởng tượng cuả con ngườI có thể tạo các
ước muốn muôn hình muôn vẻ. Khi ước muốn trở thành một
nhu cầu thì thông thường chỉ có thể giải quyết bằng những
biện pháp tâm lý. Tất cả các nhu cầu không có tính chất
sinh lý và vật chất chẳng hạn như văn hoá, ngôn ngữ, chính
trị, tôn giáo v.v... đều có thể xếp vào loại nhu cầu tâm
lý.
Sự
phân loại các nhu cầu thực ra chỉ có mục đích đơn giản
hoá vấn đề, để tránh bị lạc lối trong muôn ngàn nhu cầu
cuả con người. Thực ra một nhu cầu cuả con người có thể
có cả ba tính chất sinh lý, vật chất và tâm lý; và ba tính
chất này luôn luôn tác dụng hỗ tương để lôi cuốn con
người vào mê hồn trận.
Bản
chất cuả các nhu cầu vật chất và tâm lý có tính cách luôn
luôn biến động. Một thói quen cũng có thể tạo thành một
nhu cầu tâm lý, sự bức thiết cuả một nhu cầu sinh lý có
thể xoá bỏ hai loại nhu cầu kia, một nhu cầu tâm lý mãnh
liệt có thể thay đổi những nhu cầu sinh lý và vật chất
cuả một người. Nhu cầu vật chất rất phức tạp nếu so
với nhu cầu sinh lý, nhưng nhu cầu tâm lý lại muôn ngàn lần
phức tạp hơn và thường bao gồm cả nhu cầu vật chất,
chẳng hạn như muốn hơn người khác là một nhu cầu tâm
lý bao gồm những nhu cầu vật chất. Nhu cầu tâm lý thay đổi
với thời đại, với trình độ tâm lý cá nhân, với phong
tục tập quán, với văn hoá, v.v...
Nhu
cầu nói chung thì phức tạp và vô tận, nhưng đối với mỗi
cá nhân thì luôn luôn có thể phân tích các mặt tích cực
cũng như tiêu cực cuả mỗi nhu cầu để có thể hoá giải
sự thúc bách cuả nhu cầu. Sự tìm hiểu sự vận động cuả
vạn vật trong thiên nhiên, trong xã hội và trong nội tâm mình
có thể tăng cường năng lực phân tích cuả chúng ta để
sớm vạch ra phương hướng cho bản thân mình.
Sau
đây là một vài thí dụ cụ thể về nhu cầu tâm lý mang
nặng tính chất vật chất. Khi những nhu cầu sinh lý và vật
chất căn bản đã giải quyết xong, con người thường nghĩ
đến sự hưởng thụ. Nhu cầu hưởng thụ là một nhu cầu
tâm lý nhưng thường lại có tính vật chất, chẳng hạn như
muốn nghe nhạc thì cũng cần dụng cụ vật chất để phát
âm.
Sự
phân tích các mặt tích cực và tiêu cực cuả các nhu cầu
hưởng thụ giúp ta nhìn thấy sự ảnh hưởng cuả chúng đối
vơí bản thân mình và nếu cần loại bỏ một nhu cầu nào
đó thì sự phân tích đó có thể giúp ta bước được bước
đầu, một bước khó khăn nhất.
a) Ðánh bạc:
ta thử phân tích các mặt tích và tiêu cực cuả nhu cầu này
Những
mặt tích cực cuả đánh bạc:
- thích
thú khi thắng
-
cảm giác mạnh
-
vui với bè bạn
Những
mặt tiêu cực cuả đánh bạc:
- thua
thì cay, càng cay càng dễ thua và có thể đi đến phá sản
-
lười vận động
-
ghiền
-
mất tự tin
-
mất tự chủ
-
mất nhân cách
b) Uống rượu.
Cũng
giống như nhu cầu "đánh bạc", nhu cầu uống rượu là một
nhu cầu hưởng thụ phổ biến.
Những
mặt tích cực cuả uống rượu:
- cảm
giác yêu đời
-
vui với bè bạn
-
maú lưu thông tốt
Những
mặt tiêu cực cuả uống rượu:
- ghiền
rượu
-
tốn kém có thể đi đến phá sản
-
lười vận động
-
hại sức khoẻ
-
mất tự tin
-
mất tự chủ
-
mất nhân cách
c) sa đoạ: sa
đoạ (chẳng hạn như hút sách) là một loại nhu cầu tâm
lý nguy hiểm nhất.
Những
điểm tích cực:
- cảm
giác mạnh
-
vui bè bạn
-
tăng cường sinh lực ngắn hạn
Những
điểm tiêu cực:
- ghiền
-
tốn kém rất nhiiều và thường dẫn đến tội lỗi
-
lười vận động
-
mất tự tin
-
mất tự chủ
-
mất nhân cách
-
bệnh hoạn
-
mất cả cuộc đời
Sa
đoạ lúc đầu không phải là một nhu cầu mà là một sự
sa ngã vì yếu lòng, vì bị cám dỗ, vì hoàn cảnh đặc biệt
nào đó. Sau một thời gian sự sa ngã thường trở thành sa
đoạ, một nhu cầu nguy hiểm và ít người tự thoát ra được.
Sự
kiêng khem cuả một số nhà tu hành có thể giúp họ quen với
sự kiểm soát những nhu cầu bản thân, dần dần tạo thành
một khả năng đặc biệt chống lại mọi cám dỗ.
Nhưng
nếu ta thấu hiểu các nhu cầu cuả bản thân mình, nhất là
những mối liên hệ nhân quả cuả chúng, thì không cần kiêng
khem chúng ta cũng có thể dần dần tạo ra khả năng đó.
3. Nhân quả:
Trong
pham vi bài này chúng ta chỉ bàn đến những liên hệ nhân
quả cuả hạnh phúc và đau khổ, cuả các nhu cầu sinh lý,
vật chất và tâm lý.
Mọi
hiện tượng xảy ra chung quanh ta đều tuân theo những quy luật
thiên nhiên và xã hội nghĩa là đều có quan hệ nhân quả.
Muốn có quả thì ta phảI tạo ra nhân, nghĩa là ta phải hành
động để đạt được kết quả. Chúng ta thử quan sát vài
quan hệ nhân quả trong cuộc sống hàng ngày.
- Sự
phân tích để thấy rõ cả hai mặt tích cực và tiêu cực
của mỗi nhu cầu giúp ta có cái nhìn đúng đắn hơn về nhu
cầu đó. Sự phân tích là cái nhân, cái nhìn đúng đắn là
cái quả. Cái nhìn đúng đắn là bước đầu trong việc kiểm
soát hoặc loại bỏ một nhu cầu cuả bản thân mình.
- Hành
động tạo ra cảm xúc, làm chủ được hành động mình dẫn
tới làm chủ được cảm xúc mình. Hành động là cái nhân,
cảm xúc là cái quả. Cũng nên nhắc lại rằng cảm xúc là
hình thức cuả hạnh phúc hay đau khổ. Làm việc quá sức
mình, ta cảm thấy khổ sở, nhưng không có việc gì để làm,
ta lại cảm thấy buồn. Sau khi giúp đỡ người khác, ta cảm
thấy tự hào về chính mình. Làm việc gì có hại cho người
khác, ta cảm thấy áy náy, hối hận. Nắm vững quan hệ nhân
quả giữa việc làm cuả mình và cảm xúc sau mỗi việc làm,
ta có thể dần dần tạo ra được cảm xúc tích cực cho chính
mình, tăng cường hạnh phúc cho bản thân mình.
- Ðun
nước sôi là làm tăng nhiệt độ trong nước, khi nhiệt độ
đạt tới 100 độ C thì nước biến chất từ thể lỏng sang
thể hơi. Sự biến chất đó là do " sự thay đổi về lượng
dẫn tới sự thay đổi về chất ". Sự thay đổi về lượng
là cái nhân và sự biến chất là cái quả. Thời gian là lượng,
hạnh phúc hay đau khổ là chất; hạnh phúc sau một thời gian
dài có thể biến chất để trở thành buồn tẻ, một hình
thức cuả đau khổ; đau khổ sau một thời gian dài có thể
biến chất thành những đức tính chịu đựng đặc biệt,
một cái nhân mới để tạo hạnh phúc.
- Hạt
lúa trước khi nẩy mầm thì phải thối rữa đi. Sự xóa bỏ
hiện trạng là cần thiết để tiến lên một trạng thái
mới. Sự xóa bỏ là cái nhân, đôi khi rất đau đớn cho con
người, để tạo ra cái quả tốt đẹp hơn. Một xã hội
muốn tiến lên một trình độ cao hơn thì sự xoá bỏ những
quan hệ xã hội hiện hữu là tất yếu. Một người muốn
sống hạnh phúc hơn cũng phải cương quyết xoá bỏ những
mầm mống cuả đau khổ luôn luôn ẩn tàng ở trong nội tâm
mình.
- Hạnh
phúc & đau khổ luôn luôn trong tầm tay cuả mọi người
và liên hệ với nhau giống như một mối tương quan nhân quả:
hạnh phúc là nguyên nhân gián tiếp cuả đau khổ và ngược
lại. Vì thế có người than rằng đời là bể khổ, có người
cho rằng sướng và khổ cộng lại thành số không. Mặc dầu
hạnh phúc không thể là nguyên nhân trực tiếp cuả đau khổ,
nhưng hạnh phúc nâng cao nhu cầu cuả con người; dần dần
nhu cầu sẽ vượt khỏi khả
năng
cuả đương sự và trở thành nguyên nhân cuả đau khổ. Ngược
lại, đau khổ hạ thấp nhu cầu cuả con người; dần dần
sự thoả mãn nhu cầu ở trong tầm tay cuả đương sự và
trở thành nguyên nhân cuả hạnh phúc.
- "Thất
bại là mẹ thành công". Câu an ủi cuả cha ông ngày trước
mỗi khi ta thất bại, không những chỉ là lời an ủi mà còn
ẩn tàng một liên hệ nhân quả giữa thất bại và thành
công; sự thất bại giống như sự trui rèn khả năng cá nhân
để có thể thành công trong những thử thách tương lai; sự
thành công có thể đem lại sự kiêu căng, sự thiếu thận
trọng, những mầm mống cuả sự thất bại trong tương lai.
Liên hệ giữa thất bại và thành công cũng giống như liên
hệ nhân quả giữa đau khổ và hạnh phúc vậy.
- Sự
thoả mãn một nhu cầu vật chất hay tâm lý luôn luôn tạo
ra một ước muốn mới. Như vậy sự thoả mãn là nhân và
ước muốn mới là quả. Khi ước muốn đó trở thành một
nhu cầu thì sự thoả mãn nhu cầu đó lại tạo ra một ước
muốn khác. Cái quả trở thành cái nhân và cứ thế tiếp
tục cho đến khi vượt khỏi khả năng cuả người trong cuộc
và biến thành cái nhân cuả sự đau khổ.
Liên
hệ nhân quả cuả các nhu cầu vật chất và tâm lý như một
chuỗi dài vô tận và không ai thoát ra được, ngoại trừ
trường hợp cắt đứt hẳn liên hệ với cuộc sống như
một số nhà tu hành khổ hạnh. Mặc dầu không thoát ra khỏi
chuỗi dài vô tận đó, nhưng con người luôn luôn có tự do
chọn lựa: để các nhu cầu nhấn chìm mình trong bể trầm
luân hay hạnh phúc hoá cuộc đời cuả chính mình. Hạnh phúc
không thể là nằm chờ sung rụng mà là chính ta phải hái
sung, phải hành động để hoá giải các cảm xúc tiêu cực,
để dần dần đạt
được
"thân tâm thường an lạc".
4. Thực hành.
Tìm
hiểu các nhu cầu cuả chính mình, tìm hiểu liên hệ nhân
quả cuả chúng chỉ là bước đầu để ta hiểu rõ hơn những
nguyên nhân gây ra đau khổ cho chính mình, chỉ là lý thuyết
suông nếu chúng ta không vận dụng được vào đời sống
thực tiễn hàng ngày để có thể luôn luôn sống trong vui
tươi, hạnh phúc.
Tác
động cuả các hiện tượng khách quan gây ra những cảm xúc
tích cực hay tiêu cực trong nội tâm chúng ta; những cảm xúc
này lại tác động trên tình trạng tinh thần và sức khoẻ
cuả chúng ta và trở thành những nguyên nhân trực tiếp cuả
hạnh phúc hay đau khổ.
Về
lý thuyết thì nếu chúng ta có thể hạn chế được nhu cầu
thì chúng ta có thể tránh đau khổ. Nhưng trong thực tế, những
ảnh hưởng cuả các hiện tượng khách quan sẽ thúc đẩy
sự hạn chế đó ra khỏi tầm tay cuả chúng ta và ta lại
rơi vào vòng đau khổ. Vì vậy, về phương diện thực hành,
chúng ta phải đi ngược chiều nghiã là đáng nhẽ hạn chế
nhu cầu thì ta phải chận đứng ngay sự đau khổ bằng cách
hoá giải ngay các cảm xúc tiêu cực. Sau
đây
chúng ta sẽ bàn luận về các biện pháp hoá giải. Tùy theo
cường độ cuả sự đau khổ, chúng ta có thể phải dùng
một hay nhiều những biện pháp trình bày sau đây:
4.1) Nhận thức.
Trong
cuộc sống, chúng ta thường phấn đấu để tồn tại, để
giầu sang hơn, để có nhiều quyền lực hơn, để nổi danh
hơn v.v...Khi thành công thì chúng ta cảm thấy hạnh phúc, khi
thất bại thì chúng ta thấy đau khổ. Hạnh phúc và đau khổ
thường được biểu hiện bằng những cảm xúc tích cực
và tiêu cực. Những va chạm trong cuộc sống hàng ngày thường
gây ra những cảm xúc tiêu cực và tích cực sau đây:
- Thù
hận hoặc yêu thương
-
Giận hờn hoặcc vồn vã
-
Buồn bã hoặc vui tươi
-
Lo âu hoặc thoải maái
-
Sợ hãi hoặc ttự tin
Những
cảm xúc trên và điều kiện cá nhân có những anh hưởng
hỗ tương. Ðiều kiện cá nhân ở đây có nghĩa là tình trạng
tinh thần và thể chất cuả mỗI người. Một cảm xúc mạnh
có thể gây ra những rối loạn trầm trọng cho tinh thần và
thể chất một người. Ngược lại, cùng một hiện tượng
thiên nhiên hoặc xã hội, cảm xúc lại thay đổi tuỳ theo
điều kiện cá nhân.
Con
người thường bất lực trước các hiện tượng thiên nhiên
và xã hội; vì thế có nhiều người tin vào số mạng; một
hình thức tiêu cực cuả phản ứng cuả con người. Mặc dầu
sự bất lực đó, có người lại có phản ứng tích cực
để đem lại hạnh phúc cho bản thân mình; vì tuy không thay
đổi được hiện tượng khách quan nhưng con người luôn luôn
có thể thay đổi được cảm xúc chủ quan. Bước đầu để
thay đổi cảm xúc chủ quan là phải nhìn nhận sự hiện hữu
cuả các cảm xúc tiêu cực cũng như những ảnh hưởng tàn
phá cuả chúng trên tinh thần và thể chất con người.
Hiện
tượng khách quan có thể tạo nên các cảm xúc tiêu cực:
thù, giận, buồn, lo, sợ. Các cảm xúc này lại có thể tiêu
hao năng lực tinh thần và thể chất cuả mỗi cá nhân; và
tình trạng suy sụp cuả tinh thần và thể chất lại tạo
thêm những cảm xúc tiêu cực mới. May thay, thiên nhiên cho
chúng ta một phép nhiệm mầu là thời gian để xoá bỏ dần
dần những đau khổ. Nhưng nếu thời gian không kịp thời
hoá giải thì những cảm xúc này lại gây nên những tàn phá
cho tinh thần và thể chất, nghĩa là chúng trở thành những
nguyên nhân trực tiếp mới cuả sự đau khổ. Hơn nữa, đời
người thì ngắn ngủi và thờI gian chẳng đợi chờ ai; cớ
sao ta lại đợi chờ thời gian hoá giải hộ mình?
Nhìn
nhận sự hiện hữu cuả các cảm xúc tiêu cực, để tìm
cách hoá giảI chúng, giúp ta tránh khỏi các biến chứng trầm
trọng cuả chúng. Sự dồn nén một cảm xúc tiêu cực có
thể gây ra những khủng hoảng về tâm lý. Thông thường khi
quá đau khổ, phản ứng tự nhiên cuả con người là khóc
lóc, than van. Những hành động tự nhiên này có tác dụng
làm diụ bớt tức thời các cảm xúc quá mạnh. Nhưng những
bất mãn, bực bội có nhiều khi không bộc phát ra được,
và chồng chất lâu ngày sẽ trở thành những ẩn ức về
tâm lý, rất nguy hại cho sức khoẻ tinh thần và thể chất.
Ðôi khi vì phong tục, vì văn hoá, vì các niềm tin cố định,
con người tự dối mình về sự hiện hữu cuả các cảm xúc
tiêu cực, dần dần chúng trở thành những ẩn ức tâm lý
xói mòn tinh thần và thể chất cuả người trong cuộc.
Nói
tóm lại, nhận thức sự hiện hữu và các ảnh hưởng tàn
phá cuả cảm xúc tiêu cực trên tinh thần và vật chất cuả
con người giúp ta hiểu rõ nguyên nhân cuả sự đau khổ, giúp
ta nhìn rõ hơn những mục đích cuả cuộc sống:
- Tìm
cách thoả mãn những dục vọng và những nhu cầu phù hợp
với khả năng cuả mình để hạnh phúc hoá cuộc sống.
- Hành
động để hoá giải các cảm xúc tiêu cực gây ra bởi các
hiện tượng khách quan để baỏ toàn năng lực, để có sức
thực hiện những gì mình mong muốn, để sáng tạo một cuộc
sống đầy ý nghiã.
4.2) Phân tích:
Muốn
hiểu rõ được nguyên nhân cuả sự đau khổ ta cần phân
tích từng trường hợp cụ thể. Chỉ có sự phân tích các
mặt tích cực cũng như tiêu cực cuả một hiện tượng cá
biệt mới giúp ta có thể quan sát nó một cách khách quan.
Ðứng
trước một hiện tượng thiên nhiên, xã hội hay cá nhân,
mỗi người trong chúng ta thường có một cái nhìn riêng biệt.
Cái nhìn đó có thể là thờ ơ, có thể là thù ghét hay thương
yêu, giận hờn hay phấn khởi, buồn bã hay vui tươi, lo âu
hay thoải mái, sợ hãi hay tự tin. Sự khác biệt đó tùy thuộc
ở tình trạng tinh thần và thể chất cuả mỗi người; bao
gồm cả văn hoá, phong tục tập quán, quyền lợi cá nhân
hay tập thể, những kinh nghiệm đã trải qua, những mơ ước
trong tương lai, những thôi thúc về sinh lý, về tình yêu,
về
niềm
tin, về lý tưởng v.v...
Hiện
tượng nào thì cũng có những mặt tích cực và những mặt
tiêu cực. Có người hỏi: tôi mới thi rớt, thế thì có ma
gì là tích cực! Nhưng nếu ta chịu phân tích thì ta thấy
ngay là hiện tượng thi rớt cũng có những mặt tích cực
cuả nó:
- thất
bại là mẹ thành công. Sự thất bại có thể giúp ta gặt
hái thêm kinh nghiệm để có thể tránh khỏi những thất bại
lớn hơn, để có dịp suy xét lạI những khuyết điểm đã
qua, để trưởng thành hơn v.v...
- sự
thất bại làm tăng giá trị cuả sự thành công tương lai.
- cùng
tắc biến, biến tắc thông. Nhiều khi sự thất bại là cần
thiết để cho chúng ta làm những bước nhẩy vọt trong đời.
Nếu không rớt, có khi ta cứ loay hoay mãi với một ngành không
phù hợp với khả năng cuả ta.
- phủ
định cuả phủ định! Nếu hạt luá không ung thối thì không
thể nào nẩy mầm nổi! Con người nếu chưa trải qua những
giai đoạn cực kỳ khó khăn thì không thể nào phát triển
toàn diện được! Một đứa trẻ được nuông chiều chắc
chắn sẽ trở thành hư đốn! Nếu không bao giờ rớt, con
người có thể trở thành kiêu căng và chắc chắn sẽ phạm
những lỗi lầm cực kỳ ngu dốt! Ngày xưa, trong xã hội cực
kỳ trọng bằng cấp mà có người đã nói rằng thi đỗ sớm
là vô phúc! Ðúng thay!
Càng
phân tích thì ta càng thấy hiện tượng thi rớt có thể mang
lại rất nhiều ích lợi cho kẻ trong cuộc. Ngược lại thì
hiện tượng thi rớt có thể đưa các tâm hồn yêu đuối
đến tự tử hoặc đau khổ, khóc than, tuyệt vọng v.v...
Nói
một cách khác, sự phân tích có thể giúp ta hoá giải các
cảm xúc tiêu cực, thu ngắn hay xoá bỏ thời gian đau đớn,
bước đầu trong việc biến đau thương thành sức mạnh để
đạt được những thành công trong tương lai.
Sự
phân tích không những cần thiết khi chúng ta gặp một hiện
tượng bất thuận lợi, mà cả trong những trường hợp thuận
lợi. Khi sự phân tích các mặt tích cực và các mặt tiêu
cực trở thành một thói quen thì ta sẽ hiểu rõ những nguyên
nhân cuả những cảm xúc hay nguyên nhân cuả đau khổ và hạnh
phúc. Một thí dụ cụ thể, chúng ta thử phân tích các mặt
tiêu cực cuả sự trúng số độc đắc. Ai trong chúng ta mà
chẳng mơ ước có những may mắn lớn lao như trúng số độc
đắc. Có người sẽ cho là ngu xuẩn khi đi phân tích các mặt
tiêu cực cuả hiện tượng này. Kể ra thì sự phân tích này
không cần thiết vì chắc chẳng dễ gì mà trúng độc đắc.
Tuy nhiên, sự phân tích có thể đem lại những cái bất ngờ:
- số
độc đắc làm cho người thụ hưởng mất hết bạn bè,
-
cảm
thấy nhàm chán sau một thời gian ngắn,
-
mất niềm tin vào thành quả lao động,
-
tiêm nhiễm những thói xấu (tứ đổ tường)
-
hưởng thụ bừa bãi,
-
tiêu xài không suy nghĩ
-
khi hết tiền thì; thấy khốn khổ rất nhiều so với cuộc
sống trước khi trúng số v.v...
Sự
phân tích trên không phải là vô ích vì nó giúp ta hiểu rõ
hơn giá trị cuả lao động, cuả sáng tạo, những yếu tố
căn bản cuả hạnh phúc con người.
Ðứng
trước một hiện tượng thiên nhiên, xã hội hay cá nhân,
tuy mỗi ngườI đều có thể có những thái độ và cảm xúc
riêng biệt, nhưng sự phân tích sẽ giúp cho ta hiểu rõ tại
sao ta lại có những thái độ và cảm xúc đó. Hiểu được
nguyên nhân cuả thái độ và cảm xúc là ta đã tiến được
một bước quan trọng trong quá trình hoá giải các cảm xúc
tiêu cực. Một thí dụ cụ thể, ta có một cảm xúc thù ghét
một hoạt động tôn giáo hay chủ thuyết nào đó. Khi phân
tích ta mới thấy ngay lý do chính là vì hoạt động đó đi
ngược lại những niềm tin hiện hữu cuả ta. Nhưng nếu hoạt
động đó phù hợp với niềm tin cuả ta, thì có thể ta lại
hoàn toàn ủng hộ hành động đó. Như vậy hoạt động tôn
giaó hay chủ thuyết nói trên không phải là nguyên nhân thật
cuả sự thù ghét cuả ta.; mà chính niềm tin hiện hữu trong
ta là nguyên nhân cuả sự thù ghét. Cảm xúc này có thể gây
ra ảnh hưởng tai hại cho tinh thần và thể chất cuả ta,
nếu ta không hiểu rõ nguyên nhân cuả nó.
Tóm
lại nhờ phân tích ta hiểu rõ hơn nguyên nhân cuả sự đau
khổ, ta có thể tiến xa hơn trong quá trình thu ngắn hay xoá
bỏ thời gian đau khổ.
4.3) Niềm tin:
Nhiều
người sống vì niềm tin, sống cho niềm tin, và sẵn sàng
chết cho niềm tin cuả họ. Niềm tin có thể tạo nên sức
mạnh phi thường, sự can đảm, sự anh hùng, v.v...Nhưng niềm
tin cũng có thể tạo ra những tai hoạ khủng khiếp cho loài
người, chẳng hạn như chiến tranh tôn giáo, chiến tranh ý
thức hệ, v.v...
Nói
một cách khác, niềm tin cũng giống như mọi hiện tượng
khác, nghĩa là có những mặt tích cực và những mặt tiêu
cực.
Sự
khác biệt về niềm tin cuả chúng ta thường do sự khác biệt
về văn hoá, về phong tục tập quán, về giáo dục, về kinh
nghiệm bản thân, về hoàn cảnh thiên nhiên và xã hội chung
quanh, v.v...Niềm tin là một phạm trù siêu hình, có ảnh hưởng
rất lớn lao trên suy tư, tình cảm và cảm xúc cuả con người.
Cùng một hiện tượng thiên nhiên, xã hội hay cá nhân, sự
khác biệt về niềm tin cuả hai người có thể tạo nên hai
phản ứng hoàn toàn khác biệt: ngườI này thì phấn khởi
trong khi kẻ kia lại lo âu.
Ðể
hiểu rõ hơn về niềm tin, chúng ta thử phân tích từng loại
niềm tin:
- Niềm
tin cố định: người có loại niềm tin này thường không
chấp nhận bất cứ những gì trái với niềm tin cố định
cuả họ. Họ có thể có những hành động can đảm, anh hùng
để bảo vệ niềm tin cũng như những hành động cuồng tín,
tàn bạo, phi nhân để cải tạo tư duy người khác.
- Niềm
tin sống động: người có loại niềm tin này có thể chấp
nhận sự thay đổi niềm tin, có thể tìm hiểu những mặt
tích cực cũng như tiêu cực cuả niềm tin cuả mình cũng như
cuả người khác. Loại niềm tin này đòi hỏi một sự cố
gắng không ngừng; nếu không ta có thể rơi vào tình trạng
khủng hoảng tinh thần, sống trong hoài nghi, thiếu những nguyên
tắc căn bản trong cuộc sống.
- Niềm
tin gây những cảm xúc tiêu cực: có những niềm tin không
còn phù hợp với những điều kiện mới cuả thiên nhiên
và xã hội. Người có loại niềm tin này thường hay bi quan
tiêu cực, thở vắn, than dài, luôn luôn bất mãn v.v...Chẳng
hạn như niềm tin " đời là bể khổ " có thể dẫn ta đến
chối bỏ cuộc đời. Ngược lại, niềm tin này đã có thể
xoa dịu sự đau đớn cho một số người.
- Niềm
tin phong phú hoặc cuộc sống: có những niềm tin đem lại
sự lạc quan, yêu đời, nhiệt tình trong cuộc sống v.v...Chẳng
hạn như niềm tin " hiện tượng nào dù xấu đến đâu cũng
có những mặt tích cực cuả nó ". Niềm tin này không có tính
cách cố định vì một hiện tượng có thể mang hạnh phúc
cho kẻ này lại mang đau khổ cho kẻ khác.
Ta
cũng có thể phân loại niềm tin theo tính cách khoa học hay
tâm lý, thiên nhiên hay nhân tạo, có tính cách xã hội hay
cá nhân v.v...
Nói
tóm lại, niềm tin nào cũng có những mặt tích cực và những
mặt tiêu cực. Những kẻ đầu cơ chính trị đã lợi dụng
sức mạnh cuả niềm tin để gây ra chiến tranh, để thực
hiện tham vọng cuả chúng. Kẻ thức thời có thể dùng những
mặt tích cực cuả niềm tin để đem lại hạnh phúc cho chính
mình và cho kẻ khác.
Niềm
tin có ảnh hưởng trực tiếp trên cảm xúc cuả con người.
Ðôi khi tập tục trở thành niềm tin cố định, và niềm
tin này có thể tạo nên những cảm xúc tiêu cực. Một thí
dụ cụ thể như sự lễ phép trong văn hoá và ngôn ngữ Việt
Nam. Người quen với tập tục này có thể cảm thấy bị xúc
phạm bởi những kẻ không tôn trọng tập tục này và có
thể có những phản ứng hung hăng, thiếu văn minh. Ngày xưa,
đã có kẻ biết tác dụng kinh hoàng cuả các cảm xúc tiêu
cực: trong truyện Tam Quốc, Khổng Minh đã có thể dùng lời
nói khiến kẻ khác hộc máu chết tại chỗ. Có thể người
ta đã thần thánh hoá câu truyện, nhưng dầu sao người ta
cũng đã nhận thức được sức mạnh phá huỷ kinh hồn cuả
cảm giác tiêu cực: lý luận để kẻ khác nổi điên có thể
làm kẻ này đứt mạch máu chết tại chỗ.
Như
vậy, nguyên nhân làm cho con người đau khổ có thể chính
là niềm tin cuả mình. Làm sao yên vui cho được khi thấy chung
quanh mình những kẻ thành công rực rỡ đa số là người
lưà bịp, trong khi niềm tin " ở hiền gặp lành " còn thống
trị trong tâm tư mình. Sự đau đớn này rõ ràng không phải
do ngoại cảnh mà do chính niềm tin cố định trong tâm hồn
ta.
Sau
khi nhận thức sự hiện diện cùng tác hại cuả các cảm
xúc tiêu cực, sự phân tích giúp ta nhìn thấy các mặt tích
cực cũng như tiêu cực cuả từng hiện tượng. Sau khi phân
tích ta có thể thấy được niềm tin có thể là nguyên nhân
chính cuả một sự đau khổ nào đó, sự thay đổi một niềm
tin cố định bằng một niềm tin sống động có thể giúp
ta hoá giải mau chóng một cảm xúc tiêu cực tai hại. Chẳng
hạn như niềm tin "ở hiền gặp lành" có thể thay thế bằng
" ở hiền giúp ta có sự yên ổn trong tâm hồn, một thứ
hạnh phúc mà người khác không mua được "
4.4) Diễn biến
trong tư duy:
Trong
cuộc sống hàng ngày chúng ta thường có những việc phải
lo âu, suy nghĩ để tìm ra giải pháp thích hợp. Trong những
suy tư thường xuyên đó, chúng ta thường tưởng tượng ra
những diễn biến có thể xẩy ra để chúng ta chuẩn bị sẵn
những biện pháp đối phó thích hợp.
Những
suy tư đó có những mặt tích cực như:
- hiểu
thấu các vấn đề phải đối phó
-
có thể tìm được giải pháp có lợi nhất
-
chuẩn bị kỹ các biện pháp đối phó
-
khi gặp việc thì bình tĩnh vì đã nắm vững tình hình
Ngược
lại, những suy tư đó có những mặt tiêu cực như:
- những
cảm giác tiêu cực: lo âu, sợ hãi, giận hờn
-
những tác hạ;i cuả những cảm xúc tiêu cực trên sức khoẻ
vật chất cũng như tinh thần.
Trong
những mặt tiêu cực, ảnh hưởng cuả những hoàn cảnh tưởng
tượng trên bộ não cuả chúng ta cũng giống như những hoàn
cảnh thực và có khi còn tai hại hơn nhiều. Hoàn cảnh thực
luôn luôn tuân theo những quy luật khách quan, nhưng hoàn cảnh
tưởng tượng thì lại vô giới hạn. Vì vậy tác hạI cuả
hoàn cảnh tưởng tượng có thể làm cho chúng ta hoàn toàn
tê liệt, không ăn không ngủ được. Một người sợ ma có
thể bị ngất xỉu vì thấy một hình ảnh nào đó xuất hiện
bất ngờ. Sự ám ảnh có thể trở thành một tâm bệnh khá
nguy hiểm v.v...Người càng thông minh thì trí tưởng tượng
càng dồi dào, tác hại cuả hoàn cảnh tưởng tượng càng
khốc liệt. Phải chăng đó là lý do mà người xưa có câu
" ngu si hưởng thái bình "!
Muốn
làm dịu bớt hoặc xoá bỏ những mặt tiêu cực đó ta có
thể:
- phân
biệt rõ rệt giữa "hoạch định công việc một cách khoa
học" với "sự lo âu". Với sự thực tập thường xuyên, ta
có thể thay thế sự lo âu chung chung bằng sự hoạch định
có phương pháp khoa học, có dự trù thời gian và phương tiện
để thực hiện. Khi hoạch định, chúng ta đứng ngoài công
việc, không coi công việc là một phần tử cuả bản thân
mình. Trái lại, khi lo âu, chúng ta lẫn lộn giữa bản thân
mình và công việc; đó chính là lý do mà sự lo âu có thể
có những tác hại vô hình trên tinh thần và vật chất một
người. Sự hoạch định làm tăng cường sự tự tin trong
khi sự lo âu làm tiêu hao năng lực.
- để
tránh cảm xúc tiêu cực do khối lượng hoặc đòi hỏi cuả
công việc hàng ngày, ta nên phân chia công việc ra nhiều phần
nhỏ với một thời khoá biểu phù hợp với năng lực cuả
mình. Một thí dụ cụ thể như nghĩ đến công việc phải
thực hiện trong tuần tới, có người tự nhiên cảm thấy
mệt mỏi, chán nản v.v...; nhưng sau khi phân chia công việc
ra từng ngày từ thứ hai tới thứ sáu thì người đó như
lấy lại được năng lực nên cảm thấy yêu đời phấn khởi.
- thay
đổi diễn biến trong tư duy để xoá bỏ những cảm xúc tiêu
cực và tạo ra những cảm xúc tích cực. Một thí dụ cụ
thể như có người sợ đi máy bay, chẳng qua chỉ vì diễn
biến trong tư duy cuả người ấy là những cảnh máy bay bị
rớt, ngược lại một đứa trẻ lại haó hức được đi
máy bay để có được những cảm giác mới. Sự thay đổi
diễn biến trong tư duy lúc đầu đòi hỏi một sự thực tập
thường xuyên, nhưng khi đã trở thành thói quen thì có thể
trở thành một vũ khí sắc bén trong việc thực hiện một
cuộc sống vui tươi hạnh phúc.
Nói
tóm lại, diễn biến trong tư duy có thể là những nguyên nhân
trực tiếp cuả các cảm xúc tiêu cực và cuả sự đau khổ.
Thay đổi diễn biến trong tư duy có thể giúp ta hoá giải
các cảm xúc tiêu cực, tạo ra các cảm xúc tích cực, giúp
ta bảo toàn và tăng cường năng lực để thực hiện những
gì mình mong muốn.
4.5) Tự an ủi:
Trong
cuộc sống, ta thường có khi may có khi rủi, những sự kiện
ngoài tầm tay ta. Khi may mắn, con người thường thấy phấn
khởi, sáng suốt hơn; ngược lại khi rủi ro thì thấy đau
khổ, tinh thần sa sút v.v...và thường cần sự an ủI cuả
bạn bè, thân thuộc để xoa dịu đau thương. Nhưng nếu ta
có thể tự an ủi, ta có thể dễ dàng thoát khỏi những bế
tắc tâm lý do những tai hoạ gây ra.
Tự
an ủi không có nghĩa là tự đánh lưà bản thân mình. Muốn
tự an ủi ta cần:
a)
Nắm vững quy luật tuần hoàn cuả thiên nhiên chẳng hạn
như những liên hệ nhân quả trình bày ở mục 3, và những
quy luật khác sau đây:
- sông
có khúc, nggười có lúc: một câu châm ngôn phản ảnh sự
nhận xét cuả người xưa về lẽ tuần hoàn. Sông nào mà
chẳng có khúc quanh co, ngườI nào mà chẳng có lúc may lúc
rủi. Sông thì hết quanh co rồi đến thẳng, hết thẳng lại
quanh co. Người thì khi lên trời cũng chiều lòng, mà khi rủi
thì hoạ vô đơn chí'.
- 'cùng
tắc biến, biến tắc thông'. Nếu không vào đường cùng,
con người khó có thể làm những bước nhẩy vọt.
- một
hiện tượng khách quan có thể là cái may cho người này và
cái rủi cho kẻ khác. Mưa đem lại nguồn nước quý giá cho
nhà nông thì cũng đem lại sự bực mình cho dân thành thị.
Nói một cách khác, hiện tượng nào cũng có những mặt tiêu
cực và những mặt tích cực.
- may
và rủi là hai mặt đối lập cuả một thể thống nhất;
trong cái hoạ luôn luôn ẩn tàng cái phúc, và trong cái phúc
lại chứa sẵn mầm mống cuả cái họa. Một thí dụ cụ
thể như cái hoạ "tù đầy cải tạo" có ẩn tàng cái phúc
"được qua Mỹ"; cái phúc "được qua Mỹ" lại chứa sẵn
mầm mống cuả cái họa "tan vỡ gia đình". Tính cách biện
chứng cuả may và rủi làm cho có người nghĩ rằng: " ai khôn
thì dại ai dại thì khôn ", thực ra " người biết đóng vai
dại mới là người khôn thật "; vì người này hiểu rõ mọi
mặt cuả cả khôn lẫn dại.
b) Vận dụng những
quy luật vào hoàn cảnh cá nhân:
Dù
những hiện tượng khách quan ở ngoài tầm tay ta nhưng ta luôn
luôn có thể làm chủ những quan điểm cuả ta. Khi đã nhận
định được mầm mống cuả cái phúc ở trong cái hoạ thì
mỗi cái rủi là một nhắc nhở ta phải cố gắng hơn, thận
trọng hơn, một dịp để ta chín chắn hơn để không bỏ
lỡ cơ hội sắp đến.
Một
hiện tượng khách quan có thể gây cho ta những buồn bực,
lo âu, đau đớn. Nhưng thực ra những cảm xúc tiêu cực này
lại do những quan điểm cuả chính ta trực tiếp gây ra, vì
cùng hiện tượng đó, kẻ khác lại vui mừng phấn khởi.
Chẳng hạn như muà đông khắc nghiệt ở xứ lạnh gây ra
nhiều lo âu, bực bội cho ta. Nhưng đối với người mê trượt
tuyết thì mùa đông lại đầy hứng thú. Lo âu hay phấn khởi
thì tùy theo mỗi người, nhưng có một điều cố định là
hết muà đông thì đến muà xuân, dù ta có nóng nẩy đợi
chờ xuân, dù ta có thở vắn than dài về muà đông thì trái
đất vẫn quay quanh mặt trời, vẫn cần thời gian để tới
muà xuân; thay vì than vãn muà đông, sao ta không thưởng thức
cái không khí trong sạch, cái yên tĩnh, những cảnh đẹp thần
tiên cuả muà đông. Tận dụng những mặt tích cực cuả một
hiện tượng khách quan không những giúp ta mau chóng hoá giải
các cảm xúc tiêu cực mà còn hạnh phúc hoá cuộc đời ngay
cả những lúc khó khăn.
Một
thí dụ khác: khi bị mất công ăn việc làm, người bình thường
sẽ đau đớn, lo âu, dằn vật. Sự đau đớn đó thường
thúc đẩy người đó tiến lên sau một thời gian dài. Những
nguyên nhân cuả sự thành công trong tương lai đã nằm sẵn
trong sự đau đớn đó. Khi sự đau đớn kéo dài quá lâu,
các nguyên nhân cuả sự thành công tương lai có thể bị xoá
bỏ. Ngược lại, có người biến ngay sự đau đớn, lo âu,
dằn vật thành hành động cụ thể để đi tìm việc khác,
để trau dồi khả năng, để cập nhật hoá kiến thức, để
không còn phút nào dành cho âu lo, dằn vật, đau đớn. Những
hành động đó không những giúp ta dễ dàng có công ăn việc
làm mới, còn biến giai đoạn thất nghiệp thành một dịp
để cách mạng hoá bản thân mình.
Nói
tóm lại, tự an ủi là quan sát các hiện tượng khách quan
một cách toàn diện, để tận dụng các mặt tích cực cuả
mỗi hiện tượng, để mau chóng xoá bỏ những cảm xúc tiêu
cực, để hạnh phúc hoá cuộc đời ngay cả trong những hoàn
cảnh khó khăn.
4.6) Vận động
tích cực.
Vận
động tích cực là sự hoạt động về tinh thần hay thể
chất, tự giác, không ngừng, với một cường độ phù hợp
với thể chất, với sở thích cuả mỗi người. Vì vậy vận
động tích cực luôn luôn đem lại những cảm xúc tích cực
mới. Bất cứ một vận động nào có hại cho thể chất cũng
như tinh thần đều không phải là vận động tích cực.
Vận
động tích cực là một yếu tố vô cùng quan trọng trong đời
sống con người, riêng trong việc hoá giải các cảm xúc tiêu
cực thì vận động tích cực là một biện pháp hữu hiệu
nhất.
Có
người nói rằng phương tây thì chú trọng đến "động",
trong khi phương đông thì chú trọng đến "tĩnh". Nhận định
này có thể dẫn đến những sai lầm trong tư duy, chẳng hạn
như tin rằng chỉ có nhàn là hạnh phúc, là sung sướng.
Sự
khác biệt giữa đông và tây chẳng qua do những điều kiện
sinh hoạt khác nhau, những điều kiện sản xuất nông nghiệp,
kỹ nghệ khác nhau, những tập tục lâu đời, những văn hoá,
ngôn ngữ khác nhau v.v...
Một
hình thức của "động" là sự sống. Nói một cách khác sự
sống chính là sự vận động. Nhưng không nên lầm lẫn sự
tĩnh là sự chết. Ta ngồi yên trên xe, nhưng chiếc xe đang
lăn bánh. Ta đang ngủ, nhưng các tế bào trong ta vận động
không ngừng. Sự tĩnh rất tương đối. Sự tĩnh khác với
sự chết vì sự tĩnh là một dạng cuả sự động. Chẳng
hạn như sự bình tĩnh trước các khó khăn là một dạng cao
cấp cuả sự động, để chuẩn bị cho những hành động
sáng suốt, để tránh sự đổ vỡ không hàn gắn được,
để làm chủ tình hình, để cảm hoá người khác v.v...
Vận
động tích cực là vận động có bao gồm sự bình tĩnh, sự
hoạch định, sự tập trung tư tưởng, sự phù hợp với những
quy luật thiên nhiên và xã hộI v.v...
Vận
động tích cực bao gồm nhiều hình thức:
- đọc
sách, báo;
-
tập thể dục, đi bộ;
-
chơi thể thao;
-
vận động giải trí (trồng cây cảnh, chăm sóc hoa);
-
vận động theo ý thích để cải thiện đời sống: dọn dẹp,
lau chùi, trang hoàng nhà cửa v.v...;
-
hô những khẩ;u hiệu để lên tinh thần;
-
hát một bản nhạc hùng hay một bản nhạc hay;
-
lao động tự nguyện để giúp đỡ người khác;
-
nói chuyện hài hước, cười đuà;
-
đóng kịch;
-
mọi hoạt động hữu ích v.v....
Sự
vận động tượng trưng cho sức sống cuả mỗi người. Mỗi
vận động tích cực đều có thể tạo ra cảm xúc mới: yêu
đời, yêu người hơn. Vận động tích cực sẽ xoá được
những ý tưởng lười biếng trong tư duy, góp phần xây dựng
một tư duy tích cực.
Có
người nghĩ rằng đối với kẻ lười thì làm sao mà vận
động tích cực được. Thực ra, sự lười biếng là do những
nguyên nhân sau đây:
- mệt
mỏi tinh thần hoặc thể chất
-
trở ngại vật chất: công việc đòi hỏi một sự cố gắng
về thể chất
-
trở ngại tinh thần: công việc đòi hỏi sự chú ý, sự suy
tư, sự lao động trí não
-
quan điểm về việc: thấy việc phải làm là vô ích, là ngu
xuẩn, là bị bó buộc, là bị bóc lột, là bị lợi dụng
v.v...;
-
ích kỷ: thích đẩy việc cho người khác để thỏa mãn lòng
ích kỷ, để thỏa mãn ý muốn thống trị người khác, cho
là mình khôn hơn người khác;
- quan
điểm về hạnh phúc: hạnh phúc là nhàn hạ, không phải làm
gì cả mà vẫn được hưởng thụ, ấm no. Quan điểm này
dễ phổ biến khi cuộc sống còn quá khó khăn, vất vả. Tuy
nhiên, khi con người không còn đói rét nữa thì quan điểm
này trở nên lạc hậu và phản động; vì nhàn hạ sẽ đem
lại sự nhàm chán, thiếu sức sống, thiếu những cảm xúc
mạnh, thiếu những tiêu chuẩn cao hơn cuả đời sống, cao
hơn là ăn no, mặc ấm. Người nhàn hạ làm sao được hưởng
những hạnh phúc có tiêu chuẩn cao như: sáng tạo, hoàn thành
nhiệm vụ, đóng góp sức mình cho gia đình, cho xã hội, cho
nhân loại, cho sự văn minh cuả loài người. Muốn thưởng
thức một bức họa tuyệt vời, một bài thơ hay, một tác
phẩm văn hoá có giá trị cao, ta cần phải học hỏi, cần
phải có lao động trí óc v.v..., vậy thì nhàn hạ làm sao
làm đẹp cuộc sống tinh thần được, làm sao có một cuộc
sống có giá trị cao được. Hơn nữa, ngày xưa đã có câu
"nhàn cư vì bất thiện", đáng suy ngẫm lắm thay!
Nói
một cách khác, con người có cảm giác lười vì một hay nhiều
nguyên nhân nói trên. Dù là nguyên nhân nào thì ta vẫn có
thể loại bỏ bằng cách chọn loại vận động tích cực
phù hợp với ta. Chẳng hạn như mệt mỏi quá thì nghỉ ngơi,
ca hát, giải trí, v.v...gặp trở ngại thì từ từ giải quyết
một cách phù hợp với năng lực cá nhân. Sự loại bỏ những
nguyên nhân liên hệ trực tiếp tới quan điểm cá nhân cần
có sự quyết tâm và đôi khi cần sự động viên của người
khác.
Vận
động tích cực có thể giúp ta vượt qua những trở ngại
vật chất và tinh thần, giúp ta có một quan điểm đúng đắn
về việc làm, giúp ta có sức mạnh để sẵn sàng đấu tranh,
nếu có sự bóc lột, lạm dụng; giúp ta dần dần thay đổI
quan điểm cá nhân, xoá bỏ được những ích kỷ nhỏ nhen,
giúp ta có mộtquan điểm rộng rãi, cởi mở , chính xác về
hạnh phúc v.v... Như vậy vận động tích cực có thể giúp
ta xoá bỏ tư tưởng lười, một thứ rác rưởi trong tư duy.
Trong
vấn đề hoá giải các cảm xúc tiêu cực " thù, giận, buồn,
lo, sợ " thì vận động tích cực giúp ta quên chúng dễ dàng
hơn, có những cảm xúc mới, không có thì giờ suy nghĩ
vẩn vơ, dễ dàng lấp chỗ trống trong tư duy, trong thời gian.
Người
ta đã dùng những bản nhạc hùng để tăng tinh thần chiến
đấu cuả quân đội, những bản nhạc buồn để làm nản
lòng quân địch. Người ta đã dùng những khẩu hiệu để
kích động quần chúng, để đạt những thành quả lớn trong
những cuộc biểu tình, sách động v.v...Những người đầu
cơ chính trị đã nắm vững quy luật " vận động tạo ra
cảm xúc " để lạnh đạo quần chúng thực hiện những điều
mà họ mong muốn. Tại sao chúng ta không vận dụng quy luật
này để hoá giải những cảm xúc tiêu cực và đem lại hạnh
phúc cho mình và cho người khác?
Hiểu
biết các quy luật sẽ hoàn toàn vô ích nếu chúng ta không
áp dụng chúng trong đời sống hàng ngày. Càng vận động
tích cực thì ta càng thấy dồi dào sinh lực hơn, hạnh phúc
hơn, yêu mình và yêu người hơn.
4.7) Tiếp xúc
(đàm thoại, liên lạc):
Tiếp
xúc là một phương tiện hữu hiệu để hoá giải các cảm
xúc tiêu cực. Những ưu điểm cuả tiếp xúc gồm:
- sự
vui thú: khi buồn ta có thể buồn trong cô đơn, nhưng khi vui
thì rất cần sự có mặt cuả những người khác. Vì vậy
sự giao thiệp tiếp xúc với đồng nghiệp, bạn bè, anh em,
bà con thân thuộc v.v...rất cần thiết cho hạnh phúc mỗi
người. Người giỏi giao thiệp thì thường rất đông bè
bạn và cũng được hưởng nhiều thời gian vui chơi thoả
thích. Người không giỏi giao thiệp nhưng nếu hoà nhã, tử
tế thì cũng luôn luôn có những liên hệ tình cảm đẹp với
người chung quanh, một yếu tố cần thiết cho hạnh phúc.
Tài giao thiệp cũng chẳng phải là cái gì cố định. Càng
tiếp xúc nhiều thì ta càng giỏi giao thiệp hơn, vì kinh nghiệm,
vì hiểu rõ tâm lý người khác, vì học tập được sự lịch
thiệp v.v...
- sự
ủng hộ, sự khuyến khích, sự giúp đỡ của người khác.
Chúng ta có thể tiếp xúc với đồng nghiệp, bạn thân, bà
con, những người biết những điều ta cần, những chuyên
viên. Khi con người gặp sự không may, thông thường có những
cảm xúc tiêu cực, cảm thấy đau khổ và trở nên thiếu
sáng suốt, càng cố gắng dẫy dụa để thoát khỏi cảnh
khó khăn thì lại gặp hoàn cảnh khó khăn hơn: " Ma đưa lối
quỷ đưa đường, cứ tìm lấy lối đoạn trường mà đi
". Ðó là một tâm trạng hoàn toàn tuyệt vọng, mất hết
niềm tin ở chính mình. Nhưng người ở ngoài cuộc thì có
thể sáng suốt hơn nhiều và có thể an ủi, khuyến khích,
giúp đỡ người trong cơn mê loạn. Trong những trường hợp
này, sự đàm thoại vô cùng quan trọng, có thể đưa một
người hoàn toàn tuyệt vọng ra khỏi cõi mê. Một thí dụ
cụ thể là nhiều người muốn tự tử đã được giải thoát
khỏi bế tắc tâm lý bởi các nhà tâm lý học.
- sự
thông cảm với mọi người chung quanh, tránh được những
hiểu lầm đáng tiếc, tránh được những thù hận, giận
hờn vô ích, làm giảm hạnh phúc trong cuộc sống. Một thí
dụ cụ thể: nhiều gia đình tan vỡ vì thiếu sự đàm thoại,
bàn bạc cùng nhau giải quyết những mâu thuẫn.
- trau
dồi kiến thư&ùc, hiểu biết quan điểm cuả người khác,
mở rộng tầm mắt, nhìn sự việc dưới nhiều khía cạnh
khác nhau, hoà mình vào cuộc sống luôn luôn biến động, canh
tân; tránh được những lo âu vớ vẩn, sợ hãi viển vông.
Người xưa đã từng nói: 'nhất dạ đàm như tam niên độc
thư', nghiã là một đêm thảo luận bàn bạc bằng ba năm đọc
sách.
- hiểu
rõ sự khác biệt giữa người với người chủ yếu là vì
những khác biệt về điều kiện khí hậu, kinh tế, chính
trị ở mỗi địa phương.
Ngày
nay, với sự tiến bộ khoa học nhanh chưa từng thấy, chúng
ta được thừa hưởng rất nhiều phương tiện để tiếp
xúc, liên lạc:
- thư
từ
-
điện thoại
-
hàng trăm, hàng ngàn đài phát thanh, đài truyền hình
- internet,
vừa nhanh vừa rẻ vừa chính xác vừa phong phú gấp ngàn lần
các phương tiện khác
- các
hội tự nguyện giúp đỡ kẻ gặp khó khăn: nghiền ma tuý,
nghiền rượu, nghiền cờ bạc v.v...
Sự
phong phú cuả các phương tiện truyền thông càng làm tăng
những ưu điểm cuả sự tiếp xúc, liên lạc.
Dù
lợi ích lớn lao cuả sự tiếp xúc, nhiều người còn ngần
ngại trong việc tiếp xúc. Chúng ta thử tìm hiểu những nguyên
nhân ngăn cản sự giao thiệp tiếp xúc với mọi người:
- sự
bất đồng ngôn ngữ, văn hoá, phong tục: đây là một khó
khăn lớn lao cuả những di dân vì chiến tranh, chính trị hay
kinh tế,
- mặc
cảm tự tôn hay tự ty: những mặc cảm có khi là những trở
ngại không thể vượt qua nếu chúng ta không nhận thức được
chúng.
- những
trở ngại về thời gian, chẳng hạn như quá bận rộn với
con thơ, công việc mưu sinh quá khó khăn v.v...
- những
trở ngại về tâm lý, chẳng hạn như nhút nhát, tự khép
kín vì sợ ngườI khác cười mình, sợ bị người khác lợi
dụng, tự ái không muốn gợi chuyện trước, phân biệt giai
cấp, chủng tộc, văn hoá, tuổi tác, nam nữ, v.v...
- sợ
bị lừa gạt. Trong thực tế cũng rất nhiều người bị lưà
gạt, lợi dụng bởI những kẻ phạm pháp. Người nào mà
chẳng từng bị người khác đánh lưà, dốI trá. Không may
thay cho nhân loại, một số kẻ lưà gạt lại là được gắn
nhãn hiệu cha già của dân tộc, lãnh đạo tinh thần, lãnh
tụ tôn giáo v.v...Nhiều người lại bị ngay những người
thân yêu cuả mình lừa gạt. Thương thay!
- những
mặt tiê;u cực khác cuả sự tiếp xúc: những ảnh hưởng
của những người xấu, những phiền toái gây nên bởi người
khác, những tin tức bị xuyên tạc để tuyên truyền, những
quảng cáo lừa gạt, những sách động cuả kẻ khác v.v...
Nhận
thức nguyên nhân gây ra sự ngần ngại giao thiệp tiếp xúc
với ngườI khác là bước đầu cần thiết để ta có thể
hưởng được những ích lợi lớn lao của sự tiếp xúc.
Tất cả những mặt tiêu cực cuả sự tiếp xúc đều có
thể kiềm chế nếu ta luôn luôn giữ được tư duy tích cực
trong mọi giao thiệp tiếp xúc.
Sự
cô lập với thế giới chung quanh có thể gây ra sự nghèo
nàn lạc hậu dã man cho một quốc gia. Ðối với một cá nhân
thì sự cô lập với những ngườI chung quanh có thể đem lại
những tai hại không lường được cho gia đình và bản thân
người đó.
Nói
tóm lại, sự giao thiệp tiếp xúc đem lại nguồn an ủi, khuyến
khích, giúp đỡ cho ta, có thể giúp ta hoá giải được các
xúc cảm thù hận, giận hờn, buồn bã, lo âu và sợ hãi.
Nói một cách khác, sự giao thiệp tiếp xúc là một nguồn
hạnh phúc lớn lao cuả chúng ta.
(Xem tiếp phần 2
Phó Thường Dân
|