Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone&Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM: (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ 
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Phan Nhật Nam
Phạm Văn Nhàn
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài Mới Nhất
CON VỊT


 

Sáng Tác Của
Phó Thường Dân

Giã từ bể khổ (1)

Lời nói đầu:

"Ngũ thập tri thiên mệnh". Nhớ lời dạy ấy của cha ông, tôi bỗng quên đi sự  hiểu biết nông cạn của mình mà bàn chuyện giã từ bể khổ, chuyện mà nhiều  người coi như là việc "đội đá vá trời". Nhưng biết đâu ước muốn "giã từ bể khổ" này chẳng là của chung của nhiều người, nhất là những người đã hơn một lần phải “vĩnh biệt quê hương".

Tuy dựa trên sự phân tích khoa học, nhưng mục đích của người viết là để đại đa số đồng bào có thể ứng dụng các biện pháp hóa giải cho trường hợp cá nhân của mình. Người viết không có tham vọng để truyền bá một học thuyết hay một cách sống. Tuy vậy người viết không thể giấu niềm hy vọng được người đọc quan tâm hưởng ứng mà chỉ bảo thêm để sớm đạt được tình trạng "thân tâm thường an lạc".

Bài này gồm có bốn phần:

1. nhận định
2. nhu cầu
3. nhân quả
4. thực hành: nhận thức, phân tích, xét lại niềm tin, tư duy tích cực, tự an ủi, vận động, tiếp xúc, sống vui, làm việc, tự vệ, tự chế, tha thứ, tu thân, bình tâm, tự động viên. 

1. Nhận định:

Từ khi con người ý thức được sự hiện hữu của mình, sự đi tìm hạnh phúc trở thành lẽ sống. Muôn ngàn giải pháp phức tạp đã ra đời, mang nhiều mầu sắc tôn giáo và văn hóa khác nhau. Kết quả của những giải pháp đó vẫn còn là những đề tài tranh luận.

Ðể tránh khỏi những sự tranh luận vô tận, chúng ta thử phân tích hạnh phúc và đau khổ dưới dạng đơn giản nhất của chúng.

Con người tự cảm thấy hạnh phúc sau khi thỏa mãn một nhu cầu sinh lý, vật chất hay tâm lý. Hạnh phúc được biểu lộ bằng những cảm xúc tích cực như thương yêu, vồn vã, tươi vui, thoải mái, tự tin.

Con người cảm thấy đau khổ khi một nhu cầu sinh lý, vật chất hay tâm lý không được thỏa mãn. Các hình thức của đau khổ là những cảm xúc tiêu cực như thù hận, giận hờn, buồn bã, lo âu, sợ hãi.

Như vậy hạnh phúc cũng như đau khổ luôn luôn ở trong tầm tay của tất cả mọi người. Nhưng cuộc sống luôn luôn thúc đẩy con người cải thiện để sống ở một mức cao hơn, và càng cố gắng cải thiện thì ta lại càng cảm thấy hạnh phúc xa vời. Lý do thật đơn giản là sự cải thiện luôn luôn tao ra muôn vàn nhu cầu vật chất và tâm lý mới, ngoài ý muốn và ngoài khả năng thỏa mãn của người trong cuộc. Mọi người đều có thể hiểu rõ quy luật này, nhưng vận dụng quy luật này thì mỗi người lại vận dụng khác nhau tùy theo từng hoàn cảnh cá nhân, xã hội, trình độ phát triển tâm lý của mỗi người.Có người tìm cách rút chân ra khỏi cuộc chạy đua của cuộc sống, lấy diệt dục làm phương châm đi tìm hạnh phúc; có kẻ vận dụng quy luật để hạnh phúc hóa cuộc đời.

Hạnh phúc và đau khổ luôn luôn như hình với bóng, như hai mặt đối lập của một thể thống nhất mà ta không thể tách rời một cách đơn thuần được. Không đạt được điều mình muốn, có người đã thấy khổ sở; vừa thoát cảnh khổ, kẻ khác lại tự thấy vô cùng sung sướng; cùng trong những điều kiện vật chất giống nhau, có người thấy khổ, có kẻ thấy sướng. Người quen nhàn hạ, gặp việc khó khăn là thấy đau khổ; kẻ quen sống trong thiếu thốn được tạm đầy đủ là thấy hạnh phúc rồi; hạnh phúc là nguyên nhân gián tiếp của đau khổ và ngược lại đau khổ lại là tiền đề của hạnh phúc.

Sự thôi thúc tiến lên của cuộc sống tạo ra các nhu cầu vật chất và tâm lý. Khi được thỏa mãn, các nhu cầu trở thành nguyên nhân của hạnh phúc, khi vượt khỏi khả năng của cá nhân, nhu cầu trở thành nguyên nhân của sự đau khổ. Dứt bỏ mọi nhu cầu là dứt bỏ cả đau khổ lẫn hạnh phúc là dứt bỏ cuộc sống, là dứt bỏ đóa hoa tuyệt vời của thiên nhiên. Như vậy để có thể luôn luôn sống trong vui tươi hạnh phúc ta cần tìm hiểu các nhu cầu trong nội tâm của chính mình, cần tìm hiểu mối liên hệ nhân quả của chúng, và cần thực hành các biện pháp hóa giải để biến tình trạng thụ động trước ngoại cảnh thành tình trạng chủ động cuộc sống vui tươi của chính mình. Phải chăng đây cũng là con đường dẫn ta tiến dần tới tình trạng "thân tâm thường an lạc" để có thể sống một cách hào hùng, sáng suốt và từ bi?

2. Nhu cầu:

Nhu cầu có thể tạm phân ra làm ba loại:

- Nhu cầu sinh lý là những nhu cầu cơ bản cho cơ thể con người, chẳng hạn như ăn cho khỏi đói, mặc cho khỏi lạnh. Sự thoả mãn hay không những nhu cầu này tạo cảm giác sướng hay khổ. Sự thoả mãn đó không tạo nên những nhu cầu mới nên những nhu cầu sinh lý có tính cách hạn chế. Những nhu cầu này đã được đáp ứng đầy đủ trong những nước kỹ nghệ hoá. Các hiện tượng sinh tử lão bệnh đều ở trong lãnh vực sinh lý cuả con người. Nhu cầu "bất tử" cũng liên quan đến sinh lý nhưng mang nhiều tính chất tâm lý cuả ý thức cuả con người. Nhu cầu này có thể tạo ra các nhu cầu vật chất và tâm lý muôn vàn phức tạp trong đời sống con người. Chỉ có sự chấp nhận quy luật tuần hoàn cuả thiên nhiên mới có thể làm dịu bớt nhu cầu này.

- Nhu cầu vật chất là những nhu cầu về tiện nghi cuả đời sống con người. Loại nhu cầu này thay đổi tùy theo tình trạng tiến bộ cuả loài người, tuỳ theo xã hội và tùy theo sở thích cuả mỗi cá nhân. Loại nhu cầu này là động cơ thúc đẩy loài người tiến lên, là bản chất cuả xã hội loài người. Loại nhu cầu này đã thay đổi bộ mặt cuả trái đất, đã thay đổi dần dần quan hệ giữa người với người. Sự thoả mãn một nhu cầu vật chất luôn luôn tạo ra những ước muốn mới và dần dần biến thành những nhu cầu mới, sự tăng trưởng này nhanh hay chậm tùy theo tình trạng phát triển tâm lý cuả từng cá nhân. 

- Nhu cầu tâm lý là nhu cầu cuả ý thức loài người, nên thường có tính cách trừu tượng. Loại nhu cầu này thúc đẩy con người tạo ra những tài sản văn hoá nghệ thuật. Loại nhu cầu này bao gồm cả hỉ nộ aí ố tham sân si. LoạI nhu cầu này thay đổi tuỳ theo trình độ phát triển cuả loài người. Khi vật chất còn quá thiếu thốn, con người thường mong ở phép lạ, ở phúc đức, ở ơn trên v.v...để giải quyết những khó khăn vật chất hàng ngày. Ngày nay ở những nước đã phát triển, những mong muốn này vẫn còn tồn tại, thường không phải để giải quyết những khó khăn hàng ngày, mà để hy vọng thực hiện được những ước muốn cuả con người. Trí tưởng tượng cuả con ngườI có thể tạo các ước muốn muôn hình muôn vẻ. Khi ước muốn trở thành một nhu cầu thì thông thường chỉ có thể giải quyết bằng những biện pháp tâm lý. Tất cả các nhu cầu không có tính chất sinh lý và vật chất chẳng hạn như văn hoá, ngôn ngữ, chính trị, tôn giáo v.v... đều có thể xếp vào loại nhu cầu tâm lý.

Sự phân loại các nhu cầu thực ra chỉ có mục đích đơn giản hoá vấn đề, để tránh bị lạc lối trong muôn ngàn nhu cầu cuả con người. Thực ra một nhu cầu cuả con người có thể có cả ba tính chất sinh lý, vật chất và tâm lý; và ba tính chất này luôn luôn tác dụng hỗ tương để lôi cuốn con người vào mê hồn trận.

Bản chất cuả các nhu cầu vật chất và tâm lý có tính cách luôn luôn biến động. Một thói quen cũng có thể tạo thành một nhu cầu tâm lý, sự bức thiết cuả một nhu cầu sinh lý có thể xoá bỏ hai loại nhu cầu kia, một nhu cầu tâm lý mãnh liệt có thể thay đổi những nhu cầu sinh lý và vật chất cuả một người. Nhu cầu vật chất rất phức tạp nếu so với nhu cầu sinh lý, nhưng nhu cầu tâm lý lại muôn ngàn lần phức tạp hơn và thường bao gồm cả nhu cầu vật chất, chẳng hạn như muốn hơn người khác là một nhu cầu tâm lý bao gồm những nhu cầu vật chất. Nhu cầu tâm lý thay đổi với thời đại, với trình độ tâm lý cá nhân, với phong tục tập quán, với văn hoá, v.v...

Nhu cầu nói chung thì phức tạp và vô tận, nhưng đối với mỗi cá nhân thì luôn luôn có thể phân tích các mặt tích cực cũng như tiêu cực cuả mỗi nhu cầu để có thể hoá giải sự thúc bách cuả nhu cầu. Sự tìm hiểu sự vận động cuả vạn vật trong thiên nhiên, trong xã hội và trong nội tâm mình có thể tăng cường năng lực phân tích cuả chúng ta để sớm vạch ra  phương hướng cho bản thân mình.

Sau đây là một vài thí dụ cụ thể về nhu cầu tâm lý mang nặng tính chất vật chất. Khi những nhu cầu sinh lý và vật chất căn bản đã giải quyết xong, con người thường nghĩ đến sự hưởng thụ. Nhu cầu hưởng thụ là một nhu cầu tâm lý nhưng thường lại có tính vật chất, chẳng hạn như muốn nghe nhạc thì cũng cần dụng cụ vật chất để phát âm.

Sự phân tích các mặt tích cực và tiêu cực cuả các nhu cầu hưởng thụ giúp ta nhìn thấy sự ảnh hưởng cuả chúng đối vơí bản thân mình và nếu cần loại bỏ một nhu cầu nào đó thì sự phân tích đó có thể giúp ta bước được bước đầu, một bước khó khăn nhất.

a) Ðánh bạc: ta thử phân tích các mặt tích và tiêu cực cuả nhu cầu này

Những mặt tích cực cuả đánh bạc:

- thích thú khi thắng
- cảm giác mạnh
- vui với bè bạn

Những mặt tiêu cực cuả đánh bạc:

- thua thì cay, càng cay càng dễ thua và có thể đi đến phá sản
- lười vận động
- ghiền
- mất tự tin
- mất tự chủ
- mất nhân cách

b) Uống rượu.

Cũng giống như nhu cầu "đánh bạc", nhu cầu uống rượu là một nhu cầu hưởng thụ phổ biến.

Những mặt tích cực cuả uống rượu:

- cảm giác yêu đời
- vui với bè bạn
- maú lưu thông tốt

Những mặt tiêu cực cuả uống rượu:

- ghiền rượu
- tốn kém có thể đi đến phá sản
- lười vận động
- hại sức khoẻ
- mất tự tin
- mất tự chủ
- mất nhân cách

c) sa đoạ: sa đoạ (chẳng hạn như hút sách) là một loại nhu cầu tâm lý nguy hiểm nhất.

Những điểm tích cực:

- cảm giác mạnh
- vui bè bạn
- tăng cường sinh lực ngắn hạn

Những điểm tiêu cực:

- ghiền
- tốn kém rất nhiiều và thường dẫn đến tội lỗi
- lười vận động
- mất tự tin
- mất tự chủ
- mất nhân cách
- bệnh hoạn
- mất cả cuộc đời

Sa đoạ lúc đầu không phải là một nhu cầu mà là một sự sa ngã vì yếu lòng, vì bị cám dỗ, vì hoàn cảnh đặc biệt nào đó. Sau một thời gian sự sa ngã thường trở thành sa đoạ, một nhu cầu nguy hiểm và ít người tự thoát ra được.

Sự kiêng khem cuả một số nhà tu hành có thể giúp họ quen với sự kiểm soát những nhu cầu bản thân, dần dần tạo thành một khả năng đặc biệt chống lại mọi cám dỗ.

Nhưng nếu ta thấu hiểu các nhu cầu cuả bản thân mình, nhất là những mối liên hệ nhân quả cuả chúng, thì không cần kiêng khem chúng ta cũng có thể dần dần tạo ra khả năng đó.

3. Nhân quả:

Trong pham vi bài này chúng ta chỉ bàn đến những liên hệ nhân quả cuả hạnh phúc và đau khổ, cuả các nhu cầu sinh lý, vật chất và tâm lý.

Mọi hiện tượng xảy ra chung quanh ta đều tuân theo những quy luật thiên nhiên và xã hội nghĩa là đều có quan hệ nhân quả. Muốn có quả thì ta phảI tạo ra nhân, nghĩa là ta phải hành động để đạt được kết quả. Chúng ta thử quan sát vài quan hệ nhân quả trong cuộc sống hàng ngày.

- Sự phân tích để thấy rõ cả hai mặt tích cực và tiêu cực của mỗi nhu cầu giúp ta có cái nhìn đúng đắn hơn về nhu cầu đó. Sự phân tích là cái nhân, cái nhìn đúng đắn là cái quả. Cái nhìn đúng đắn là bước đầu trong việc kiểm soát hoặc loại bỏ một nhu cầu cuả bản thân mình.

- Hành động tạo ra cảm xúc, làm chủ được hành động mình dẫn tới làm chủ được cảm xúc mình. Hành động là cái nhân, cảm xúc là cái quả. Cũng nên nhắc lại rằng cảm xúc là hình thức cuả hạnh phúc hay đau khổ. Làm việc quá sức mình, ta cảm thấy khổ sở, nhưng không có việc gì để làm, ta lại cảm thấy buồn. Sau khi giúp đỡ người khác, ta cảm thấy tự hào về chính mình. Làm việc gì có hại cho người khác, ta cảm thấy áy náy, hối hận. Nắm vững quan hệ nhân quả giữa việc làm cuả mình và cảm xúc sau mỗi việc làm, ta có thể dần dần tạo ra được cảm xúc tích cực cho chính mình, tăng cường hạnh phúc cho bản thân mình.

- Ðun nước sôi là làm tăng nhiệt độ trong nước, khi nhiệt độ đạt tới 100 độ C thì nước biến chất từ thể lỏng sang thể hơi. Sự biến chất đó là do " sự thay đổi về lượng dẫn tới sự thay đổi về chất ". Sự thay đổi về lượng là cái nhân và sự biến chất là cái quả. Thời gian là lượng, hạnh phúc hay đau khổ là chất; hạnh phúc sau một thời gian dài có thể biến chất để trở thành buồn tẻ, một hình thức cuả đau khổ; đau khổ sau một thời gian dài có thể biến chất thành những đức tính chịu đựng đặc biệt, một cái nhân mới để tạo hạnh phúc.

- Hạt lúa trước khi nẩy mầm thì phải thối rữa đi. Sự xóa bỏ hiện trạng là cần thiết để tiến lên một trạng thái mới. Sự xóa bỏ là cái nhân, đôi khi rất đau đớn cho con người, để tạo ra cái quả tốt đẹp hơn. Một xã hội muốn tiến lên một trình độ cao hơn thì sự xoá bỏ những quan hệ xã hội hiện hữu là tất yếu. Một người muốn sống hạnh phúc hơn cũng phải cương quyết xoá bỏ những mầm mống cuả đau khổ luôn luôn ẩn tàng ở trong nội tâm mình.

- Hạnh phúc & đau khổ luôn luôn trong tầm tay cuả mọi người và liên hệ với nhau giống như một mối tương quan nhân quả: hạnh phúc là nguyên nhân gián tiếp cuả đau khổ và ngược lại. Vì thế có người than rằng đời là bể khổ, có người cho rằng sướng và khổ cộng lại thành số không. Mặc dầu hạnh phúc không thể là nguyên nhân trực tiếp cuả đau khổ, nhưng hạnh phúc nâng cao nhu cầu cuả con người; dần dần nhu cầu sẽ vượt khỏi khả
năng cuả đương sự và trở thành nguyên nhân cuả đau khổ. Ngược lại, đau khổ hạ thấp nhu cầu cuả con người; dần dần sự thoả mãn nhu cầu ở trong tầm tay cuả đương sự và trở thành nguyên nhân cuả hạnh phúc.

- "Thất bại là mẹ thành công". Câu an ủi cuả cha ông ngày trước mỗi khi ta thất bại, không những chỉ là lời an ủi mà còn ẩn tàng một liên hệ nhân quả giữa thất bại và thành công; sự thất bại giống như sự trui rèn khả năng cá nhân để có thể thành công trong những thử thách tương lai; sự thành công có thể đem lại sự kiêu căng, sự thiếu thận trọng, những mầm mống cuả sự thất bại trong tương lai. Liên hệ giữa thất bại và thành công cũng giống như liên hệ nhân quả giữa đau khổ và hạnh phúc vậy.

- Sự thoả mãn một nhu cầu vật chất hay tâm lý luôn luôn tạo ra một ước muốn mới. Như vậy sự thoả mãn là nhân và ước muốn mới là quả. Khi ước muốn đó trở thành một nhu cầu thì sự thoả mãn nhu cầu đó lại tạo ra một ước muốn khác. Cái quả trở thành cái nhân và cứ thế tiếp tục cho đến khi vượt khỏi khả năng cuả người trong cuộc và biến thành cái nhân cuả sự đau khổ.

Liên hệ nhân quả cuả các nhu cầu vật chất và tâm lý như một chuỗi dài vô tận và không ai thoát ra được, ngoại trừ trường hợp cắt đứt hẳn liên hệ với cuộc sống như một số nhà tu hành khổ hạnh. Mặc dầu không thoát ra khỏi chuỗi dài vô tận đó, nhưng con người luôn luôn có tự do chọn lựa: để các nhu cầu nhấn chìm mình trong bể trầm luân hay hạnh phúc hoá cuộc đời cuả chính mình. Hạnh phúc không thể là nằm chờ sung rụng mà là chính ta phải hái sung, phải hành động để hoá giải các cảm xúc tiêu cực, để dần dần đạt
được "thân tâm thường an lạc".

4. Thực hành.

Tìm hiểu các nhu cầu cuả chính mình, tìm hiểu liên hệ nhân quả cuả chúng chỉ là bước đầu để ta hiểu rõ hơn những nguyên nhân gây ra đau khổ cho chính mình, chỉ là lý thuyết suông nếu chúng ta không vận dụng được vào đời sống thực tiễn hàng ngày để có thể luôn luôn sống trong vui tươi, hạnh phúc.

Tác động cuả các hiện tượng khách quan gây ra những cảm xúc tích cực hay tiêu cực trong nội tâm chúng ta; những cảm xúc này lại tác động trên tình trạng tinh thần và sức khoẻ cuả chúng ta và trở thành những nguyên nhân trực tiếp cuả hạnh phúc hay đau khổ.

Về lý thuyết thì nếu chúng ta có thể hạn chế được nhu cầu thì chúng ta có thể tránh đau khổ. Nhưng trong thực tế, những ảnh hưởng cuả các hiện tượng khách quan sẽ thúc đẩy sự hạn chế đó ra khỏi tầm tay cuả chúng ta và ta lại rơi vào vòng đau khổ. Vì vậy, về phương diện thực hành, chúng ta phải đi ngược chiều nghiã là đáng nhẽ hạn chế nhu cầu thì ta phải chận đứng ngay sự đau khổ bằng cách hoá giải ngay các cảm xúc tiêu cực. Sau
đây chúng ta sẽ bàn luận về các biện pháp hoá giải. Tùy theo cường độ cuả sự đau khổ, chúng ta có thể phải dùng một hay nhiều những biện pháp trình bày sau đây:

4.1) Nhận thức.

Trong cuộc sống, chúng ta thường phấn đấu để tồn tại, để giầu sang hơn, để có nhiều quyền lực hơn, để nổi danh hơn v.v...Khi thành công thì chúng ta cảm thấy hạnh phúc, khi thất bại thì chúng ta thấy đau khổ. Hạnh phúc và đau khổ thường được biểu hiện bằng những cảm xúc tích cực và tiêu cực. Những va chạm trong cuộc sống hàng ngày thường gây ra những cảm xúc tiêu cực và tích cực sau đây:

- Thù hận hoặc yêu thương
- Giận hờn hoặcc vồn vã
- Buồn bã hoặc vui tươi
- Lo âu hoặc thoải maái
- Sợ hãi hoặc ttự tin

Những cảm xúc trên và điều kiện cá nhân có những anh hưởng hỗ tương. Ðiều kiện cá nhân ở đây có nghĩa là tình trạng tinh thần và thể chất cuả mỗI người. Một cảm xúc mạnh có thể gây ra những rối loạn trầm trọng cho tinh thần và thể chất một người. Ngược lại, cùng một hiện tượng thiên nhiên hoặc xã hội, cảm xúc lại thay đổi tuỳ theo điều kiện cá nhân.

Con người thường bất lực trước các hiện tượng thiên nhiên và xã hội; vì thế có nhiều người tin vào số mạng; một hình thức tiêu cực cuả phản ứng cuả con người. Mặc dầu sự bất lực đó, có người lại có phản ứng tích cực để đem lại hạnh phúc cho bản thân mình; vì tuy không thay đổi được hiện tượng khách quan nhưng con người luôn luôn có thể thay đổi được cảm xúc chủ quan. Bước đầu để thay đổi cảm xúc chủ quan là phải nhìn nhận sự hiện hữu cuả các cảm xúc tiêu cực cũng như những ảnh hưởng tàn phá cuả chúng trên tinh thần và thể chất con người.

Hiện tượng khách quan có thể tạo nên các cảm xúc tiêu cực: thù, giận, buồn, lo, sợ. Các cảm xúc này lại có thể tiêu hao năng lực tinh thần và thể chất cuả mỗi cá nhân; và tình trạng suy sụp cuả tinh thần và thể chất lại tạo thêm những cảm xúc tiêu cực mới. May thay, thiên nhiên cho chúng ta một phép nhiệm mầu là thời gian để xoá bỏ dần dần những đau khổ. Nhưng nếu thời gian không kịp thời hoá giải thì những cảm xúc này lại gây nên những tàn phá cho tinh thần và thể chất, nghĩa là chúng trở thành những nguyên nhân trực tiếp mới cuả sự đau khổ. Hơn nữa, đời người thì ngắn ngủi và thờI gian chẳng đợi chờ ai; cớ sao ta lại đợi chờ thời gian hoá giải hộ mình?

Nhìn nhận sự hiện hữu cuả các cảm xúc tiêu cực, để tìm cách hoá giảI chúng, giúp ta tránh khỏi các biến chứng trầm trọng cuả chúng. Sự dồn nén một cảm xúc tiêu cực có thể gây ra những khủng hoảng về tâm lý. Thông thường khi quá đau khổ, phản ứng tự nhiên cuả con người là khóc lóc, than van. Những hành động tự nhiên này có tác dụng làm diụ bớt tức thời các cảm xúc quá mạnh. Nhưng những bất mãn, bực bội có nhiều khi không bộc phát ra được, và chồng chất lâu ngày sẽ trở thành những ẩn ức về tâm lý, rất nguy hại cho sức khoẻ tinh thần và thể chất. Ðôi khi vì phong tục, vì văn hoá, vì các niềm tin cố định, con người tự dối mình về sự hiện hữu cuả các cảm xúc tiêu cực, dần dần chúng trở thành những ẩn ức tâm lý xói mòn tinh thần và thể chất cuả người trong cuộc.

Nói tóm lại, nhận thức sự hiện hữu và các ảnh hưởng tàn phá cuả cảm xúc tiêu cực trên tinh thần và vật chất cuả con người giúp ta hiểu rõ nguyên nhân cuả sự đau khổ, giúp ta nhìn rõ hơn những mục đích cuả cuộc sống:

- Tìm cách thoả mãn những dục vọng và những nhu cầu phù hợp với khả năng cuả mình để hạnh phúc hoá cuộc sống.

- Hành động để hoá giải các cảm xúc tiêu cực gây ra bởi các hiện tượng khách quan để baỏ toàn năng lực, để có sức thực hiện những gì mình mong muốn, để sáng tạo một cuộc sống đầy ý nghiã.

4.2) Phân tích:

Muốn hiểu rõ được nguyên nhân cuả sự đau khổ ta cần phân tích từng trường hợp cụ thể. Chỉ có sự phân tích các mặt tích cực cũng như tiêu cực cuả một hiện tượng cá biệt mới giúp ta có thể quan sát nó một cách khách quan.

Ðứng trước một hiện tượng thiên nhiên, xã hội hay cá nhân, mỗi người trong chúng ta thường có một cái nhìn riêng biệt. Cái nhìn đó có thể là thờ ơ, có thể là thù ghét hay thương yêu, giận hờn hay phấn khởi, buồn bã hay vui tươi, lo âu hay thoải mái, sợ hãi hay tự tin. Sự khác biệt đó tùy thuộc ở tình trạng tinh thần và thể chất cuả mỗi người; bao gồm cả văn hoá, phong tục tập quán, quyền lợi cá nhân hay tập thể, những kinh nghiệm đã trải qua, những mơ ước trong tương lai, những thôi thúc về sinh lý, về tình yêu, về
niềm tin, về lý tưởng v.v...

Hiện tượng nào thì cũng có những mặt tích cực và những mặt tiêu cực. Có người hỏi: tôi mới thi rớt, thế thì có ma gì là tích cực! Nhưng nếu ta chịu phân tích thì ta thấy ngay là hiện tượng thi rớt cũng có những mặt tích cực cuả nó:

- thất bại là mẹ thành công. Sự thất bại có thể giúp ta gặt hái thêm kinh nghiệm để có thể tránh khỏi những thất bại lớn hơn, để có dịp suy xét lạI những khuyết điểm đã qua, để trưởng thành hơn v.v...

- sự thất bại làm tăng giá trị cuả sự thành công tương lai. 

- cùng tắc biến, biến tắc thông. Nhiều khi sự thất bại là cần thiết để cho chúng ta làm những bước nhẩy vọt trong đời. Nếu không rớt, có khi ta cứ loay hoay mãi với một ngành không phù hợp với khả năng cuả ta.

- phủ định cuả phủ định! Nếu hạt luá không ung thối thì không thể nào nẩy mầm nổi! Con người nếu chưa trải qua những giai đoạn cực kỳ khó khăn thì không thể nào phát triển toàn diện được! Một đứa trẻ được nuông chiều chắc chắn sẽ trở thành hư đốn! Nếu không bao giờ rớt, con người có thể trở thành kiêu căng và chắc chắn sẽ phạm những lỗi lầm cực kỳ ngu dốt! Ngày xưa, trong xã hội cực kỳ trọng bằng cấp mà có người đã nói rằng thi đỗ sớm là vô phúc! Ðúng thay!

Càng phân tích thì ta càng thấy hiện tượng thi rớt có thể mang lại rất nhiều ích lợi cho kẻ trong cuộc. Ngược lại thì hiện tượng thi rớt có thể đưa các tâm hồn yêu đuối đến tự tử hoặc đau khổ, khóc than, tuyệt vọng v.v...

Nói một cách khác, sự phân tích có thể giúp ta hoá giải các cảm xúc tiêu cực, thu ngắn hay xoá bỏ thời gian đau đớn, bước đầu trong việc biến đau thương thành sức mạnh để đạt được những thành công trong tương lai.

Sự phân tích không những cần thiết khi chúng ta gặp một hiện tượng bất thuận lợi, mà cả trong những trường hợp thuận lợi. Khi sự phân tích các mặt tích cực và các mặt tiêu cực trở thành một thói quen thì ta sẽ hiểu rõ những nguyên nhân cuả những cảm xúc hay nguyên nhân cuả đau khổ và hạnh phúc. Một thí dụ cụ thể, chúng ta thử phân tích các mặt tiêu cực cuả sự trúng số độc đắc. Ai trong chúng ta mà chẳng mơ ước có những may mắn lớn lao như trúng số độc đắc. Có người sẽ cho là ngu xuẩn khi đi phân tích các mặt tiêu cực cuả hiện tượng này. Kể ra thì sự phân tích này không cần thiết vì chắc chẳng dễ gì mà trúng độc đắc. Tuy nhiên, sự phân tích có thể đem lại những cái bất ngờ:

- số độc đắc làm cho người thụ hưởng mất hết bạn bè,
- cảm thấy nhàm chán sau một thời gian ngắn,
- mất niềm tin vào thành quả lao động,
- tiêm nhiễm những thói xấu (tứ đổ tường)
- hưởng thụ bừa bãi,
- tiêu xài không suy nghĩ
- khi hết tiền thì; thấy khốn khổ rất nhiều so với cuộc sống trước khi trúng số v.v...

Sự phân tích trên không phải là vô ích vì nó giúp ta hiểu rõ hơn giá trị cuả lao động, cuả sáng tạo, những yếu tố căn bản cuả hạnh phúc con người.

Ðứng trước một hiện tượng thiên nhiên, xã hội hay cá nhân, tuy mỗi ngườI đều có thể có những thái độ và cảm xúc riêng biệt, nhưng sự phân tích sẽ giúp cho ta hiểu rõ tại sao ta lại có những thái độ và cảm xúc đó. Hiểu được nguyên nhân cuả thái độ và cảm xúc là ta đã tiến được một bước quan trọng trong quá trình hoá giải các cảm xúc tiêu cực. Một thí dụ cụ thể, ta có một cảm xúc thù ghét một hoạt động tôn giáo hay chủ thuyết nào đó. Khi phân tích ta mới thấy ngay lý do chính là vì hoạt động đó đi ngược lại những niềm tin hiện hữu cuả ta. Nhưng nếu hoạt động đó phù hợp với niềm tin cuả ta, thì có thể ta lại hoàn toàn ủng hộ hành động đó. Như vậy hoạt động tôn giaó hay chủ thuyết nói trên không phải là nguyên nhân thật cuả sự thù ghét cuả ta.; mà chính niềm tin hiện hữu trong ta là nguyên nhân cuả sự thù ghét. Cảm xúc này có thể gây ra ảnh hưởng tai hại cho tinh thần và thể chất cuả ta, nếu ta không hiểu rõ nguyên nhân cuả nó.

Tóm lại nhờ phân tích ta hiểu rõ hơn nguyên nhân cuả sự đau khổ, ta có thể tiến xa hơn trong quá trình thu ngắn hay xoá bỏ thời gian đau khổ. 

4.3) Niềm tin:

Nhiều người sống vì niềm tin, sống cho niềm tin, và sẵn sàng chết cho niềm tin cuả họ. Niềm tin có thể tạo nên sức mạnh phi thường, sự can đảm, sự anh hùng, v.v...Nhưng niềm tin cũng có thể tạo ra những tai hoạ khủng khiếp cho loài người, chẳng hạn như chiến tranh tôn giáo, chiến tranh ý thức hệ, v.v...

Nói một cách khác, niềm tin cũng giống như mọi hiện tượng khác, nghĩa là có những mặt tích cực và những mặt tiêu cực.

Sự khác biệt về niềm tin cuả chúng ta thường do sự khác biệt về văn hoá, về phong tục tập quán, về giáo dục, về kinh nghiệm bản thân, về hoàn cảnh thiên nhiên và xã hội chung quanh, v.v...Niềm tin là một phạm trù siêu hình, có ảnh hưởng rất lớn lao trên suy tư, tình cảm và cảm xúc cuả con người. Cùng một hiện tượng thiên nhiên, xã hội hay cá nhân, sự khác biệt về niềm tin cuả hai người có thể tạo nên hai phản ứng hoàn toàn khác biệt: ngườI này thì phấn khởi trong khi kẻ kia lại lo âu.

Ðể hiểu rõ hơn về niềm tin, chúng ta thử phân tích từng loại niềm tin:

- Niềm tin cố định: người có loại niềm tin này thường không chấp nhận bất cứ những gì trái với niềm tin cố định cuả họ. Họ có thể có những hành động can đảm, anh hùng để bảo vệ niềm tin cũng như những hành động cuồng tín, tàn bạo, phi nhân để cải tạo tư duy người khác.

- Niềm tin sống động: người có loại niềm tin này có thể chấp nhận sự thay đổi niềm tin, có thể tìm hiểu những mặt tích cực cũng như tiêu cực cuả niềm tin cuả mình cũng như cuả người khác. Loại niềm tin này đòi hỏi một sự cố gắng không ngừng; nếu không ta có thể rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần, sống trong hoài nghi, thiếu những nguyên tắc căn bản trong cuộc sống.

- Niềm tin gây những cảm xúc tiêu cực: có những niềm tin không còn phù hợp với những điều kiện mới cuả thiên nhiên và xã hội. Người có loại niềm tin này thường hay bi quan tiêu cực, thở vắn, than dài, luôn luôn bất mãn v.v...Chẳng hạn như niềm tin " đời là bể khổ " có thể dẫn ta đến chối bỏ cuộc đời. Ngược lại, niềm tin này đã có thể xoa dịu sự đau đớn cho một số người.

- Niềm tin phong phú hoặc cuộc sống: có những niềm tin đem lại sự lạc quan, yêu đời, nhiệt tình trong cuộc sống v.v...Chẳng hạn như niềm tin " hiện tượng nào dù xấu đến đâu cũng có những mặt tích cực cuả nó ". Niềm tin này không có tính cách cố định vì một hiện tượng có thể mang hạnh phúc cho kẻ này lại mang đau khổ cho kẻ khác.

Ta cũng có thể phân loại niềm tin theo tính cách khoa học hay tâm lý, thiên nhiên hay nhân tạo, có tính cách xã hội hay cá nhân v.v...

Nói tóm lại, niềm tin nào cũng có những mặt tích cực và những mặt tiêu cực. Những kẻ đầu cơ chính trị đã lợi dụng sức mạnh cuả niềm tin để gây ra chiến tranh, để thực hiện tham vọng cuả chúng. Kẻ thức thời có thể dùng những mặt tích cực cuả niềm tin để đem lại hạnh phúc cho chính mình và cho kẻ khác.

Niềm tin có ảnh hưởng trực tiếp trên cảm xúc cuả con người. Ðôi khi tập tục trở thành niềm tin cố định, và niềm tin này có thể tạo nên những cảm xúc tiêu cực. Một thí dụ cụ thể như sự lễ phép trong văn hoá và ngôn ngữ Việt Nam. Người quen với tập tục này có thể cảm thấy bị xúc phạm bởi những kẻ không tôn trọng tập tục này và có thể có những phản ứng hung hăng, thiếu văn minh. Ngày xưa, đã có kẻ biết tác dụng kinh hoàng cuả các cảm xúc tiêu cực: trong truyện Tam Quốc, Khổng Minh đã có thể dùng lời nói khiến kẻ khác hộc máu chết tại chỗ. Có thể người ta đã thần thánh hoá câu truyện, nhưng dầu sao người ta cũng đã nhận thức được sức mạnh phá huỷ kinh hồn cuả cảm giác tiêu cực: lý luận để kẻ khác nổi điên có thể làm kẻ này đứt mạch máu chết tại chỗ.

Như vậy, nguyên nhân làm cho con người đau khổ có thể chính là niềm tin cuả mình. Làm sao yên vui cho được khi thấy chung quanh mình những kẻ thành công rực rỡ đa số là người lưà bịp, trong khi niềm tin " ở hiền gặp lành " còn thống trị trong tâm tư mình. Sự đau đớn này rõ ràng không phải do ngoại cảnh mà do chính niềm tin cố định trong tâm hồn ta.

Sau khi nhận thức sự hiện diện cùng tác hại cuả các cảm xúc tiêu cực, sự phân tích giúp ta nhìn thấy các mặt tích cực cũng như tiêu cực cuả từng hiện tượng. Sau khi phân tích ta có thể thấy được niềm tin có thể là nguyên nhân chính cuả một sự đau khổ nào đó, sự thay đổi một niềm tin cố định bằng một niềm tin sống động có thể giúp ta hoá giải mau chóng một cảm xúc tiêu cực tai hại. Chẳng hạn như niềm tin "ở hiền gặp lành" có thể thay thế bằng " ở hiền giúp ta có sự yên ổn trong tâm hồn, một thứ hạnh phúc mà người khác không mua được "

4.4) Diễn biến trong tư duy:

Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta thường có những việc phải lo âu, suy nghĩ để tìm ra giải pháp thích hợp. Trong những suy tư thường xuyên đó, chúng ta thường tưởng tượng ra những diễn biến có thể xẩy ra để chúng ta chuẩn bị sẵn những biện pháp đối phó thích hợp.

Những suy tư đó có những mặt tích cực như:

- hiểu thấu các vấn đề phải đối phó
- có thể tìm được giải pháp có lợi nhất
- chuẩn bị kỹ các biện pháp đối phó
- khi gặp việc thì bình tĩnh vì đã nắm vững tình hình

Ngược lại, những suy tư đó có những mặt tiêu cực như:

- những cảm giác tiêu cực: lo âu, sợ hãi, giận hờn
- những tác hạ;i cuả những cảm xúc tiêu cực trên sức khoẻ vật chất cũng như tinh thần.

Trong những mặt tiêu cực, ảnh hưởng cuả những hoàn cảnh tưởng tượng trên bộ não cuả chúng ta cũng giống như những hoàn cảnh thực và có khi còn tai hại hơn nhiều. Hoàn cảnh thực luôn luôn tuân theo những quy luật khách quan, nhưng hoàn cảnh tưởng tượng thì lại vô giới hạn. Vì vậy tác hạI cuả hoàn cảnh tưởng tượng có thể làm cho chúng ta hoàn toàn tê liệt, không ăn không ngủ được. Một người sợ ma có thể bị ngất xỉu vì thấy một hình ảnh nào đó xuất hiện bất ngờ. Sự ám ảnh có thể trở thành một tâm bệnh khá nguy hiểm v.v...Người càng thông minh thì trí tưởng tượng càng dồi dào, tác hại cuả hoàn cảnh tưởng tượng càng khốc liệt. Phải chăng đó là lý do mà người xưa có câu " ngu si hưởng thái bình "!

Muốn làm dịu bớt hoặc xoá bỏ những mặt tiêu cực đó ta có thể:

- phân biệt rõ rệt giữa "hoạch định công việc một cách khoa học" với "sự lo âu". Với sự thực tập thường xuyên, ta có thể thay thế sự lo âu chung chung bằng sự hoạch định có phương pháp khoa học, có dự trù thời gian và phương tiện để thực hiện. Khi hoạch định, chúng ta đứng ngoài công việc, không coi công việc là một phần tử cuả bản thân mình. Trái lại, khi lo âu, chúng ta lẫn lộn giữa bản thân mình và công việc; đó chính là lý do mà sự lo âu có thể có những tác hại vô hình trên tinh thần và vật chất một người. Sự hoạch định làm tăng cường sự tự tin trong khi sự lo âu làm tiêu hao năng lực.

- để tránh cảm xúc tiêu cực do khối lượng hoặc đòi hỏi cuả công việc hàng ngày, ta nên phân chia công việc ra nhiều phần nhỏ với một thời khoá biểu phù hợp với năng lực cuả mình. Một thí dụ cụ thể như nghĩ đến công việc phải thực hiện trong tuần tới, có người tự nhiên cảm thấy mệt mỏi, chán nản v.v...; nhưng sau khi phân chia công việc ra từng ngày từ thứ hai tới thứ sáu thì người đó như lấy lại được năng lực nên cảm thấy yêu đời phấn khởi.

- thay đổi diễn biến trong tư duy để xoá bỏ những cảm xúc tiêu cực và tạo ra những cảm xúc tích cực. Một thí dụ cụ thể như có người sợ đi máy bay, chẳng qua chỉ vì diễn biến trong tư duy cuả người ấy là những cảnh máy bay bị rớt, ngược lại một đứa trẻ lại haó hức được đi máy bay để có được những cảm giác mới. Sự thay đổi diễn biến trong tư duy lúc đầu đòi hỏi một sự thực tập thường xuyên, nhưng khi đã trở thành thói quen thì có thể trở thành một vũ khí sắc bén trong việc thực hiện một cuộc sống vui tươi hạnh phúc.

Nói tóm lại, diễn biến trong tư duy có thể là những nguyên nhân trực tiếp cuả các cảm xúc tiêu cực và cuả sự đau khổ. Thay đổi diễn biến trong tư duy có thể giúp ta hoá giải các cảm xúc tiêu cực, tạo ra các cảm xúc tích cực, giúp ta bảo toàn và tăng cường năng lực để thực hiện những gì mình mong muốn.

4.5) Tự an ủi:

Trong cuộc sống, ta thường có khi may có khi rủi, những sự kiện ngoài tầm tay ta. Khi may mắn, con người thường thấy phấn khởi, sáng suốt hơn; ngược lại khi rủi ro thì thấy đau khổ, tinh thần sa sút v.v...và thường cần sự an ủI cuả bạn bè, thân thuộc để xoa dịu đau thương. Nhưng nếu ta có thể tự an ủi, ta có thể dễ dàng thoát khỏi những bế tắc tâm lý do những tai hoạ gây ra.

Tự an ủi không có nghĩa là tự đánh lưà bản thân mình. Muốn tự an ủi ta cần:

a) Nắm vững quy luật tuần hoàn cuả thiên nhiên chẳng hạn như những liên hệ nhân quả trình bày ở mục 3, và những quy luật khác sau đây:

- sông có khúc, nggười có lúc: một câu châm ngôn phản ảnh sự nhận xét cuả người xưa về lẽ tuần hoàn. Sông nào mà chẳng có khúc quanh co, ngườI nào mà chẳng có lúc may lúc rủi. Sông thì hết quanh co rồi đến thẳng, hết thẳng lại quanh co. Người thì khi lên trời cũng chiều lòng, mà khi rủi thì hoạ vô đơn chí'.

- 'cùng tắc biến, biến tắc thông'. Nếu không vào đường cùng, con người khó có thể làm những bước nhẩy vọt.

- một hiện tượng khách quan có thể là cái may cho người này và cái rủi cho kẻ khác. Mưa đem lại nguồn nước quý giá cho nhà nông thì cũng đem lại sự bực mình cho dân thành thị. Nói một cách khác, hiện tượng nào cũng có những mặt tiêu cực và những mặt tích cực.

- may và rủi là hai mặt đối lập cuả một thể thống nhất; trong cái hoạ luôn luôn ẩn tàng cái phúc, và trong cái phúc lại chứa sẵn mầm mống cuả cái họa. Một thí dụ cụ thể như cái hoạ "tù đầy cải tạo" có ẩn tàng cái phúc "được qua Mỹ"; cái phúc "được qua Mỹ" lại chứa sẵn mầm mống cuả cái họa "tan vỡ gia đình". Tính cách biện chứng cuả may và rủi làm cho có người nghĩ rằng: " ai khôn thì dại ai dại thì khôn ", thực ra " người biết đóng vai dại mới là người khôn thật "; vì người này hiểu rõ mọi mặt cuả cả khôn lẫn dại.

b) Vận dụng những quy luật vào hoàn cảnh cá nhân:

Dù những hiện tượng khách quan ở ngoài tầm tay ta nhưng ta luôn luôn có thể làm chủ những quan điểm cuả ta. Khi đã nhận định được mầm mống cuả cái phúc ở trong cái hoạ thì mỗi cái rủi là một nhắc nhở ta phải cố gắng hơn, thận trọng hơn, một dịp để ta chín chắn hơn để không bỏ lỡ cơ hội sắp đến.

Một hiện tượng khách quan có thể gây cho ta những buồn bực, lo âu, đau đớn. Nhưng thực ra những cảm xúc tiêu cực này lại do những quan điểm cuả chính ta trực tiếp gây ra, vì cùng hiện tượng đó, kẻ khác lại vui mừng phấn khởi. Chẳng hạn như muà đông khắc nghiệt ở xứ lạnh gây ra nhiều lo âu, bực bội cho ta. Nhưng đối với người mê trượt tuyết thì mùa đông lại đầy hứng thú. Lo âu hay phấn khởi thì tùy theo mỗi người, nhưng có một điều cố định là hết muà đông thì đến muà xuân, dù ta có nóng nẩy đợi chờ xuân, dù ta có thở vắn than dài về muà đông thì trái đất vẫn quay quanh mặt trời, vẫn cần thời gian để tới muà xuân; thay vì than vãn muà đông, sao ta không thưởng thức cái không khí trong sạch, cái yên tĩnh, những cảnh đẹp thần tiên cuả muà đông. Tận dụng những mặt tích cực cuả một hiện tượng khách quan không những giúp ta mau chóng hoá giải các cảm xúc tiêu cực mà còn hạnh phúc hoá cuộc đời ngay cả những lúc khó khăn.

Một thí dụ khác: khi bị mất công ăn việc làm, người bình thường sẽ đau đớn, lo âu, dằn vật. Sự đau đớn đó thường thúc đẩy người đó tiến lên sau một thời gian dài. Những nguyên nhân cuả sự thành công trong tương lai đã nằm sẵn trong sự đau đớn đó. Khi sự đau đớn kéo dài quá lâu, các nguyên nhân cuả sự thành công tương lai có thể bị xoá bỏ. Ngược lại, có người biến ngay sự đau đớn, lo âu, dằn vật thành hành động cụ thể để đi tìm việc khác, để trau dồi khả năng, để cập nhật hoá kiến thức, để không còn phút nào dành cho âu lo, dằn vật, đau đớn. Những hành động đó không những giúp ta dễ dàng có công ăn việc làm mới, còn biến giai đoạn thất nghiệp thành một dịp để cách mạng hoá bản thân mình.

Nói tóm lại, tự an ủi là quan sát các hiện tượng khách quan một cách toàn diện, để tận dụng các mặt tích cực cuả mỗi hiện tượng, để mau chóng xoá bỏ những cảm xúc tiêu cực, để hạnh phúc hoá cuộc đời ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn.

4.6) Vận động tích cực.

Vận động tích cực là sự hoạt động về tinh thần hay thể chất, tự giác, không ngừng, với một cường độ phù hợp với thể chất, với sở thích cuả mỗi người. Vì vậy vận động tích cực luôn luôn đem lại những cảm xúc tích cực mới. Bất cứ một vận động nào có hại cho thể chất cũng như tinh thần đều không phải là vận động tích cực.

Vận động tích cực là một yếu tố vô cùng quan trọng trong đời sống con người, riêng trong việc hoá giải các cảm xúc tiêu cực thì vận động tích cực là một biện pháp hữu hiệu nhất.

Có người nói rằng phương tây thì chú trọng đến "động", trong khi phương đông thì chú trọng đến "tĩnh". Nhận định này có thể dẫn đến những sai lầm trong tư duy, chẳng hạn như tin rằng chỉ có nhàn là hạnh phúc, là sung sướng.

Sự khác biệt giữa đông và tây chẳng qua do những điều kiện sinh hoạt khác nhau, những điều kiện sản xuất nông nghiệp, kỹ nghệ khác nhau, những tập tục lâu đời, những văn hoá, ngôn ngữ khác nhau v.v...

Một hình thức của "động" là sự sống. Nói một cách khác sự sống chính là sự vận động. Nhưng không nên lầm lẫn sự tĩnh là sự chết. Ta ngồi yên trên xe, nhưng chiếc xe đang lăn bánh. Ta đang ngủ, nhưng các tế bào trong ta vận động không ngừng. Sự tĩnh rất tương đối. Sự tĩnh khác với sự chết vì sự tĩnh là một dạng cuả sự động. Chẳng hạn như sự bình tĩnh trước các khó khăn là một dạng cao cấp cuả sự động, để chuẩn bị cho những hành động sáng suốt, để tránh sự đổ vỡ không hàn gắn được, để làm chủ tình hình, để cảm hoá người khác v.v...

Vận động tích cực là vận động có bao gồm sự bình tĩnh, sự hoạch định, sự tập trung tư tưởng, sự phù hợp với những quy luật thiên nhiên và xã hộI v.v...

Vận động tích cực bao gồm nhiều hình thức:

- đọc sách, báo;
- tập thể dục, đi bộ;
- chơi thể thao;
- vận động giải trí (trồng cây cảnh, chăm sóc hoa);
- vận động theo ý thích để cải thiện đời sống: dọn dẹp, lau chùi, trang hoàng nhà cửa v.v...;
- hô những khẩ;u hiệu để lên tinh thần;
- hát một bản nhạc hùng hay một bản nhạc hay;
- lao động tự nguyện để giúp đỡ người khác;
- nói chuyện hài hước, cười đuà;
- đóng kịch;
- mọi hoạt động hữu ích v.v....

Sự vận động tượng trưng cho sức sống cuả mỗi người. Mỗi vận động tích cực đều có thể tạo ra cảm xúc mới: yêu đời, yêu người hơn. Vận động tích cực sẽ xoá được những ý tưởng lười biếng trong tư duy, góp phần xây dựng một tư duy tích cực.

Có người nghĩ rằng đối với kẻ lười thì làm sao mà vận động tích cực được. Thực ra, sự lười biếng là do những nguyên nhân sau đây:

- mệt mỏi tinh thần hoặc thể chất
- trở ngại vật chất: công việc đòi hỏi một sự cố gắng về thể chất
- trở ngại tinh thần: công việc đòi hỏi sự chú ý, sự suy tư, sự lao động trí não
- quan điểm về việc: thấy việc phải làm là vô ích, là ngu xuẩn, là bị bó buộc, là bị bóc lột, là bị lợi dụng v.v...;
- ích kỷ: thích đẩy việc cho người khác để thỏa mãn lòng ích kỷ, để thỏa mãn ý muốn thống trị người khác, cho là mình khôn hơn người khác;

- quan điểm về hạnh phúc: hạnh phúc là nhàn hạ, không phải làm gì cả mà vẫn được hưởng thụ, ấm no. Quan điểm này dễ phổ biến khi cuộc sống còn quá khó khăn, vất vả. Tuy nhiên, khi con người không còn đói rét nữa thì quan điểm này trở nên lạc hậu và phản động; vì nhàn hạ sẽ đem lại sự nhàm chán, thiếu sức sống, thiếu những cảm xúc mạnh, thiếu những tiêu chuẩn cao hơn cuả đời sống, cao hơn là ăn no, mặc ấm. Người nhàn hạ làm sao được hưởng những hạnh phúc có tiêu chuẩn cao như: sáng tạo, hoàn thành nhiệm vụ, đóng góp sức mình cho gia đình, cho xã hội, cho nhân loại, cho sự văn minh cuả loài người. Muốn thưởng thức một bức họa tuyệt vời, một bài thơ hay, một tác phẩm văn hoá có giá trị cao, ta cần phải học hỏi, cần phải có lao động trí óc v.v..., vậy thì nhàn hạ làm sao làm đẹp cuộc sống tinh thần được, làm sao có một cuộc sống có giá trị cao được. Hơn nữa, ngày xưa đã có câu "nhàn cư vì bất thiện", đáng suy ngẫm lắm thay!

Nói một cách khác, con người có cảm giác lười vì một hay nhiều nguyên nhân nói trên. Dù là nguyên nhân nào thì ta vẫn có thể loại bỏ bằng cách chọn loại vận động tích cực phù hợp với ta. Chẳng hạn như mệt mỏi quá thì nghỉ ngơi, ca hát, giải trí, v.v...gặp trở ngại thì từ từ giải quyết một cách phù hợp với năng lực cá nhân. Sự loại bỏ những nguyên nhân liên hệ trực tiếp tới quan điểm cá nhân cần có sự quyết tâm và đôi khi cần sự động viên của người khác.

Vận động tích cực có thể giúp ta vượt qua những trở ngại vật chất và tinh thần, giúp ta có một quan điểm đúng đắn về việc làm, giúp ta có sức mạnh để sẵn sàng đấu tranh, nếu có sự bóc lột, lạm dụng; giúp ta dần dần thay đổI quan điểm cá nhân, xoá bỏ được những ích kỷ nhỏ nhen, giúp ta có mộtquan điểm rộng rãi, cởi mở , chính xác về hạnh phúc v.v... Như vậy vận động tích cực có thể giúp ta xoá bỏ tư tưởng lười, một thứ rác rưởi trong tư duy. 

Trong vấn đề hoá giải các cảm xúc tiêu cực " thù, giận, buồn, lo, sợ " thì vận động tích cực giúp ta quên chúng dễ dàng hơn, có những cảm xúc mới, không có thì giờ  suy nghĩ vẩn vơ, dễ dàng lấp chỗ trống trong tư duy, trong thời gian.

Người ta đã dùng những bản nhạc hùng để tăng tinh thần chiến đấu cuả quân đội, những bản nhạc buồn để làm nản lòng quân địch. Người ta đã dùng những khẩu hiệu để kích động quần chúng, để đạt những thành quả lớn trong những cuộc biểu tình, sách động v.v...Những người đầu cơ chính trị đã nắm vững quy luật " vận động tạo ra cảm xúc " để lạnh đạo quần chúng thực hiện những điều mà họ mong muốn. Tại sao chúng ta không vận dụng quy luật này để hoá giải những cảm xúc tiêu cực và đem lại hạnh phúc cho mình và cho người khác?

Hiểu biết các quy luật sẽ hoàn toàn vô ích nếu chúng ta không áp dụng chúng trong đời sống hàng ngày. Càng vận động tích cực thì ta càng thấy dồi dào sinh lực hơn, hạnh phúc hơn, yêu mình và yêu người hơn.

4.7) Tiếp xúc (đàm thoại, liên lạc):

Tiếp xúc là một phương tiện hữu hiệu để hoá giải các cảm xúc tiêu cực. Những ưu điểm cuả tiếp xúc gồm:

- sự vui thú: khi buồn ta có thể buồn trong cô đơn, nhưng khi vui thì rất cần sự có mặt cuả những người khác. Vì vậy sự giao thiệp tiếp xúc với đồng nghiệp, bạn bè, anh em, bà con thân thuộc v.v...rất cần thiết cho hạnh phúc mỗi người. Người giỏi giao thiệp thì thường rất đông bè bạn và cũng được hưởng nhiều thời gian vui chơi thoả thích. Người không giỏi giao thiệp nhưng nếu hoà nhã, tử tế thì cũng luôn luôn có những liên hệ tình cảm đẹp với người chung quanh, một yếu tố cần thiết cho hạnh phúc. Tài giao thiệp cũng chẳng phải là cái gì cố định. Càng tiếp xúc nhiều thì ta càng giỏi giao thiệp hơn, vì kinh nghiệm, vì hiểu rõ tâm lý người khác, vì học tập được sự lịch thiệp v.v...

- sự ủng hộ, sự khuyến khích, sự giúp đỡ của người khác. Chúng ta có thể tiếp xúc với đồng nghiệp, bạn thân, bà con, những người biết những điều ta cần, những chuyên viên. Khi con người gặp sự không may, thông thường có những cảm xúc tiêu cực, cảm thấy đau khổ và trở nên thiếu sáng suốt, càng cố gắng dẫy dụa để thoát khỏi cảnh khó khăn thì lại gặp hoàn cảnh khó khăn hơn: " Ma đưa lối quỷ đưa đường, cứ tìm lấy lối đoạn trường mà đi ". Ðó là một tâm trạng hoàn toàn tuyệt vọng, mất hết niềm tin ở chính mình. Nhưng người ở ngoài cuộc thì có thể sáng suốt hơn nhiều và có thể an ủi, khuyến khích, giúp đỡ người trong cơn mê loạn. Trong những trường hợp này, sự đàm thoại vô cùng quan trọng, có thể đưa một người hoàn toàn tuyệt vọng ra khỏi cõi mê. Một thí dụ cụ thể là nhiều người muốn tự tử đã được giải thoát khỏi bế tắc tâm lý bởi các nhà tâm lý học.

- sự thông cảm với mọi người chung quanh, tránh được những hiểu lầm đáng tiếc, tránh được những thù hận, giận hờn vô ích, làm giảm hạnh phúc trong cuộc sống. Một thí dụ cụ thể: nhiều gia đình tan vỡ vì thiếu sự đàm thoại, bàn bạc cùng nhau giải quyết những mâu thuẫn.

- trau dồi kiến thư&ùc, hiểu biết quan điểm cuả người khác, mở rộng tầm mắt, nhìn sự việc dưới nhiều khía cạnh khác nhau, hoà mình vào cuộc sống luôn luôn biến động, canh tân; tránh được những lo âu vớ vẩn, sợ hãi viển vông. Người xưa đã từng nói: 'nhất dạ đàm như tam niên độc thư', nghiã là một đêm thảo luận bàn bạc bằng ba năm đọc sách.

- hiểu rõ sự khác biệt giữa người với người chủ yếu là vì những khác biệt về điều kiện khí hậu, kinh tế, chính trị ở mỗi địa phương.

Ngày nay, với sự tiến bộ khoa học nhanh chưa từng thấy, chúng ta được thừa hưởng rất nhiều phương tiện để tiếp xúc, liên lạc:

- thư từ
- điện thoại
- hàng trăm, hàng ngàn đài phát thanh, đài truyền hình

- internet, vừa nhanh vừa rẻ vừa chính xác vừa phong phú gấp ngàn lần các phương tiện khác

- các hội tự nguyện giúp đỡ kẻ gặp khó khăn: nghiền ma tuý, nghiền rượu, nghiền cờ bạc v.v...

Sự phong phú cuả các phương tiện truyền thông càng làm tăng những ưu điểm cuả sự tiếp xúc, liên lạc.

Dù lợi ích lớn lao cuả sự tiếp xúc, nhiều người còn ngần ngại trong việc tiếp xúc. Chúng ta thử tìm hiểu những nguyên nhân ngăn cản sự giao thiệp tiếp xúc với mọi người:

- sự bất đồng ngôn ngữ, văn hoá, phong tục: đây là một khó khăn lớn lao cuả những di dân vì chiến tranh, chính trị hay kinh tế,

- mặc cảm tự tôn hay tự ty: những mặc cảm có khi là những trở ngại không thể vượt qua nếu chúng ta không nhận thức được chúng.

- những trở ngại về thời gian, chẳng hạn như quá bận rộn với con thơ, công việc mưu sinh quá khó khăn v.v...

- những trở ngại về tâm lý, chẳng hạn như nhút nhát, tự khép kín vì sợ ngườI khác cười mình, sợ bị người khác lợi dụng, tự ái không muốn gợi chuyện trước, phân biệt giai cấp, chủng tộc, văn hoá, tuổi tác, nam nữ, v.v...

- sợ bị lừa gạt. Trong thực tế cũng rất nhiều người bị lưà gạt, lợi dụng bởI những kẻ phạm pháp. Người nào mà chẳng từng bị người khác đánh lưà, dốI trá. Không may thay cho nhân loại, một số kẻ lưà gạt lại là được gắn nhãn hiệu cha già của dân tộc, lãnh đạo tinh thần, lãnh tụ tôn giáo v.v...Nhiều người lại bị ngay những người thân yêu cuả mình lừa gạt. Thương thay!

- những mặt tiê;u cực khác cuả sự tiếp xúc: những ảnh hưởng của những người xấu, những phiền toái gây nên bởi người khác, những tin tức bị xuyên tạc để tuyên truyền, những quảng cáo lừa gạt, những sách động cuả kẻ khác v.v...

Nhận thức nguyên nhân gây ra sự ngần ngại giao thiệp tiếp xúc với ngườI khác là bước đầu cần thiết để ta có thể hưởng được những ích lợi lớn lao của sự tiếp xúc. Tất cả những mặt tiêu cực cuả sự tiếp xúc đều có thể kiềm chế nếu ta luôn luôn giữ được tư duy tích cực trong mọi giao thiệp tiếp xúc.

Sự cô lập với thế giới chung quanh có thể gây ra sự nghèo nàn lạc hậu dã man cho một quốc gia. Ðối với một cá nhân thì sự cô lập với những ngườI chung quanh có thể đem lại những tai hại không lường được cho gia đình và bản thân người đó.

Nói tóm lại, sự giao thiệp tiếp xúc đem lại nguồn an ủi, khuyến khích, giúp đỡ cho ta, có thể giúp ta hoá giải được các xúc cảm thù hận, giận hờn, buồn bã, lo âu và sợ hãi. Nói một cách khác, sự giao thiệp tiếp xúc là một nguồn hạnh phúc lớn lao cuả chúng ta.

                                        (Xem tiếp phần 2
          Phó Thường Dân
 
Trang bìa
Ðầu trang