Giận
hờn
Ðám
cưới đang lúc vui nhộn thì
Bá lên sân khấu giúp vui. Bá
là bạn của bố cô dâu, sang Canada
từ năm 1975. Dù đã ở
Canada được 10 năm, nhưng quan điểm
về hôn nhân của Bá vẫn hoàn
toàn là quan điểm của thời
tiền chiến ở Việt Nam. Bá đọc
vài câu ca dao ngày xưa:
Chồng giận thì
vợ làm lành,
Cầm tay thủ thỉ rằng
anh giận gì,
Giận gì anh cứ
nói đi,
Muốn lấy vợ bé
em thì lấy cho.
Sau khi đọc xong, Bá lại
dịch ra tiếng Pháp cho các quan khách
người Pháp hiểu được.
Bá có ý khoe phong tục văn hóa
của người Việt là tuyệt diệu,
lấy được vợ Việt Nam
là vô cùng hạnh phúc. Nhưng Bá
lại không biết rằng vợ Bá
chỉ nể Bá bề ngoài mà thôi,
khi Bá vắng mặt thì bà ta kể
lể cho con cái rằng Bá là con người
vũ phu, ngu dại, ếch ngồi đáy
giếng tưởng trời bằng vung;
mấy đứa con dâu của Bá
còn xui vợ Bá ly dị chứ
dại gì làm nô lệ cả đời
cho kẻ vũ phu!
Lan, cô dâu đang vui vẻ,
nghe thấy Bá dịch mấy câu trên,
lầm bầm:
- Rõ là ông già
lạc hậu, sống ở đây mười
năm rồi mà chẳng chịu sống
hòa hợp với nền văn hóa
của dân bản xứ.
Robert, chú rể, thấy vợ
có vẻ bực mình, bề ngoài
làm như không hiểu lời dịch
của Bá, nhưng trong lòng lại suy nghĩ:
"Mình lấy vợ Việt
Nam, tụi nó càng lạc hậu thì mình
càng có lợi. Bố mẹ vợ
mình mỗi lần gặp mình thì chiều
chuộng đủ thứ. Bây giờ
Bá lại nói rằng mình giận thì
vợ phải làm lành rồi đi
kiếm vợ bé cho mình, số mình
sướng thật. Chẳng bù với
dân ở đây, lấy vợ
phải chiều chuộng đủ thứ
cũng không xong, lúc nào nó cũng
sẵn sàng cắm sừng lên đầu
mình".
Bách vừa nghe Bá
dịch vừa cười. Nhìn vẻ
mặt Bá hãnh diện về nền văn
hóa "bốn ngàn năm văn hiến!",
nhìn vẻ mặt của cô dâu vừa
bực bội vừa xấu hổ vì
ông bạn của bố mình, Bách thấy
tội nghiệp cho cô dâu, tội nghiệp
cho Bá phải "đầu thai kiếp khác
trên trần thế". Nhìn vẻ mặt
của Robert hơi giống thái độ
mất dậy của bọn tây thuộc địa,
Bách tự hỏi không biết mình
có mắc bệnh "kỳ thị chủng tộc"
hay không.
Bách đang suy nghĩ về
những tai hại của sự giận hờn
thì bỗng nhớ lại câu chuyện
xẩy ra 17 năm về trước trong ngày
đám cưới của Lan và Robert.
Giận hờn thì lại
được người khác nuông
chiều, hậu đãi hơn thì ai mà
chẳng thích giả giận giả hờn
!
Ngược dòng thời
gian, Bách lại nhớ những ngày
còn sống ở Việt Nam, những
ngày mà đảng cộng sản còn
đang ráo riết giáo dục căm
thù cho quần chúng để làm
cách mạng! Phải chăng căm thù
có thể tạo nên sức mạnh
bách chiến bách thắng?
Bách cũng nhớ lại
bốn mươi năm trước, có
lần đọc một tài liệu trong đó
tác giả khuyên rằng muốn tránh
sự sợ hãi trong hoàn cảnh
khó khăn thì chúng ta cần nổi
giận. Bản thân Bách cũng nhận
thấy lời khuyên của tác giả
đó đúng, sau khi ứng dụng
vào bản thân mình nhiều lần.
Bách cũng nhớ lại
nhiều hoàn cảnh trong đời sống
thực tế, kẻ giận dữ làm
cho mọi người chung quanh phải nhượng
bộ!
Cũng có nhiều người
cho rằng "giận hờn" là biểu
hiện sự ngay thẳng đối với
những hành động sai trái của
người khác, chẳng hạn như
họ cho rằng thấy hành động tội
ác mà không tức giận thì
không phải là người tốt!
Cũng có người
cho rằng "giận hờn" là tốt
nếu người ta giận hờn vì
lòng
"từ bi" hay vì "tinh thần trách nhiệm".
Trong các trận đấu
thể thao, người ta cũng kích động
căm hờn của các đội viên
để tăng cường sức
đấu tranh. Trong chiến tranh thì sự
kích động căm hờn là một
yếu tố tâm lý chiến vô cùng
quan trọng.
Ngay trong các môi trường
xã hội và gia đình, cũng có
những người khuyến khích
sự căm hờn đối với
những người khác chủng tộc,
khác tôn giáo, khác niềm tin v.v...
Biết bao nhiêu lý do khách
quan làm cho con người dễ giận
dễ hờn, làm cho con người
coi sự giận hờn như một phản
ứng tự nhiên đối với
những kẻ gây phiền hà hay thiệt
thòi quyền lợi của mình. Dần
dần, tính giận hờn tiến sâu
vào phần vô thức và phản
ứng "giận hờn" của con người
trở thành tự động không
cần thông qua phần ý thức của
não bộ, chẳng hạn như chỉ cần
nhìn thấy lá cờ của kẻ
thù, người ta có thể nổi
giận liền, mặc dầu kẻ cầm lá
cờ đó không phải là
kẻ thù.
Nhưng một khi thói quen giận
hờn đã in sâu vào phần
vô thức của não bộ thì
lúc đó "giận hờn" mới
bắt đầu gây nên những
tai hại không lường được
cho người trong cuộc, nhất là
đương sự lại ít khi ý
thức được những tai hại
đó.
Bách so sánh những
cái lợi và những cái hại
do sự giận hờn mang để xem
có nên xóa bỏ hẳn sự giận
hờn hay không.
Suy nghĩ về những
cái hại, Bách thấy rằng khi giận
hờn, người ta có thể:
- rơi vào cạm bẫy
của kẻ khác. Trong cuộc sống hàng
ngày, người nào hay giận hờn
dễ bị người khác gài
bẫy để trở thành trò
hề trước đám đông,
mất sáng suốt trong sự giải quyết
mọi vấn đề khó khăn.
- lãng phí thì giờ
hạnh phúc. Khi giận hờn, con người
thường cảm thấy bực bội,
khổ sở.
- thiếu sáng suốt, vì
giận mất khôn. Khi giận hờn, con
người thường phạm phải
những lỗi lầm đáng tiếc
vì sự thiếu sáng suốt của
bản thân mình.
- hại sức khỏe, vì
sự giận hờn có ảnh hưởng
xấu trên thể chất, có thể
làm giảm sự kháng cự của
cơ thể chống lại bệnh tật. Cảm
xúc giận hờn mãnh liệt có
thể làm cho các bộ phận trong cơ
thể tiết ra các độc tố có
hại cho sức khỏe, cũng giống
như cảm xúc lo âu tiết ra acid gây
hại cho bao tử. Mỗi sự suy nghĩ,
mỗi cảm xúc đều có thể
tạo ra một phản ứng sinh lý, chẳng
hạn như chỉ nghĩ đến chanh là
con người có thể chẩy nước
miếng. Vì vậy khi bị cảm xúc
giận hờn ngự trị, hệ thống
hóa học trong cơ thể sẽ hoàn
toàn bị xáo trộn. Cảm xúc giận
hờn luôn luôn thúc đẩy
suốt ngày đêm để chúng
ta phải đương đầu hoặc trốn
chạy, không cho phép chúng ta được
một phút thảnh thơi. Cảm xúc
giận hờn lâu dài có thể
tạo ra mọi thứ hỗn loạn về
sinh lý chẳng hạn như mất ngủ,
ác mộng, mệt mỏi, khó tập trung
tư tưởng v.v... Nhiều chứng
bệnh như huyết áp cao, nhức đầu
kinh niên, loét bao tử và ngay cả
bệnh tim có thể do sự giận hờn
gây ra.
- thiếu văn minh, vì sự
giận hờn có thể tạo ra các
hành động thô tục, thiếu tế
nhị.
- giảm uy tín của bản
thân. Người ta có thể ngại
tiếp xúc với kẻ hay giận hờn
chứ không ai kính trọng, thần
phục kẻ đó.
- sự thoái hóa về
tinh thần cũng như về thể chất
v.v....
- sự giận hờn
ngăn cản sự sống vui tươi trong
gia đình, biến không khí gia đình
thành ngột ngạt.
- sự giận hờn
làm con người sống xa cách với
mọi người chung quanh.
- sự giận hờn
có thể thúc đẩy con người
bạo động, dùng bạo lực không
cần thiết, thiếu văn minh.
- sự giận hờn
có thể thúc đẩy con người
phá hoại thay vì xây dựng.
- thiếu tình cảm đẹp.
- thiếu tình yêu.
- thiếu khoan dung đối
với người khác.
- thiếu chính nghĩa.
- Khi giận hờn thì
người ta không thể nào có
hạnh phúc được. Sự giận
hờn như ngọn lửa thiêu đốt
tâm hồn, làm chết ngạt mọi cảm
xúc khác, nhấn chìm con người
vào sự cay đắng.
- V.v...
Trong quá khứ, Bách
đã nhiều lần giận hờn.
Bách đã từng nghĩ rằng
sự nóng giận của mình là
một tính tốt, chứng tỏ mình
là người ngay thẳng nên thấy
những gì ngang tai trái mắt thì
phải giận để có thêm sức
mạnh, để sáng suốt hơn trong
sự tìm kiếm phương pháp giải
quyết. Ðã nhiều lần, nhờ
sự nóng giận, Bách nghĩ rằng
mình đã làm cho người
khác phải nể nang mình hơn, không
dám phân biệt đối xử. Trong
quan hệ đối với bạn bè
thân thuộc, Bách cũng đã suy
nghĩ sự nóng giận là cần
thiết; ngay trong việc giáo dục con cái,
Bách đã cho rằng sự nóng
giận là những biện pháp kỷ
luật cần thiết. Trong khi tìm biện pháp
để giải quyết các vấn đề
khó khăn, nan giải, Bách cũng đã
nghĩ rằng sự nổi giận làm
cho mình sáng suốt hơn, mạnh bạo
hơn, dễ thành công hơn.
Nhưng bây giờ, trong
khi Bách cố gắng tìm hiểu những
cái tai hại do "giận hờn" gây
ra thì Bách lại hoang mang không biết
việc mình suy nghĩ trước kia có
hoàn toàn là sai trái hay không.
Bách nhớ lại mỗi lần giận
vợ hay giận con, Bách thấy vô
cùng đau khổ, ray rứt. Sự
giận hờn như ngọn lửa tàn
bạo thiêu đốt tâm hồn Bách.
Mỗi khi giận những bạn bè, những
người thân thuộc, những người
đồng nghiệp, Bách cũng có
cảm giác như tâm hồn mình bị
xáo trộn, thể chất mệt mỏi, chán
nản. Bách tự nhủ phải chăng
những cái lợi và những
cái hại của sự giận hờn
luôn luôn bù trừ lẫn nhau?
Bách nhớ lại những
ngày còn sống ở Việt Nam, thấy
sách vở giáo khoa hệ tiểu học
giáo dục căm thù người
Mỹ, Bách đã vô cùng tuyệt
vọng về bản chất thù hận của
con người. Bây giờ sống
ở nước ngoài, khi Bách
đề cập tới vấn đề
xóa bỏ giận hờn để thân
tâm mình an lạc thì Bách bị những
người quá khích cho là con người
thiếu lập trường; đối với
họ, không còn thù hận giận hờn
thì không còn tinh thần đấu
tranh theo kiểu đấu tranh của họ. Xét
trường hợp cá nhân của
mình thì Bách lại thấy khi không
giận hờn, Bách vừa sáng
suốt hơn, vừa dồi dào năng
lực hơn để đấu tranh một
cách hòa bình với bản thân
mình, với xã hội chung quanh.
Bách cũng thường
nghe người ta nói rằng: "tôn
giáo nào cũng dậy con người
làm điều thiện, tránh điều
ác", nhưng cũng có lần một đồng
nghiệp nói với Bách:
- Bạn thử nhận xét
xem có phải những tội ác lớn
nhất của loài người là
do những tôn giáo gây ra không
?
Bách không trả lời,
nhưng câu nói đó cũng làm
Bách liên tưởng đến những
cuộc chiến tranh tôn giáo, đến
những thầy tu buôn thần bán
thánh, đến những vụ án
xâm phạm tình dục của các vị
tu hành. Có người cho rằng con
người cần có tôn giáo
thì mới lương thiện được.
Nhưng Bách suy nghĩ về bản thân
mình, chẳng theo tôn giáo nào, nhưng
lại thích làm điều thiện, thích
làm "anh hùng không tên tuổi" vì
mỗi khi Bách giúp được
ai việc gì, làm được việc
gì hữu ích cho người khác
thì Bách cảm thấy trong lòng mình
lâng lâng sảng khoái, chẳng cần
ai mang ơn. Bách có cảm giác rằng
mỗi hành động hướng thiện
của mình đều được
Trời tưởng thưởng hậu
hỹ rồi, cần gì sự trả
ơn của con người nữa.
Có lần Bách gặp
Bá ở nhà một người
quen, sau khi chào hỏi, Bách nói:
- Nghe nói anh mới xây
dựng xong một cái chùa, phúc đức
quá.
- Tôi đi chùa không
phải để mong Phật độ đâu
chú em, Bá trả lời một cách
vô cùng tự tin, trước sự
ngạc nhiên của Bách.
- Anh bây giờ các
cháu đã trưởng thành cả,
đã thành công, giầu có thì
anh không cần Phật độ nữa
chứ nhân gian thì ai ai đi chùa
mà chả mong được Phật độ,
Bách cố tìm cách trả lời.
- Tôi thấy thiên hạ
toàn mê tín dị đoan, Bá nói
tiếp. Tôi mà có phương tiện
thì tôi lập tôn giáo mới
"đạo Phật khoa học" để giúp
đỡ mọi người tự
giải thoát tâm hồn.
Bách thấy Bá là
một ông già hơn bẩy mươi tuổi,
không được tiếp thu nhiều
nền khoa học tây phương, mà lại
có tinh thần khoa học rất cao, nên
trong lòng Bách rất là cảm phục.
Sau khi cân nhắc những
cái lợi cái hại của sự
"giận hờn", Bách thấy mình cần
tìm những biện pháp thực tế
để thay thế những cái lợi
và đồng thời tìm những
biện pháp để xóa bỏ những
cái hại do "giận hờn" mang lại.
Sau khi phân tách những
cái lợi do sự "giận hờn"
mang lại, Bách nhận thấy những
cái lợi đó đều có
tính cách ngắn hạn và đồng
thời mang lại những cái hại
dài hạn, chẳng hạn như:
- nếu sự "giận hờn"
làm cho người khác nuông chiều
mình hơn thì chẳng qua đó chỉ
là sự ấu trĩ, lạc hậu, ngăn
cản sự phát triển tâm lý
lành mạnh cho chính bản thân mình.
- nếu sự "giận hờn"
làm cho người khác nể sợ
mình hơn thì chắc chắn mọi người
sẽ lặng lẽ xa lánh mình, và
hạnh phúc con người lại cần
sự niềm nở đón tiếp
của người khác.
- nếu sự "giận hờn"
làm cho người khác nhượng
bộ thì chẳng qua đó chỉ là
sự nhượng bộ rất ngắn
hạn và sự trả đũa dài
hạn sau này.
- nếu sự "giận hờn"
làm cho mình đỡ sợ trong
chốc lát thì chắc chắn sẽ
tạo ra sự mệt mỏi thể chất
và tinh thần ngay sau đó. Hơn nữa,
người ta có thể dùng nhiều
biện pháp khác hữu hiệu hơn
nhiều để hóa giải cảm xúc
"sợ hãi".
- nếu sự "giận hờn"
làm cho mình tăng thêm sức mạnh
thì sức mạnh đó có thể
gây nên những tai hại lớn
lao về sau vì giận mất khôn nên
sức càng mạnh thì hậu quả
càng thảm khốc.
- nếu sự "giận hờn"
làm cho mình tưởng là biểu
hiện sự ngay thẳng đối với
những hành động sai trái của
người khác thì đó chỉ
sự lầm lạc về nhận thức
mà thôi. Ðối với hành
động sai trái của người
khác thì hành động và lập
trường đúng đắn mới
là những phản ứng thích
hợp.
- nếu sự "giận hờn"
làm cho mình tưởng là vì
lòng "từ bi" hay vì "tinh thần trách
nhiệm" thì đó chẳng qua chỉ là
sự lầm lạc về nhận thức
mà thôi. Lòng "từ bi" và "tinh
thần trách nhiệm" chỉ cần hành
động để thực hiện chứ
không cần giận hờn để
đóng vai đạo đức giả!
- v.v...
Càng suy nghĩ về những
cái lợi do sự "giận hờn"
mang lại thì Bách càng thấy những
cái lợi đó vừa ngắn
hạn vừa ngầm chứa những
cái hại lớn hơn.
Nhưng nhìn nhận sự
chênh lệch rõ rệt giữa những
cái lợi và những cái hại
của sự "giận hờn" cũng vẫn
chỉ là lý thuyết vì Bách cảm
thấy sự "giận hờn" là một
phản ứng tự nhiên của con
người khi bị người khác
khinh thường, miệt thị hay khi những
quyền lợi vật chất, tinh thần
của con người bị xâm phạm.
Và như vậy thì sự loại bỏ
những cái tai hại của sự "giận
hờn" quả thật là muôn vàn
khó khăn.
Dầu sao, nhận định
được những cái hại của
sự "giận hờn" cũng là bước
đầu vô cùng quan trọng trong việc
loại bỏ những cái hại đó.
Bách áp dụng nhiều biện pháp
để xóa bỏ giận hờn, chẳng
hạn như phân tích lợi hại, thay
đổi những niềm tin cố định,
thay đổi diễn biến trong tư duy, vận
động thể chất v.v...
Cũng có người
cho rằng muốn xóa bỏ "giận hờn"
thì chúng ta phải coi sự "giận hờn"
như kẻ thù nguy hiểm. Nhưng Bách
lại cho rằng đối với kẻ
xấu cũng như đối với
các tội phạm thì phải dùng luật
pháp để trừng trị chứ
chẳng cần phải coi họ là kẻ
thù vì Bách nghĩ rằng nếu
còn kẻ thù thì làm sao xóa
bỏ "giận hờn" được.
Trong các biện pháp mà
Bách sử dụng, thì sự "tha thứ"
là biện pháp hữu hiệu nhất.
Khi nuôi dưỡng giận hờn,
tâm hồn con người tự tạo
ra một bức tường vô hình
giam hãm bản thân mình. Bức tường
đó có thể trở thành
nhà tù hành hạ tâm hồn người
trong cuộc, không lúc nào được
an lạc. Trong một buổi tiệc vui với
bè bạn ở xa, Bách cũng bàn
về việc tha thứ để xóa
bỏ những cái hại do "giận hờn"
mang lại.
- Nói thì dễ chứ
làm thì em thấy không thực tế
chút nào, Trang, em gái của bạn Bách
bàn vào. Em mà thù hận thì
em chỉ muốn làm cho kẻ thù thật
đau khổ thì em mới sướng,
chứ tha thứ thì chỉ thấy
bực bội, không lối thoát.
Bách thấy mình bí
không thể giải thích cho Trang được,
đành phải im lặng. Bách thấy
Trang nói cũng không phải là hoàn
toàn vô lý vì đó chính
là phản ứng tự nhiên của
con người, nhất là đối
với những người còn
trẻ như Trang. Nhưng khi Bách quan sát
những người lớn tuổi
thì thấy cũng chẳng khác gì
Trang, hay giận hờn, dễ thù hằn,
và luôn luôn mong trả thù. Ngày
xưa người ta còn nói "nằm
gai nếm mật" để cho tâm trí lúc
nào cũng nghĩ đến chuyện trả
thù.
Nhưng khi so sánh cái sướng
của sự trả thù và cái
khổ khi chưa trả thù được
thì Bách thấy một sự khác
biệt vô cùng lớn lao. Khi trả
thù được thì cái sướng
vừa ngắn ngủi, vừa thấp
kém, và sẽ đem lại sự nhỏ
mọn của tâm hồn. Cái sướng
của sự trả thù không thể
nào so sánh được với
những bực dọc lo âu uất hận
khi chưa trả thù nổi. Hơn nữa,
hành động trả thù lại thường:
- tạo thêm thù hận
(lấy oán báo oán, oán oán
chập chùng).
- lại thường thất
bại nên những bực dọc lo âu
uất hận lại tăng cường gấp
bội để biến thành độc
dược hủy hoại chính bản thân
mình.
Trong khi đó:
- nếu kẻ thù là
người tốt thì sự thù
hằn của mình có thể hoàn toàn
sai lạc, có thể vì hiểu lầm,
có thể vì bản thân mình xấu
chẳng hạn như do sự ghen tỵ v.v...
- nếu kẻ thù là
tội phạm thì cần đưa ra pháp
luật xét xử, việc mình tự
cho phép thay thế pháp luật cũng
là một tội.
Có lần Bá hỏi
Bách:
- Chú đòi xóa
bỏ mọi thù hận, như vậy mối
thù mất nước chú cũng
xóa hay sao? Khi đất nước bị
ngoại xâm, chú cũng hòa hợp
hòa giải với kẻ cướp
hay sao?
- Anh hiểu lầm ý em rồi,
Bách bình tĩnh trả lời. Em luôn
luôn chủ trương sống là đấu
tranh, nhưng sự đấu tranh gay go nhất
lại là sự đấu tranh với
chính bản thân mình. Sự đấu
tranh chống kẻ xâm lược cũng
có thể dùng những biện pháp
hòa bình để tiết kiệm xương
máu của nhân dân. Sự sử
dụng vũ khí cũng giống như sự
sử dụng pháp luật đối với
kẻ tội phạm, chúng ta chỉ nên sử
dụng khi cần thiết. Nếu vũ lực
của kẻ địch quá mạnh thì
các biện pháp hòa bình lại càng
cần thiết hơn, vì chiến thắng
cuối cùng lại ở mặt trận
văn hóa, "kẻ cai trị mà trình
độ văn hóa thấp hơn thì
sẽ bị kẻ bị trị đồng
hóa" là một quy luật khách quan chứ
không phải là ý kiến cá nhân
của em đâu anh Bá ạ.
Ai chẳng biết rằng "tha
thứ" là một biện pháp hữu
hiệu nhất để xóa bỏ "giận
hờn", nhưng sự tha thứ đòi
hỏi một sự đấu tranh với
bản thân khá gay gắt. Vì vậy
ngay những sự kêu gọi tha thứ
của các tôn giáo cũng không
mấy hữu hiệu vì con người
thường lầm lẫn sự tha thứ
là một sự nhượng bộ đối
với kẻ xấu, một sự khuyến
khích kẻ xấu tiếp tục việc làm
tội lỗi. Trong cuộc đấu tranh với
chính bản thân mình, để có
thể tha thứ tất cả, Bách luôn
luôn phải tự nhắc nhở mình:
- Tha thứ cho kẻ khác
không phải là vì họ mà là
vì chính bản thân mình. Chỉ có
sự tha thứ mới đem lại
cho mình sức mạnh để tự
giải thoát khỏi "bức tường
uất hận" bao vây quanh tâm hồn mình.
Khi tha thứ cho kẻ khác, chúng ta không
giải thoát họ mà là giải thoát
cho chính chúng ta.
- Tha thứ mang lại cho chúng
ta sức mạnh để góp phần
cho luật pháp và chính nghĩa ngăn
cản hành động xấu trong tương
lai của bọn tội phạm, để bảo
vệ bản thân mình và đồng
loại.
- Tha thứ đem lại cho
chúng ta phép nhiệm mầu để
hàn gắn mọi vết thương trong tâm
hồn, để chúng ta sống tươi
vui hạnh phúc.
- Tha thứ không phải
là làm phúc cho kẻ khác mà
là làm phúc cho chính bản thân
mình vì "tha thứ" là cánh cửa
duy nhất của tâm hồn để chúng
ta thoát ra khỏi nhà tù của thù
hận, của đau thương.
Phó Thường Dân
Tháng tư năm 2002.
|