Ðố
ai lấy thước đo mà lòng
người
Ngày xưa người
ta thường nói:
Dò sông dò
biển dễ dò
Ðố ai lấy thước
mà đo lòng người.
Ngày nay, với tiến
bộ không ngừng về mọi ngành
khoa học, con người càng ngày
càng tìm hiểu rõ về bản chất
của mình hơn. Khoa học không những
giúp chúng ta hiểu rõ hơn về
cơ thể con người, tâm lý
con người, mà còn hiểu rõ
về tác dụng hỗ tương giữa
vật chất và tinh thần trong mỗi cá
nhân. Trước kia vấn đề
tâm lý của con người chỉ
được phản ảnh phần nào
trong các tôn giáo, và những
người không giữ được
trạng thái cân bằng về tâm
lý thường được các
thầy tu giúp đỡ để chữa
trị bằng niềm tin.
Sự liên hệ mật
thiết giữa trạng thái tâm lý
và sức khỏe thể chất càng
ngày càng được nhìn một
cách khoa học hơn. Người ta đã
từng thí nghiệm chữa bệnh
bằng niềm tin, chẳng hạn như cho bệnh
nhân uống một thứ bột vô
hại nhưng lại nói rằng đó
là thuốc chữa bệnh, kết quả
là có tới 30% khỏi bệnh vì
tin là đã uống thuốc để
chữa bệnh. Vì vậy ngày xưa
người ta thường nói: "phúc
chủ lộc thầy" nghĩa là người
bệnh khỏi là nhờ phúc đức
cá nhân của mình và người
thầy thuốc được hưởng
lợi nhờ cái phúc đó.
Thực ra thiên nhiên
đã tạo cho cơ thể chúng ta có
sẵn những phương tiện để
chống đỡ với bệnh tật,
chẳng hạn như trong máu chúng ta có
bạch huyết cầu để tiêu diệt
vi trùng. Khi tình trạng tâm lý cá
nhân thoải mái, niềm tin trong tâm
hồn được đáp ứng
thì tình trạng thể chất được
tăng cường để chống lại
bệnh tật, vì vậy có tới
30% đã khỏi bệnh mà không cần
thuốc thật. Tiếc thay, có một số
người đã lợi dụng khả
năng chữa bệnh của niềm tin để
"buôn thần bán thánh"!
Một khi bệnh tật quá
mạnh so với phương tiện chống
đỡ sẵn có của cơ thể
thì lúc bấy giờ thuốc chữa
bệnh mới thực sự cần
thiết. Nhưng theo đúng quy luật của
thiên nhiên, vật nào cũng có
hai mặt xấu và tốt, và mặt
xấu của thuốc chữa bệnh là
tạo ra những hậu quả mới
có thể nguy hại đến sức
khỏe của người bệnh. Vì vậy
sự sử dụng thuốc giống như
con dao hai lưỡi. Ngày xưa, có
người đã cho rằng : "khi có
bệnh mà không tìm thầy thuốc
thì cũng tương đương là
gặp thầy thuốc có khả năng
trung bình; nghĩa là nếu chẳng may
gặp thầy thuốc kém trung bình thì
còn tệ hơn là không nhờ
thầy thuốc trị bệnh. Có người
quá tin tưởng ở phúc đức
còn nói "nhất thế y tam thế si"
nghĩa là một đời làm
thầy thuốc, vì phạm nhiều tội
lỗi, nên ba đời sau bị trời
phạt bắt ngu si!
Tình trạng tâm lý
và sức khỏe thể chất luôn
luôn có sự quan hệ hỗ tương,
nếu tình trạng tâm lý thoải
mái có thể giúp cơ thể chống
lại được một số bệnh
tật và tình trạng thể chất mạnh
khỏe làm cho tâm lý con người
sảng khoái, thì ngược lại
sự lo âu sầu não làm cho cơ
thể yếu đi và một cơ thể
đau ốm gây ra tình trạng chán
nản buồn bã.
Ðó là một quy luật
thiên nhiên khách quan. Quy luật này
có thể đẩy con người vào
một chu kỳ đau khổ không có
lối thoát: vì đau ốm nên lo
âu sầu não, vì lo âu nên sức
khỏe thể chất mất tính đề
kháng nên càng dễ bị đau ốm
hơn. Ngày xưa khi rơi vào chu kỳ
đó, nhiều người đã
phải dùng niềm tin tôn giáo để
có lối giải thoát. Trong các quốc
gia tiến bộ bây giờ người
dân dễ dàng thoát khỏi chu kỳ
đó nên quần chúng những
con chiên ngoan đạo đã giảm rất
nhiều.
Chúng ta cũng có thể
vận dụng quy luật thiên nhiên khách
quan này để dùng "tình trạng
tâm lý" tăng cường sức
đề kháng của cơ thể cũng
như giữ cơ thể lành mạnh (tập
thể dục, ăn uống điều độ
v.v...) để tạo tình trạng tâm lý
thoải mái, an lạc.
Ðể có thể giữ
tình trạng tâm lý lành mạnh,
chúng ta thử tìm hiểu khái quát
về tâm lý của con người.
Theo các nhà tâm lý học Âu
Mỹ thì con người có những
đặc điểm tâm lý sau đây:
1. Ai ai cũng nghĩ đến
quyền lợi bản thân (quyền lợi
vật chất và quyền lợi tinh thần)
mỗi khi phải chọn lựa hành động,
chẳng hạn như những người
vô sản ủng hộ phong trào cộng
sản thế giới vì tưởng
rằng có lợi cho họ.
2. Ai ai cũng sợ bị
người khác khước từ
và thích được người
khác đón nhận. Khi cái "sợ"
quá lớn, có người tìm
cách lẩn tránh để khỏi bị
thất bại, chẳng hạn như không đi
xin việc nữa để khỏi bị
bác đơn, không dám tỏ tình
dù thiết tha với tình yêu vì
sợ không chịu đựng nổi
sự khước từ v.v... hi cái
"thích" quá mạnh, người ta có
thể hy sinh cả quyền lợi cá nhân
để làm vừa lòng người
khác.
3. Ai ai cũng thích mọi
người đề cập đến
những vấn đề liên quan đến
bản thân mình. Những nhà hùng
biện đã lợi dụng điểm
này để kích động quần
chúng tham gia thực hiện những điều
mà họ mong muốn.
4. Con người thường
hành động vì những lý
do thầm kín, chẳng hạn như một
chính trị gia hô hào mọi người
yêu nước, yêu dân tộc để
thỏa mãn những tham vọng cá nhân.
Vì vậy người xưa có câu:
"nhất tướng công thành, vạn
cốt khô", nghĩa là sự thành
công của một tướng lãnh
là do hàng vạn người chết
oan.
5. Ai ai cũng mang một mặt
nạ xã hội. Sự thực này
chắc chắn bị các nhà đạo
đức giả phản đối dữ
dội, chẳng qua cũng chỉ vì quyền
lợi của họ mà thôi, họ khó
lòng lừa gạt được người
khác nữa! Xã hội nào thì
cũng có những ràng buộc, những
tập quán, những luật lệ riêng;
để tồn tại trong xã hội, con
người phải chọn một mặt nạ
mà theo ý cá nhân của mình
là phù hợp nhất, chẳng hạn
như "đi với bụt mặc áo cà
sa, đi với ma mặc áo giấy" hoặc
là "ở bầu thì tròn, ở
ống thì dài" v.v...
Nhận thức về những
đặc điểm đó không những
giúp chúng ta hiểu rõ người
khác hơn mà còn giúp chúng
ta hiểu rõ hơn về bản thân mình,
một bước dài trong sự làm
chủ được tình trạng tâm
lý của bản thân mình. Nhưng những
đặc điểm đó chỉ phản
ảnh được phần xấu của
con người. Nếu chúng ta dùng
cái "thước" đó để
đo lòng người thì chúng
ta có thể dễ dàng thành công
trong việc đấu tranh với người
khác, nhưng chúng ta sẽ dễ rơi
vào tình trạng khủng hoảng tâm
lý khi cần đấu tranh với chính
bản thân mình; và cuộc đấu
tranh này lại chính là cuộc đấu
tranh có tính cách quyết định
trong việc mưu tìm hạnh phúc của
con người. Dĩ nhiên tâm lý
con người còn có những
phần tốt nữa, chẳng hạn như
trong văn hóa phương đông người
ta thường nói đến:
- đặt quyền lợi
của loài người lên trên
quyền lợi cá nhân, không phải
vì đạo đức giả, mà
vì nhận thức được cá
nhân thì nhất thời, loài người
thì vĩnh cửu.
- đặt sự tự
trọng cao hơn sự chối từ hay
đón nhận của người khác.
- lấy sự khiêm tốn
làm niềm vui trong tâm hồn.
- đặt những quy luật
thiên nhiên và xã hội cao hơn
những ý nghĩ thầm kín cá
nhân.
- hòa mình với những
người chung quanh nhưng vẫn giữ
được giá trị tinh thần của
bản thân.
Trong sự giao tiếp hàng
ngày với người chung quanh, có
người dễ dàng thành công,
có người gặp toàn những
phản ứng bất lợi. Sự
khác biệt đó không phải là
không có nguyên do rõ rệt: phản
ứng của người khác đối
với mình chẳng qua là sự
phản ánh của cách giao tiếp của
bản thân mình. Ai ai cũng có một
cách giao tiếp riêng, nhưng theo các
nhà tâm lý học Âu Mỹ thì
người ta có thể xếp vào
một số loại sau đây để
có thể hiểu rõ hơn về cách
giao tiếp của mọi người cũng
như của chính bản thân mình:
1. Loại phòng thủ. Những
người giao tiếp với người
khác theo kiểu "phòng thủ" , luôn
luôn lo sợ bị người khác
tấn công. Mọi người thường
thích tránh xa những ai sử dụng
loại giao tiếp này, vì vậy những
người này hay than phiền về
sự lạnh nhạt của người
đời.
2. Loại sợ sệt. Những
người giao tiếp với người
khác theo kiểu "sợ sệt" luôn luôn
chấp nhận phần lỗi về mình.
Họ tự coi như nhân viên thừa
hành của mọi người. Chúng
ta có thể quan sát loại giao tiếp
này của một số ít người
Việt có mặc cảm thấp kém khi
giao tiếp với người da trắng
(phải chăng vì 100 năm đô hộ
của giặc tây?).
3. Loại vua chúa. Những
người giao tiếp với người
khác theo kiểu "vua chúa" vừa kiêu
ngạo, vừa ích kỷ, luôn luôn
coi mình là trung tâm của vũ trụ.
Mọi người thường ghét
ngầm loại này và chẳng chút
xót thương khi họ gặp việc khó
khăn.
4. Loại hời hợt.
Những người giao tiếp với
người khác theo kiểu "hời
hợt" đon đã nói cười
để mọi người biết đến
mình, làm bộ tự phê bình
để mọi người chú ý,
không bao giờ suy nghĩ trước
khi nói. Họ không tế nhị và
không có cá tính riêng biệt.
5. Loại độc tài. Những
người giao tiếp với người
khác theo kiểu "độc tài" muốn
kiểm soát sự suy nghĩ cũng như
cảm xúc của người khác.
Họ tiếp xúc với mọi người
chỉ có mục đích để đạt
được những gì họ muốn.
Họ thường bị cô lập và
cô đơn.
6. Loại bi kịch. Những
người giao tiếp với người
khác theo kiểu "bi kịch" luôn luôn
thổi phồng những chuyện nhỏ nhặt
thành những bi kịch lớn lao.
Mọi người đều mất tin tưởng
đối với những người
giao tiếp theo loại bi kịch.
7. Loại nạn nhân. Những
người giao tiếp với người
khác theo kiểu "nạn nhân" không bao
giờ chịu nhận trách nhiệm của
họ đối với mọi hiện tượng
xẩy ra cho họ. Họ cho rằng họ không
phải là nhân tố, không phải
là kẻ cộng tác, cũng chẳng
phải là người thụ hưởng
các thành quả của các hành
động. Họ tự coi như bị bắt
buộc sống trong bể khổ và những
sự khổ đau đó là do kẻ
khác gây ra cho họ. Họ thường
thụ động, thiếu kiểm soát và
không có khả năng vượt các
trở ngại.
8. Loại biết hết. Những
người giao tiếp với người
khác theo kiểu "biết hết" tự
cho là mình thông thái, mổ xẻ
từng hoàn cảnh đến mức
nhàm chán. Sự phân tích quá
mức làm cho mọi người chung
quanh chỉ muốn xa lánh họ.
9. Loại rỉ tai. Những
người giao tiếp với người
khác theo kiểu "rỉ tai" thích thì thầm
vào tai người khác những
chuyện mà họ nói là chỉ có
họ biết. Không ai tin tưởng những
người này. Trong khi cố gắng
tìm cách để thân mật và
được người khác tin
tưởng, họ đã làm mất
niềm tin của mọi người đối
với họ.
10. Loại ba phải. Những
người giao tiếp với người
khác theo kiểu "ba phải" luôn luôn
trả lời về mọi đóng góp,
mọi giải pháp của người
khác bằng một câu: "đúng, nhưng
mà... " , và tiếp theo là những
lập luận để bác bỏ mọi đóng
góp, mọi giải pháp của người
khác. Họ làm cho người khác
bị bực bội và rồi chính
họ bị bực bội.
11. Loại trì hoãn. Những
người giao tiếp với người
khác theo kiểu "trì hoãn" gặp việc
gì cũng nói để mai sẽ làm.
Loại người này không thực
tế, không muốn giải quyết các
vấn đề của bản thân. Mọi
người chẳng ai muốn giúp đỡ
họ vì biết rằng giúp cũng
vô ích mà thôi.
12. Loại giấu giếm. Những
người giao tiếp với người
khác theo kiểu "giấu giếm " luôn
luôn giấu giếm một chuyện nào
đó. Khi người khác tìm
cách lật tẩy thì họ càng giấu
giếm kỹ hơn. Mọi người mất
tin tưởng ở họ và không
muốn có những thân tình với
họ.
13. Loại tráo trở.
Những người giao tiếp với
người khác theo kiểu "tráo trở"
thay đổi thái độ quá mau, ai
tâm tình với họ hôm trước
thì hôm sau đã thấy hối hận
tại sao mình lại dại dột quá tin
người. Họ làm cho mọi người
sợ họ và mất tin tưởng.
14. Loại không tưởng.
Những người giao tiếp với
người khác theo kiểu "không tưởng"
muốn áp đạt cho mình và cho
người khác những mục tiêu
không thực tiễn, không phù hợp
với cuộc sống hiện thực chung
quanh, nhất quyết đóng vai ngây thơ
vô tội, bất chấp cả những
quy luật đơn giản trong đời
sống.
15. Loại toàn hảo. Những
người giao tiếp với người
khác theo kiểu "toàn hảo" luôn luôn
cho là mình hơn người khác,
luôn luôn có thái độ kiêu
ngạo, ngang ngược. Nhưng trong cuộc sống
thực tế không có gì là
toàn hảo cả, người xưa đã
có câu "nhân vô thập toàn" nghĩa
là ở trên đời không
có ai là toàn hảo cả, chân
lý đó ngày nay vẫn đúng
và sẽ còn đúng mãi trong
tương lai. Vì vậy những người
đó không bao giờ đạt được
mục tiêu của họ, luôn luôn cảm
thấy bứt rứt, ít khi nào
được thoải mái tươi vui.
16. Loại thảm họa. Những
người giao tiếp với người
khác theo kiểu "thảm họa" luôn luôn
cho rằng họ biết rõ ngày tận
thế sắp đến. Ðối với
họ, ở nhà cũng như ở
sở làm việc, trong kinh tế hay trong
thời tiết, thảm họa luôn luôn
sắp đến. Cuộc sống của họ
luôn luôn vội vã, lo âu. Cảm
xúc thái quá của họ làm những
người chung quanh khó chịa và
mệt mỏi.
17. Loại cằn nhằn. Những
người giao tiếp với người
khác theo kiểu "cằn nhằn" không bao
giờ bằng lòng với bất
cứ chuyện gì, luôn luôn than thở,
nóng quá, lạnh quá, mệt quá,
xa quá, khó quá v.v... cuộc đời
bất công, không ai biết đến
nhu cầu của họ, không ai lo lắng cho
họ, họ bị phân biệt đối
xử, bị bạc đãi. Họ hết
cằn nhằn đến than thở, hết
than thở đến cằn nhằn. Mọi
người chung quanh chỉ muốn họ câm
miệng lại.
18. Loại buôn tội. Những
người giao tiếp với người
khác theo kiểu "buôn tội" hiểu rằng
nếu tạo được cho người
khác có mặc cảm tội lỗi là
có thể điều khiển và kiểm
soát người khác được.
Dù bạn đối xử thế nào
thì họ cũng đóng vai bị tổn
thương nặng nề để bạn có
cảm giác là đã phạm tội
hay xấu hổ về hành động của
bạn.
Cách phân loại nói
trên giúp ta nhìn thấy cái sai của
mình cũng như cái sai của những
người chung quanh. Trong sự giao tiếp
với mọi người, nếu chúng
ta dùng cái "thước" đó
để đo lòng người thì
chúng ta có thể dễ thành công
trong sự đấu tranh với người
khác, nhưng chúng ta sẽ rất khó
thành công trong sự mưu tìm hạnh
phúc. Nếu trong sự giao tiếp giữa
người với người chỉ
có những loại đó thì chúng
ta chỉ thấy con người là xấu
xa. Thực ra trong sự giao tiếp giữa
người với người cũng
còn những loại tốt đẹp,
(không kể những trường hợp
đạo đức giả), chẳng hạn
như:
- chỉ dẫn cho người
khác.
- giúp đỡ người
gặp khó khăn.
- hành động bác
ái, từ bi.
- hành động hy sinh cho
kẻ khác.
- đem lại hạnh phúc
cho người khác.
- cảm hóa người
tội lỗi cải tà quy chánh.
- v.v...
Từ mấy ngàn năm
nay, người ta đã suy nghĩ về
bản chất con người. Có những
triết gia cho rằng: "nhân chi sơ, tính
bản thiện" nghĩa là khi mới sinh
ra là con người đã mang tính
thiện. Có triết gia lại cho rằng: bản
chất của con người là ích
kỷ, luôn luôn thủ lợi cho bản
thân mình. Biết bao nhiêu nghiên cứu,
biết bao nhiêu tranh luận, nhưng cũng
chưa bao giờ con người hoàn
toàn đồng ý về bản chất
của chính mình.
Nhưng đối với
người thường dân thì
câu chuyện lại rất đơn giản,
ở bất cứ nước nào,
ở bất cứ thời đại
nào mà chẳng có kẻ xấu,
người tốt, kẻ ác, người
hiền lành. Ngay trong bản thân một
người thì cũng có cái
xấu cái tốt, cũng có khi hay khi
dở, lúc thiện lúc ác v.v...
Nhận định về những
đặc điểm tâm lý của kẻ
khác theo kiểu Âu Mỹ thì chúng
ta thấy con người rất xấu xa,
luôn luôn ích kỷ, luôn luôn có
những ý nghĩ thầm kín, luôn
luôn che giấu bản chất của mình.
Nhưng phương pháp nhận định
đó cũng giống như một cái
"thước" đo lòng người
khá chính xác. Những nhận định
đó đã đóng góp cho
sự xây dựng những chính
quyền pháp trị, dựa trên luật
pháp để ngăn ngừa những
hành động xấu xa của con người.
Sự thành công của những nước
Âu Mỹ trong việc xây dựng những
chế độ nhân bản chứng tỏ
sự chính xác của "thước"
đo lòng người đó. Cái
thước đo đó cũng giúp
cho nhân dân loại bỏ được
tệ nạn sùng tín cá nhân, thấy
được bộ mặt thật của những
"cha già dân tộc" của những "lãnh
tụ xã hội cũng như lãnh tụ
tôn giáo"; giúp cho nhân dân thoát
cảnh nhẹ dạ tin người lãnh
đạo để bị trao thân lầm
tướng cướp, đến khi
biết được thì đã
quá muộn.
Cách phân loại những
cách giao tiếp giữa người
với người theo kiểu Âu Mỹ
cho chúng ta thấy sự giao tiếp giữa
người với người là
sự đấu tranh không khoan nhượng,
không thương xót giữa người
mạnh, kẻ yếu, người khôn,
kẻ dại. Nhưng cách phân loại đó
cũng giống như một cái "thước"
để đo cách giao tiếp của mọi
người một cách khá chính
xác, không những giúp chúng
ta hiểu người khác hơn mà
còn thấy được những
sai lầm của mình trong quá khứ.
Với ảnh hưởng
văn hóa phương đông, nhất
là ảnh hưởng của Khổng giáo,
nhiều người vẫn còn cho là
"nhân chi sơ tính bản thiện" nghĩa
là con người khi mới sinh ra ai
cũng là người tốt cả,
chỉ vì khi lớn lên bị ảnh
hưởng của các người
xấu mới trở thành xấu
mà thôi. Chúng ta không bàn đến
sự đúng hay sai của quan niệm triết
lý này ở đây. Nhưng trong
thực tế cuộc sống, quan niệm đó
đã trở thành một cái
"thước" đo lòng người
thiếu chính xác. Quan niệm đó
đã đóng góp tích cực
trong việc xây dựng những chính
quyền "đức trị". Những
chính quyền này luôn luôn nói
tới dùng đạo đức
để trị dân. Nhưng một khi con người
nắm quyền trong tay thì tâm hồn lại
bị thoái hóa nhanh chóng, quyền
hạn cũng giống như một chất xúc
tác để biến con người
từ "đạo đức thật" sang
"đạo đức giả". Vì vậy
những chính quyền nhân danh "đạo
đức" để trị dân luôn
luôn thoái hóa để biến thành
con "quái vật" hút máu mủ nhân
dân cho đến khi bị lật đổ
bằng bạo lực.
Cách giao tiếp giữa
người với người ở
phương đông mặc dầu cũng
có đủ loại như các nhà
tâm lý Âu Mỹ phân loại, nhưng
thường được che đậy
bởi những tập tục, văn hóa.
Với ảnh hưởng lâu đời
của Khổng giáo, phương đông
thường đơn giản hóa những
giao tiếp giữa người với
người vào hai loại chính: kiểu
"quân tử" và kiểu "tiểu nhân".
Sự đơn giản hóa này tạo
thành sự mất chính xác trong
việc đo lòng người. Hơn nữa
sự sắp xếp vào hai loại đó
lại thường lầm lẫn vì những
lý do chủ quan nên không giúp cho
chúng ta hiểu mình hiểu người
hơn.
Nói tóm lại, quan niệm
về đặc điểm tâm lý của
con người cũng như sự phân
loại cách giao tiếp giữa người
với người của phương
tây giống như một cái thước
đo lòng người một cách
khá chính xác, để chúng ta
có thể trả lời câu đố
ngày xưa:
Ðố ai lấy thước
mà đo lòng người.
Nhưng sự chính xác
của cái "thước" đo lòng
người đó lại là con dao
hai lưỡi, có thể gây chấn
thương trầm trọng cho tâm hồn của
chúng ta. Trong sự đấu tranh với
người khác, trong sự đấu
tranh giành tự do dân chủ thì cái
"thước" đo ấy như một vũ
khí cần thiết, nhưng trong sự đấu
tranh với bản thân mình thì cái
"thước" đo ấy lại tạo ra
sự mất tự tin, sự mất
chính nghĩa và dẫn đến sự
mất sức mạnh tinh thần cũng
như sự mất hạnh phúc.
Vì con người lại
chính là tập hợp những thể
thống nhất của những mặt đối
lập, chẳng hạn như "thiện và ác",
"xấu và tốt", "yêu và ghét"
v.v...
Cái "thước" đo
nói trên sau khi giúp ta thấy được
phần "ác", phần "xấu", phần "đáng
ghét" của người khác thì
lại tạo ra mâu thuẫn ngay trong tâm hồn
của người sử dụng, vì
nó kích thích sự phát triển
những phần "ác, xấu, đáng
ghét v.v... " và xói mòn những
phần "thiện, tốt, đáng yêu
v.v..." trong tâm hồn của đương
sự. Và theo một quy luật thiên nhiên:
"Người hạnh phúc
thì có xu hướng thiện, tốt,
đáng yêu v.v... và ngược
lại khi làm những việc thiện, tốt,
đáng yêu v.v... thì con người
cảm thấy hạnh phúc".
Người sử dụng
cái "thước" đo nói trên
mà không nắm vững quy luật này
thì sớm muộn cũng rơi vào
cái cạm bẫy mà thiên nhiên
đã đặt sẵn (lưới trời
lồng lộng) để rồi oằn oại
đau khổ sau khi đã thành công,
sống trong âu lo bứt rứt, không
tiếp thụ được giá trị
của cuộc sống v.v...
Nói tóm lại, "thước"
đo lòng người theo kiểu Âu
Mỹ rất cần thiết cho sự xây
dựng và tồn tại một xã hội
nhân bản, công bằng, dân chủ
và trong sự đấu tranh với
mọi người chung quanh trong cuộc sống
hàng ngày. Nhưng trong cuộc đấu
tranh với chính bản thân mình
thì chúng ta cần loại bỏ những
độc chất do sự sử dụng
cái "thước" đó. Và theo
tôi nghĩ chỉ có một biện pháp
duy nhất để loại bỏ những
độc tố đó là làm những
việc thiện, tốt, đáng yêu v.v....
Phó Thường Dân
Tháng tư năm 2002
|