Ði
tìm định mệnh
-
Bình ơi, vào đây mẹ bảo.
-
Dạ, Bình đang chơi ngoài
sân, vội vã chạy vào trong nhà.
-
Con chào thầy đi, mẹ đang
xin thầy xem tướng cho con.
-
Chào thầy ạ, Bình nhanh
nhẹn chào ông thầy bói nổi tiếng được mẹ mời đến
xem bói cho cả nhà.
Bình sinh ra ở một làng
miền đồng bằng Bắc Việt, trong một gia đình giầu có,
khi chiến tranh thế giới lần thứ hai sắp chấm dứt. Mẹ
Bình nghe tiếng thầy bói Hải đoán đâu trúng đấy nên mời
thầy về nhà xem bói cho cả nhà. Lúc đó Bình mới được
năm tuổi.
Sau khi quan sát cách đi
đứng, nét mặt, tướng đi của Bình, thầy Hải xem chỉ tay
của Bình. Mẹ Bình hồi hộp ngồi chờ, mỗi lần thấy thầy
Hải gật gù, mẹ Bình lại thấy mừng thầm.
-
Bây giờ cháu nắm bàn
tay lại rồi thử bỏ vào miệng xem có vừa không, thầy Hải
vừa gật gù vừa nói.
-
Dạ, Bình đưa nắm đấm
gọn lỏn vào trong miệng.
-
Qúy tướng, cháu Bình tương
lai thế nào cũng làm quan lớn bà ạ, thầy Hải nói với mẹ
Bình. Ngày xưa các cụ thường nói "đàn ông rộng miệng thì
sang", cháu Bình đút nắm tay gọn lỏn vào trong miệng được
thật là qúy tướng. Tôi xem tướng cháu Bình thấy cháu có
qúy tướng nên mới bảo cháu thử bỏ nắm tay vào miệng,
quả là qúy tướng.
Mẹ con Bình nghe thầy Hải
nói vậy thì mừng rỡ lắm. Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ
đồn xa, từ đó bà con của Bình ai cũng muốn xem Bình bỏ
lọt nắm tay vào miệng.
Hoàn cảnh đất nước
đưa đẩy Bình vào Sàigòn năm 1952, khi lên tám tuổi và lớn
lên trong cảnh nghèo nàn túng thiếu. Cha Bình mất hết tài
sản, mất cả quê hương yêu dấu nên trở thành người bất
đắc chí, không muốn cho Bình đi học ở trường, chủ trương
cho Bình ở nhà học chữ nho để thấu hiểu "đạo thánh hiền"
! Mẹ Bình gạt đi, cho Bình đi học như những trẻ con bình
thường khác.
Tới năm 1958, Bình thi
đỗ bằng trung học đệ nhất cấp (tương đương học hết
lớp 9 ngày nay). Hồi đó, bằng cấp rất có giá trị. Với
bằng trung học đệ nhất cấp, có thể xin vào học trường
sư phạm để trở thành giáo viên tiểu học trong một năm
trời. Lam, chú của Bình khuyên cha Bình ghi tên cho Bình đi
học sư phạm giống như hai người con gái của Lam.
-
Chú Lam nói cũng phải con
ạ, nghề giáo là một nghề rất tốt, con nên đi xin học
ở trường sư phạm. Cha Bình khuyên nhủ con.
-
Nhưng con muốn học tiếp
để lên đại học, Bình trả lời.
-
Chú Lam là giáo sư mà cũng
cho con gái đi học sư phạm, cha của con thì vô nghề nghiệp
mà sao con lại không chịu học sư phạm, cha Bình lý luận.
-
Tôi muốn cho thằng Bình
đi học tiếp, mẹ Bình gạt phắt ý kiến của chồng ; ông
thì chỉ gàn dở, thằng Bình nó rất thông minh, nó thừa sức
học, con trai ông Lam ông ấy đâu có cho đi học giáo viên
tiểu học đâu, ông ấy thuê thầy dậy kèm thêm để con ông
ấy vào đại học được, mấy ông thì chỉ biết kỳ thị
không muốn cho đàn bà con gái học lên cao, không muốn con
người khác học giỏi hơn con mình !
Mẹ Bình tin tưởng ở
lời thầy bói năm xưa nên nhất quyết cho Bình học lên cao,
phải chăng là định mệnh ?
Mấy năm sau, năm đầu
tiên vào đại học, Bình chọn lầm nghề, sau mấy tháng theo
học Bình thấy không hợp nên tìm cách đổi nghề. Cha Bình
thấy vậy, nhờ một người bạn bói toán số mệnh cho Bình.
Có lẽ cha Bình than phiền với bạn về Bình nên thầy bói
nói chiều theo ý của cha Bình. Lời tiên tri của ông thầy
bói là Bình sẽ chẳng học hành ra gì, Bình vô tình đọc
được nên cũng lo âu cho số phận của mình, nhưng Bình rất
quyết tâm để thành đạt. Mấy năm sau cha Bình còn bị ám
ảnh vì bài bói ấy nên cứ nhắc nhở Bình:
-
Sao cha thấy người ta học
chăm hơn con nhiều hở Bình, cha Bình nhắc nhở.
-
Con học giỏi nhất trong
lớp thì còn chỗ nào để giỏi hơn được nữa thưa cha,
Bình bắt đầu gạt bỏ mọi ý kiến gàn dở của cha ra khỏi
cuộc đời mình !
Từ đó Bình thấy bói
toán chỉ làm cho mình lo âu vô ích. Bình tự nhủ bói để
khen cho người khác lên tinh thần thì không sao, chứ nói bậy
bạ để người khác lo âu vô ích là thất đức.
Nhưng Bình rất ngạc
nhiên không hiểu tại sao những người giầu có hoặc làm
lớn lại cứ tìm thầy bói để hỏi ý kiến ? Bình cũng nửa
tin nửa ngờ về định mệnh. Lúc phong trào xem lá số tử
vi lên cao, Bình cũng nhờ bạn bè lấy lá số tử vi, thấy
ở cung nô bộc có sao tả phù hữu bật, Bình cũng có cảm
giác vô cùng thích thú. Có người nói rằng nếu ai có mụn
ruồi ở chỗ kín trong người thì là qúy tướng. Bình về
nhà vạch chỗ kín ra đếm được bẩy mụn ruồi, cũng cảm
thấy thích thú vô cùng.
Nhưng càng già dặn hơn
thì Bình càng nghi ngờ sự bói toán nhiều hơn. Trung, anh cả
của Bình là một nhà kinh doanh giầu có, rất thích đi xem
thầy bói, nhất là những khi cần có những quyết định quan
trọng. Có lần Trung rủ Bình và Dũng, người anh kế của
Bình, đi xem bói tại nhà một ông thầy bói mù ở gần suối
Lồ ồ (cách Sàigòn khoảng hơn 20 km). Ðến nơi, ba anh em phải
ngồi chờ vì thầy bói đang tiếp khách. Lát sau, thấy một
người đàn bà đi ra, nét mặt đau buồn, sợ hãi, Bình nói
nhỏ với Dũng:
-
Chắc bà này bị thầy
bói hù doạ gì đây, Bình vừa nói vừa cười khúc khích.
-
Xuỵt, coi chừng người
ta nghe, Dũng cảnh cáo Bình.
Ðến phiên ba anh em Bình
vào xem bói. Mặc dầu Trung là khách hàng rất quen thuộc của
ông thầy bói mù, lại đi xa hàng mấy chục cây số để xem
bói, nhưng ông ta nhất định từ chối lấy lý do hết giờ
thiêng rồi. Bình thầm nghĩ là ông thầy bói mù rất thính
tai, nghe thấy tiếng cười của một người đang tự tin, yêu
đời mà ông ta nghĩ rằng đó là tiếng cười có tính cách
chế nhạo nên ông ta nhất quyết chối từ, mặc dầu tiền
đặt quẻ của Trung rất cao.
Bình nghĩ rằng định
mệnh chẳng qua là những điều kiện thiên nhiên và xã hội
chung quanh, chẳng hạn như sinh ra trong thời chiến thì khó
thể nào tránh khỏi chuyện đi lính ; còn chuyện xem bói tướng
thì Bình nghĩ chỉ là dưạ trên sự nhận xét của những
chuyện đã qua để phỏng đoán chuyện tương lai một cách
thiếu chính xác. Chẳng hạn như theo "ma y thần tướng" người
nào có tướng đi mà thân hình thẳng đứng và bước đi dài
là có chân mạng đế vương, có lẽ là do kết quả của sự
quan sát dáng đi của một vài vị vua rồi suy diễn thành quy
luật để xem tướng ; nhưng Bình nghĩ rằng vua thì uy quyền
nắm hết trong tay, mọi việc đều có người khác lo liệu
nên không việc gì mà vội vã, nên dễ có dáng đi khoan thai,
thân hình thẳng, bước chân dài, để cho quần thần nể sợ.
Dù đúng dù sai thì chuyện
bói toán cũng là để đáp ứng một nhu cầu của ước mơ
của con người.
Mơ ước là một hiện
tượng thiên nhiên của tâm lý con người. Tùy theo hoàn cảnh
thiên nhiên và xã hội chung quanh, tùy theo những điều kiện
vất chất và tinh thần của mỗi cá nhân, con người thường
có những mơ ước khác nhau. Người đói rét thường chỉ
mong ước có ngày được no ấm, kẻ dư thừa đôi khi lại
muốn làm những chuyện ngông cuồng dại dột để tìm cảm
giác mới. Sự vận động không ngừng của thiên nhiên và
xã hội luôn luôn thúc đẩy con người phải thay đổi để
phù hợp với hoàn cảnh mới, tạo ra những loại ước mơ
mới, những nhu cầu mới.
Những nhu cầu sinh lý,
những nhu cầu vật chất và những nhu cầu tâm lý của một
người cũng thay đổi theo những hoàn cảnh xã hội và thiên
nhiên ở chung quanh. Tác dụng hỗ tương của những nhu cầu
này tạo ra một sức mạnh vô hình hướng dẫn mọi hành động
của con người giống như:
Ma đưa lối, qủy đưa
đường (Kiều).
Và khi sự thỏa mãn
nhu cầu đã vượt khỏi tầm tay, con người thường biến
ý định thực hiện thành ước mơ. Có khi những ước mơ
trở thành hão huyền xa vời thực tế, nhưng cũng đôi khi
ước mơ thúc đẩy con người tiến lên thực hiện những
gì mà mình mong ước. Nhưng những hiện tượng thiên nhiên
và xã hội chung quanh luôn luôn phát sinh, tồn tại và hoại
diệt trong liên hệ nhân duyên chằng chịt và sự thực hiện
những ước mơ thường ở ngoài tầm tay của con người, vì
vậy đa số chỉ còn biết trông vào định mệnh.
Con người thường có
những quan điểm khác nhau về định mệnh. Người bi quan thì
cho rằng bất cứ điều gì trên đời đều là do định mệnh
an bài, cho đến cả miếng ăn hay ngụm nước (nhất ẩm, nhất
trác, giai do tiền định). Người quen làm việc để đạt
được những gì mình mong muốn thì cho định mệnh là những
hoàn cảnh thiên nhiên và xã hội chung quanh, người thành công
thì do xuất hiện đúng lúc đúng chỗ (right time, right place),
kẻ thất bại thì do sinh lầm lúc, lầm chỗ (wrong time, wrong
place). Cũng có người khi thành công cho rằng mình có thể
làm chủ định mệnh của bản thân mình.
Những ước mơ của
con người đẻ ra nhu cầu tìm hiểu tương lai. Nhưng hiện
tại đã là những liên hệ chằng chịt của những hiện tượng
thiên nhiên và xã hội mà đa số không hiểu được, thì làm
sao mà dự đoán được tương lai. Trong các nước phát triển
cao ngày nay thì việc dự đoán hàng chục năm trước là việc
mà người ta thường phải hoạch định thường xuyên, cũng
có những trường hợp người ta dự đoán sai, nhưng thông
thường những dự đoán đó đều dựa trên những dữ liệu
chính xác và những phương pháp thống kê khoa học. Nhưng đó
là những hoạch định của một quốc gia hay một tập thể
lớn, còn tương lai của một cá nhân thì ít ai có đủ phương
tiện để tiên đoán một cách chính xác.
Vì vậy một số không
nhỏ còn trông mong vào các nhà tiên tri, các nhà bói toán để
tìm hiểu tương lai. Ðể đáp ứng nhu cầu của những người
đó, các nhà bói toán, tiên tri thường dùng những lời lẽ
tương đối huyền bí, khó hiểu để mỗi cá nhân đều có
thể lý giải phù hợp với mong ước cá nhân của mình, rồi
họ biến những lời lý giải đó thành những niềm tin cố
định và rồi đôi khi còn muốn áp đặït những niềm tin
đó trên tư duy của người khác. Chẳng hạn như trong thời
chiến tranh, có người lý giải sấm trạng trình là sắp có
hoà bình, ai không tin thì họ kết tội là vô thần, vô sách
vô sư ! Càng mê tín dị đoan, càng ít hiểu biết thì họ
càng hung hăng bảo vệ "ý thức hệ" điên rồ của họ !!!
Sự thực ra, ban đầu
họ cũng chỉ là nạn nhân của những hoàn cảnh quá khó khăn,
nhưng sau khi biến những chuyện viển vông thành những niềm
tin cố định thì họ lại trở thành những kẻ tuyên truyền
không công cho sự lạc hậu !
Càng già dặn hơn thì
Bình càng hiểu hơn về nhu cầu của con người cần bám víu
vào những niềm tin để có được sự an lạc tạm thời trong
tâm hồn. Hiểu rõ được nhu cầu này nên một số người,
có chút năng khiếu đoán được tâm lý người khác, đã trở
thành các thầy bói chuyên nghiệp.
Từ sự thắc mắc về
định mệnh con người đến sự nghi ngờ sự đoán mò của
các thầy bói, Bình cố gắng tìm hiểu sự thật về định
mệnh.
Phải chăng định mệnh
chính là những động lực kiểm soát, hướng dẫn, thúc đẩy
mọi hành động của chúng ta trong quá khứ, trong hiện tại
và cho đến giây phú cuối cùng của cuộc
đời ?
Theo những thành quả
của các sự nghiên cứu của ngành tâm lý học thì tất cả
mọi hành động của chúng ta đều bị hai động lực kiểm
soát, hướng dẫn và thúc đẩy bởi:
-
Sự khoái lạc và
-
Sự đau đớn
Mọi hành động của con
người đều có mục đích rõ rệt, và mục đích nào cũng
đều có tính cách hoặc là tìm kiếm sự khoái lạc, hoặc
là tìm cách tránh sự đau đớn. Có khi con người không ý
thức về sự khống chế của hai động lực đó vì chúng
bị bao phủ bởi các hệ thống luân lý, các nền văn hoá,
các tập quán lâu đời v.v…
Bình nghĩ rằng khi các
bức màn bao phủ đó phù hợp với các động lực đó thì
người ta sống tươi vui, lương thiện, đạo đức. Ngược
lại thì người ta sống với phiền não, dằn vật, dối trá,
đạo đức giả. Chẳng hạn như một nhà tu cảm thấy khoái
lạc khi đem lại hạnh phúc cho một kẻ đau khổ, động cơ
khoái lạc này phù hợp với quan điểm đạo đức của xã
hội chung quanh nên nhà tu đó sống vui tươi, hạnh phúc ; một
lãnh tụ cảm thấy khoái lạc vì nắm quyền sinh sát trong
tay, động cơ khoái lạc này đi ngược lại quan điểm đạo
đức của xã hội chung quanh nên vị lãnh tụ đó phải dùng
chiêu bài "vì nước, vì dân" để giữ vững khoái lạc của
mình, do đó phải luôn luôn sống trong dối trá, đạo đức
giả. Trong cả hai loại hành động đó, người ta đều hành
động để tìm khoái lạc cho bản thân mình.
Sự mâu thuẫn giữa
những bức màn bao phủ và những động lực thúc đẩy hành
động của con người làm cho nhiều người cảm thấy lo âu,
phiền não luôn luôn tìm cách thay đổi một cách vô vọng
những hành động của bản thân mình. Lý do thất bại của
người đó là vì chữa bệnh tại ngọn mà không chữa tại
gốc, vì không nhìn thấy động cơ thúc đẩy hành động của
mình.
Bình rất thích thú về
quy luật này vì nó giúp Bình hiểu rõ được mọi hành động
của người khác, từ các người dân thường cho đến các
lãnh tụ, từ người bần hàn cho đến kẻ sang giầu, từ
những người thánh thiện cho đến kẻ sát nhân v.v…, nhất
là các hành động đạo đức giả, nhân danh thượng đế,
nhân danh xã hội, nhân danh luân lý đạo đức v.v…Quy luật
này còn giúp Bình hiểu rõ hơn những mối quan hệ giữa người
với người, giữa vợ với chồng, giữa cha với con, giữa
anh với em v.v…
Nhưng điều làm cho Bình
khoái lạc nhất là dùng quy luật này để tìm hiểu chính
bản thân mình, nói theo danh từ của Phật giáo là để quán
chiếu tâm tư tình cảm của chính bản thân mình, để tìm
ra nguồn gốc của hành động của bản thân mình theo đúng
quan hệ nhân quả.
Tuy rằng hành động
của ai cũng do hai động lực "khoái lạc và đau đớn" chi
phối, nhưng con người lại hành động khác nhau trong cùng
những điều kiện thiên nhiên và xã hội vì những nhận thức
của tri giác mỗi người về đau đớn và khoái lạc khác
nhau. Nói một cách khác, nguyên nhân kiểm soát, hướng dẫn,
thúc đẩy hành động của mỗi người chính là những nhận
thức của tri giác của người đó về đau đớn và khoái
lạc.
Bình bắt đầu tìm hiểu
nguyên nhân của từng hành động của mình.
Trước kia, khi còn hút
thuốc lá, Bình cảm thấy khoái lạc mỗi khi hút thuốc, thấy
tâm hồn lâng lâng, trí óc thoải mái. Mỗi khi có người khác
phê bình chuyện hút thuốc Bình luôn luôn gác bỏ ngoài tai.
Bác sĩ cảnh cáo là hút thuốc gây ra ung thư phổi, ung thư
lưỡi thì Bình cho rằng nếu cuộc sống có dài thêm mấy
năm mà sống trong sự sợ hãi kiêng khem thì cũng chẳng có
gì hấp dẫn cả. Nhưng phong trào chống hút thuốc lá càng
ngày càng mạnh. Nghe tin người ta cấm hút thuốc trên xe buýt,
rồi đến cấm hút thuốc trên máy bay, rồi đến cấm hút
thuốc ở nơi công cộng, càng ngày Bình càng cảm thấy mất
tự do hơn. Có lần Bình thấy cả bảng cấm hút thuốc gắn
ngoài công viên, Bình tức lắm nhưng cũng chẳng biết làm
gì. Khi đọc một bài báo nói về thú hút thuốc chẳng qua
chỉ là một nhu cầu tâm lý thiếu lành mạnh giống như các
nhu cầu tâm lý khác mà thôi. Trước kia người thanh niên hút
thuốc với mục đích chứng tỏ cho mọi người biết là mình
đã trưởng thành, bây giờ có người lại cho rằng hút thuốc
là dành riêng cho những kẻ ít hiểu biết v.v…Bình cảm thấy
mình bị dồn vào đường cùng và quyết định bỏ hút thuốc
vào đầu năm 1988. Những sự đau đớn về tâm lý đã vượt
qua làn ranh giới hạn trong tâm hồn Bình nên chỉ sau vài tuần
Bình đã thấy mùi khói thuốc lá hôi quá không chịu nổi
! trong tư duy của Bình bây giờ thuốc lá không còn là một
nguồn khoái lạc nữa mà chỉ còn là một nguồn đau đớn
!
Càng suy xét trên các
hành động trong quá khứ của mình, Bình càng cảm thấy quy
luật "mọi hành động của con người đều dựa trên sự
tìm kiếm khoái lạc hoặc sự tìm cách tránh đau đớn" là
đúng.
Trước cùng một hiện
tượng thiên nhiên hay xã hội, hai người lại có thể có
hai hành động hoàn toàn trái ngược hẳn nhau vì những thứ
tự "khoái lạc và đau đớn" trong tư duy mỗi người khác
nhau. Những thứ tự ấy có thể hoàn toàn đảo ngược như
trường hợp của Bình, thuốc lá đã nhẩy từ danh sách "khoái
lạc" sang danh sách "đau đớn", vì những điều kiện xã hội
chung quanh.
Suy nghĩ sâu xa hơn, Bình
tự đặt ra cho mình nhiều câu hỏi:
-
Tại sao các thứ tự trong
danh sách "khoái lạc" và "đau đớn" trong tâm hồn mình lại
quá lệ thuộc vào các điều kiện chung quanh ?
-
Tại sao mình không quyết
tâm làm chủ những tài sản trong chính tâm hồn mình ?
-
Phải chăng một khi làm
chủ được thứ tự trong hai danh sách đó thì mình có thể
làm chủ định mệnh của bản thân mình?
Và Bình tự trả lời,
Trước hết là các thứ
tự trong danh sách tạo ra bởi những kinh nghiệm trong quá khứ
của mỗi cá nhân, do những hệ thống tôn giáo, do những nền
văn hoá, do những hoàn cảnh thiên nhiên và xã hội chung quanh
cá nhân đó chi phối ; và thông thường thứ tự của các
"khoái lạc" và "đau đớn" ẩn nấp trong phần vô thức nên
con người có cảm giác như những sức mạnh vô hình đun đẩy
để hành động giống như "ma đưa lối, qủy đưa đường".
Nhiều khi con người bị giằng co giữa sự tìm "khoái lạc"
và sự tránh "đau đớn" nên hoang mang dao động, chỉ còn biết
cầu nguyện, chỉ còn trông mong vào ơn trên, vào phép lạ
v.v…
Sự quyết tâm làm chủ
những tài sản trong chính tâm hồn mình cũng lệ thuộc vào
thứ tự trong danh sách "khoái lạc" và "đau đớn". Nếu một
người cảm thấy quyết tâm làm một việc gì là "đau đớn"
thì dĩ nhiên là người đó sẽ tìm mọi cách để tránh né.
Một khi làm chủ được
thứ tự trong hai danh sách đó thì con người có thể quyết
định được hai động lực thúc đẩy mọi hành động của
bản thân mình. Nhưng vấn đề làm chủ không phải là chuyện
dễ dàng, mà là một cuộc tự đấu tranh gay gắt trong nội
tâm để sắp lại những thứ tự do hoàn cảnh khách quan tạo
ra trong phần vô thức của mỗi người. Bình quyết định
tiến hành cuộc đấu tranh trong nội tâm để góp phần tích
cực trong việc sáng tạo ra cuộc sống của bản thân mình.
Dĩ nhiên ai ai cũng bị
chi phối bởi những quy luật của thiên nhiên và xã hội vì
con người chính là một sản phẩm mầu nhiệm của thiên nhiên
và xã hội, nhưng ngoài cái định mệnh chung của thiên nhiên
và xã hội chẳng hạn như vạn vật luôn luôn phát sinh, tồn
tại rồi hoại diệt, chúng ta ai ai cũng có góp phần của
mình ít hay nhiều trong sự sáng tạo ra chính cuộc đời mình.
Ðể góp phần tích cực
với thiên nhiên và xã hội trong sự sáng tạo ra cuộc đời
mình, Bình thiết lập lại thứ tự trong danh sách "khoái lạc"
và "đau đớn" của bản thân mình.
Các loại "khoái lạc"
của Bình xếp theo thứ tự ưu tiên từ cao xuống thấp:
-
Tìm hiểu các quy luật
thiên nhiên và xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc
sống của mình, chẳng hạn như hành động tạo ra cảm xúc
tích cực.
-
Làm việc để đóng góp
tích cực trong sự sáng tạo của thiên nhiên và xã hội ra
cuộc đời mình. Làm việc ở đây có nghĩa là xử dụng năng
lực thể chất và tinh thần để đạt được kết quả mong
muốn, chẳng hạn như đi du lịch cũng là làm việc, tập thể
dục để thân thể khoẻ mạnh cũng là làm việc.
-
Yêu mình, yêu người, yêu
đời và được mọi người yêu mến. Tình yêu ở đây là
tình yêu vô điều kiện, không cần sự đáp ứng, không vướng
mắc, không kỳ thị.
-
Hưởng thụ mọi thứ trên
đời như ăn ngon, mặc đẹp, bao gồm sự thỏa mãn các nhu
cầu sinh lý, vật chất và tâm lý phù hợp với những điều
kiện cá nhân, xã hội và thiên nhiên.
-
Hưởng thụ những cái
đẹp đầy dẫy trong thiên nhiên chẳng hạn như khi mặt trời
mọc, cảnh hoàng hôn, cảnh đẹp của sông nước, của biển
ca,û của núi rừng v.v…
-
Hưởng thụ những cái
đẹp đầy dẫy trong xã hội chẳng hạn như người đẹp,
tình nghĩa cao cả, văn hoá lâu đời v.v…
-
Sự an toàn (không bị thiếu
thốn, không bị nguy hiểm).
-
Giúp đỡ người gặp khó
khăn trong khả năng của mình.
-
Cổ võ để mọi người
sống vui tươi hạnh phúc.
-
Tìm hiểu ước vọng và
sự đau khổ của người khác để giúp đỡ nếu có thể
được.
-
Quan sát sự mầu nhiệm
của thiên nhiên.
Các loại "đau đớn" xếp
theo thứ tự ưu tiên từ cao xuống thấp:
-
Thù hận.
-
Ghen tỵ.
-
Bệnh hoạn.
-
Giận hờn.
-
Lo âu.
-
Sợ hãi.
-
Buồn bã.
-
Cô đơn.
-
Hủ tục.
-
Sự chối từ của người
khác.
Bình tự nhủ mình phải
theo dõi thường xuyên sự liên hệ giữa những thứ tự "khoái
lạc" và "đau đớn" với những hành động hàng ngày của
mình và nếu cần thì xét lại, đào sâu suy nghĩ và đấu
tranh với bản thân để đóng góp tích cực trong sự sáng
tạo ra cuộc sống hạnh phúc của chính bản thân mình.
Trong cái định mệnh
lớn của vạn vật trong thiên nhiên, từ phát sinh đến tồn
tại rồi hoại diệt, Bình có cảm tưởng mình có thể làm
chủ cái định mệnh nhỏ của đời mình, và hai bản danh
sách thứ tự "khoái lạc" và "đau khổ" ẩn tàng trong phần
vô thức của mỗi người phải chăng chính là lá số tử
vi tân thời của người đó.
Phó Thường Dân
|