Ðịa
ngục chốn trần gian
Phỏng theo chuyện
có thật mùa xuân năm 1980
Minh
là một thanh niên lớn lên ở Saìgòn. Trước năm 1975, Minh
không hiểu tại sao nhiều người vô cùng sợ hãi và thù hận
chủ nghĩa cộng sản, coi những người nào đã ở vùng cộng
sản kiểm soát là đã thấm bả tuyên truyền. Khi ở miền
nam chủ trương chương trình "người cầy có ruộng", nhân
một buổi mạn đàm với các vị đàn anh lớn tuổi Minh phát
biểu là chương trình đó cũng tương đối hợp lý, thì bị
phê bình gay gắt là có đầu óc cộng sản!!
Tháng tư năm 1975,
Minh thiết nghĩ mình là người làm công tác khoa học kỹ thuật,
chẳng dính líu gì với chính trị thì có gì phải lo, phải
cuống cuồng lao vào những cuộc phiêu lưu nguy hiểm. Sau đó,
Minh có dịp đọc để tìm hiểu chủ nghĩa cộng sản là gì.
Minh rất thích
thú khi đọc bức thư trả lời của Ănghen đối với câu
hỏi của đảng cộng sản Nga hồi cuối thế kỷ thứ 19:
Theo Ănghen, sự
chuyển sang chủ nghĩa xã hội của các nông xã của Nga, trong
khi chưa kinh qua chủ nghĩa tư bản là cực kỳ ấu trĩ, chỉ
là đi ngược dòng lịch sử, bắt con người đi trở lại
thời kỳ man rợ!!! Minh tự cho là mình hiểu được tại sao
trong các nước cộng sản, người dân luôn luôn nghèo đói,
thiếu ăn!
Nhưng Minh cũng
mơ hồ thấy sự bế tắc trong lý luận duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác: từ cộng sản nguyên thủy đến chế
độ nô lệ, rồi chế độ phong kiến, rồi tư bản và cuối
cùng phải là cộng sản khoa học.
So với thực tế
thì lại hoàn toàn đảo ngược, tất cả các đòi hỏi của
bản tuyên ngôn cộng sản quốc tế năm 1848 đều đã được
thực hiện ở những nước thù địch với chủ nghĩa cộng
sản; và trong các nước cộng sản thì lại chỉ thấy chuyên
chính, bạo lực và trấn áp mà đỉnh cao là chính sách diệt
chủng của Pôn Pốt đối với dân tộc Kămpuchia!! Chưa có
thực dân nào lại tàn bạo với dân tộc bản xứ bằng kẻ
xuất thân từ dân tộc bản xứ, nhân danh yêu nước,
yêu dân tộc,
nhân danh xã hội!!
Năm 1978, Minh có
dịp trở lại Hà Nội sau 26 năm giã từ. Những chiếc xích
lô trần truồng, chỉ còn có một mảnh gỗ trên sườn xe
cho hành khách ngồi. Những tiệm phở quốc doanh, không ai nuốt
nổi, chỉ nhắm mắt ăn để khỏi chết đói! Một tô phở
ăn tạm được cũng phải kiếm ở một tiệm phở lậu trong
hẻm, sống ngoài vòng pháp luật. Nhớ cảnh đẹp hồ Hoàn
Kiếm năm xưa, Minh lững thững đi ven bờ hồ. Mầu nước
hồ xanh mầu rêu, hàng dẫy người xếp hàng để mua kem quốc
doanh trên bờ hồ. Bỗng Minh thấy một cô gái chưng diện
loè loẹt, đứng gần có một người đàn ông mang một tấm
gỗ. Trên mặt tấm gỗ có dán những miếng giấy bạc lấy
từ những bao thuốc lá cũ ở miền Nam (bao thuốc lá ở miền
bắc không có giấy bạc). Người đàn ông sử dụng tấm gỗ
đó để phản chiếu ánh mặt trời trên cô gái. Một người
đàn ông khác đang quay phim cô gái ấy. Sự nghèo nàn của
Hà Nội lúc đó thực sự đã vượt khỏi trí tưởng tượng
của Minh. Trời ơi! Minh tự nhủ thầm, sao dân Việt mình nghèo
khổ đến thế này!!! Minh nhớ lại những lời trách móc của
các vị đàn anh khi Minh ủng hộ chương trình người cày có
ruộng ở miền nam: "có ruộng nhưng không chịu làm việc mà
chỉ muốn ăn cướp công mồ hôi nước mắt từ đời ông
đời cha của người khác; không biết cách làm việc, quản
lý, tổ chức thì chỉ có đói!!"
Ðầu năm 1979,
tin tức bạn bè thân thuộc lần lượt ra đi làm cho Minh càng
dao động. Những cảnh chết chóc trên biển cả, những nguồn
tin về sự cướp bóc, hiếp dâm của hải tặc tuy không làm
chùn lòng những người cương quyết ra đi tìm tự do, nhưng
không phải là không có những tác động rất lớn trên những
người trí thức nhiều suy tư như Minh, nhất là khi đó vợ
Minh đang có thai đứa con đầu lòng.
Ðứa con vừa
ra chào đời, với tình thương con như trời như biển, Minh
tự nhủ thầm:
"Làm sao Minh có
thể nhìn đứa con lớn lên trong sự nghèo nàn tột đỉnh,
trong sự kỳ thị thô bạo khi cả xã hội phải đi ngược
thời gian để trở về thời kỳ đồ đá."
Và Minh đã quyết
định:
"Dù có chết trên
biển cả thì cũng là biểu hiện một chí bất khuất, thì
cũng là đóng góp xương máu của mình và của gia đình mình,
giống như của hàng trăm ngàn người Việt Nam khác, để viết
lên trang sử dân tộc bất khuất".
Cùng với làn
sóng người tỵ nạn, Minh và gia đình tìm cách để thoát
khỏi Việt Nam. Công an hợp tác với bọn đầu nậu tổ chức
vượt biên bán chính thức, dưới chiêu bài để tống khứ
người Việt gốc Hoa ra khỏi Việt Nam. Biết bao nhiêu người
dân lương thiện bị bọn chúng chúng lột hết tiền của
rồi đẩy ra biển cả làm mồi cho cá mập!
Từ lý thuyết
"vô sản cả thế giới đoàn kết" đến thực tế kỳ thị
chủng tộc hẹp hòi nhất, đến kỳ thị thô bạo đối với
giới trí thức lớn lên ở miền Nam, làm cho Minh thấy chuyện
dứt khoát ra đi không phải là trốn tránh nhiệm vụ đối
với quê hương, đối với dân tộc; mà chỉ là tránh những
tổn thất vô ích cho những người dân Việt vô tội như Minh,
tránh việc đem trứng chọi với đá, tay không chọi với vũ
khí hiện đại của Liên Xô!
Sau khi đem vàng
giao cho bọn tổ chức bán chính thức, Minh và gia đình chờ
đợi mòn mỏi hết tuần này đến tuần khác, hết tháng năm
đến tháng sáu, hết mùa xuân đến mùa hè, rồi thu, rồi
đông... luôn luôn chỉ là những lời hứa hẹn: sắp đi, sắp
đi ...
Ðầu năm 1980,
Minh tự nhủ chắc là mình bị lường gạt rồi, không thể
chờ đợi được nữa, phải tìm manh mối khác để đi. Vì
đã mất mát nhiều nên lần này Minh dự trù đi một mình,
ra được nước ngoài sẽ tìm cách đưa vợ con sang sau.
Người tổ chức
hứa
hẹn là đã mua bãi của công an, nếu đi không được thì
sẽ hoàn lại tiền v.v...
Ngày ra đi Minh
được dẫn lên một xe vận tải, người nhét chật như cá
mòi, hơi thở vô cùng ngột ngạt. Tới đêm thì được đưa
xuống một khoang thuyền để ém! Trong khoang thuyền, không
đủ cả chỗ ngồi cho mọi người, cực kỳ chật chội, ngột
ngạt suốt mấy ngày đêm. Người tổ chức lâu lâu cho một
hành khách nhẩy xuống sông tắm trong vài phút, ai đến phiên
được đi tắm thì thấy sướng như lên thiên đàng!!
Sau khi thông báo
sắp đi, người tổ chức yêu cầu mọi người để lại tiền
Việt Nam cho họ vì ra khỏi Việt Nam thì đâu cần loại tiền
đó nữa.
Giữa đêm, bước
sang tầu để đi vượt biên, mọi người khoan khoái thở không
khí trong lành của đất mẹ.
Ðược mấy tiếng
đồng hồ thì trời bắt đầu hừng sáng, bỗng Minh nghe tiếng
la hét rồi tiếng súng nổ. Mọi người run sợ, chắc là tầu
công an đang đuổi theo!
Tất cả bị bắt
đưa lên bờ, trói hờ đôi tay bằng dây chuối (thân cây chuối
xé mỏng ra). Tối hôm đó mọi người ngủ ngoài trời, chung
quanh có lính gác. Sáng hôm sau thì lần lượt bị dẫn giải
xuống tầu để đi về Phòng chấp pháp tỉnh Bến Tre; tất
cả bị lục soát rất tỉ mỉ trước khi tống vào phòng giam.
Tất cả tiền
bạc, đồng hồ của Minh đều bị tịch thu. Một tên công
an dẫn Minh vào phòng giam, mở cửa, đẩy Minh vào rồi đóng
sầm và khoá lại. Ðó là một phòng hình chữ nhật, dài chừng
2m, rộng chừng 1.6 m, trên lợp mái tôn, duới mái có dây kẽm
gai để ngăn vượt ngục.
Sau vài giây đồng
hồ, Minh nhận ra 5 người tù trong phòng giam, tất cả đều
trần truồng, toàn thân ghẻ lở. Cảm giác của Minh là bị
rơi đúng vào địa ngục của trần gian. Một lát sau công
an vất vào một ca cơm với chút muối cho Minh ăn. Dù là trong
địa ngục, cũng vẫn cố mà sống nên Minh xúc cơm ăn với
muối, nhưng ăn không nổi, Minh phải nhè ra liền. Hùng, một
bộ đội phạm tội kinh tế, bị giam chung phòng nói với Minh:
- Anh cho tôi nhé.
Minh gật đầu.
Hùng bốc miếng cơm Minh vừa nhè ra để ăn ngấu nghiến trước
sự kinh ngạc của Minh!!!
Vì trong phòng
giam nhỏ có tới sáu người nên nằm theo chiều dọc không
đủ chỗ. Mọi người phải nằm theo chiều ngang, nghĩa là
người nào cao hơn 1.6 m thì không duỗi thẳng chân được.
Dù nằm theo chiều ngang thì vẫn quá chật vì còn một thùng
vệ sinh để ở một đầu phòng, nên mọi người phải nằm
kiểu tráo đầu đuôi. Sự đụng chạm bất đắc dĩ với
những thân hình trần truồng đầy ghẻ lở làm Minh rùng mình
rợn tóc gáy!!
Mái tôn rất thấp,
phòng giam lại đông người nên luôn luôn ngộp thở. Khi mặt
trời lên cao, khoảng mười giờ là Minh đã thiếp đi vì quá
sức chịu đựng, sau buổi trưa thì lại hơi tỉnh táo, đến
khoảng 7 giờ tối thì lại thiếp lả đi. Dù chưa bị tra
tấn bởi bàn tay của đồng loại, nhưng mỗi ngày đã thiếp
đi hai lần, Minh mới hiểu ra rằng đây mới là đỉnh cao
của trí tuệ loài người... về tra tấn mà không để lại
dấu vết gì trên thân thể!
Mỗi ngày đoàn
tù được dẫn đi vệ sinh một lần khoảng mười phút, trên
đường đi vệ sinh mỗi người được múc một ca nước để
rửa ráy, nhưng khi trở lại phòng giam thì công an cấm không
cho múc nước nữa. Ai lanh lẹn thì vừa theo dõi công an, vừa
múc nước khi đi vào để lát sau tắm. Vì lượng nước để
tắm chỉ có một ca (khoảng 0.25 l), mà nhân công trong phòng
giam lại dư nên mỗi khi một người tắm (thực ra là đổ
nước nhỏ giọt trên đầu) thì hai người quạt hai bên để
người tắm có cảm giác mát mẻ!!!
Khoảng hai tuần
sau thì thân hình Minh chỉ còn xương và da!! Nhưng ở địa
ngục lại không biết ngày về, Minh tự nhủ không biết có
sống nổi tới ngày được tạm tha (chứ không bao giờ được
tha hẳn!!) hay không!!
Nhưng không chết
được thì phải sống! Một ông lão tù nhân chính trị ở
phòng giam bên cạnh, hàng ngày ho ra máu mà năm này qua năm
khác vẫn chưa chết đi được để thoát nợ đời!
Một hôm, trên
đường đi vệ sinh về phòng, bỗng công an ra lệnh phải đi
mau về phòng giam. Ðến buổi chiều Minh mới được biết,
nhờ các tù nhân truyền khẩu từ phòng này sang phòng khác,
câu chuyện xẩy ra hồi sáng. Một tù nhân vì tội vượt biên,
không chịu nổi địa ngục của trần gian, nhân khi đi ngang
qua xưởng mộc đã với tay lấy cái búa, tự chặt vào chân
để tự tử. Vết thương chẳng giết nổi kẻ tội nghiệp,
công an la hét bắt đi vào phòng giam, đi không nổi vì đau
thì bị đẩy đi, máu chảy chan hoà mà không được chạy
chữa!
Mỗi ngày, hai
lần thiếp đi, thời gian qua thật chậm, dường như:
"Nhất nhật tại
tù, thiên thu tại ngoại"!
Những lúc tỉnh
táo, Minh nghĩ tới bao nhiêu cố gắng của loài người đấu
tranh cho nhân quyền và tự nhủ:
"Những người
có tâm huyết đấu tranh cho nhân quyền tuy có công rất lớn
cho nền văn minh của nhân loại, nhưng đối với Minh và những
người đồng cảnh thì nói đến nhân quyền như một sự
mỉa mai cho những đau đớn mà họ đang chịu đựng, họ không
dám nghĩ đến cái nhân quyền xa xôi sang trọng ấy, vì hiện
tại ngay 'cái súc vật quyền' cũng còn là cái chỉ có trong
giấc mơ của họ mà thôi !! "cái súc vật quyền" của họ
chỉ là cái không khí để thở ! Cái súc vật quyền này chắc
chả có loài vật nào cần phải đấu tranh mà vẫn luôn luôn
được hưởng!
Rồi thời gian
cũng vẫn qua đi, sau ba tháng dưới chín tầng địa ngục,
Minh được chuyển qua nhà tù Bến Tre. Ở đây, Minh có đủ
không khí để thở nên cũng tự an ủi là đã đạt được
"súc vật quyền"!
Khoảng gần trăm
tù nhân bị nhốt trong một căn phòng khá lớn. Tuy chật chội
nhưng không đến nỗi thiếu không khí thở. Trong hoàn cành
tù đầy, Minh cũng học được hai bài học hay:
1) Bài học thứ
nhất là lối sống lạc quan của Ðại Úy Việt Nam Cộng Hoà:
Lâm văn Xê.
Ðại úy Xê là
một phi công VNCH, bị đi cải tạo ở Bắc Việt, sau khi được
thả về, đi vượt biên, bị bắt trở lại, giam ở nhà tù
Bến Tre đã lâu, dĩ nhiên là không biết ngày về! Dù trong
hoàn cảnh vô vọng, đại úy Xê luôn luôn ca hát yêu đời,
dĩ nhiên là phải ca những bài ca không bị cấm đoán. Còn
chuyện làm thơ dĩ nhiên là bị ghép vào tội lãng mạng, phản
động, nhưng đại úy Xê vẫn làm thơ mà công an không thể
nào bắt lỗi được. Minh và các người đồng cảnh thì hiểu
ngầm bốn câu thơ nhung nhớ như sau:
"Anh ở nơi này
em ở đâu,
Nhớ ngày hai
đứa sống bên nhau,
Gió ơi, cho gởi
niềm nhung nhớ,
Anh ở nơi này
em ở đâu"
Nhưng để công
an không trừng phạt, mỗi lần đi ra cầu cá tra để vệ sinh,
đạI úy Xê và các tù nhân khác lại ngâm thơ như sau:
"Anh iả nơi này
em ỉa đâu
Nhớ ngày hai
đứa ỉa chung cầu
Gió bay thoang
thoảng thơm mùi cứt
Anh ỉa nơi này
em ỉa đâu"
Công an không hiểu
nổi thâm ý của Ðại Úy Xê, nếu có, chắc lại phải cùm!
2) Bài học thứ
hai: sự tương đối của hạnh phúc.
Hàng ngày được
đi ra cầu cá tra để vệ sinh, Minh và các người đồng cảnh
đi qua bên cạnh phòng biệt giam. Trong phòng có vài tù nhân
chính trị bị cùm và chờ ngày tử hình. Bỗng một hôm đi
qua, Minh nghe thấy tiếng cười đùa vui vẻ vọng ra. Minh vô
cùng ngạc nhiên. Bị cùm chân, cùm tay chờ ngày tử hình mà
sao họ lại cười nói vui vẻ được!
Sau khi dò hỏi
Minh mới biết rằng hôm đó tù nhân bên phòng giam lớn đã
kín đáo chuyển được một nải chuối cho các tù nhân chính
trị nên họ đã liên hoan với nhau! Hạnh phúc thật tương
đối thay.
Hai bài học nhắc
nhở Minh phải cố gắng sống để trở về với vợ con, để
một ngày nào đó làm nhân chứng cho lịch sử, để nói về
súc vật quyền của những con người vô tội, khốn khổ!
Tù vượt biên càng ngày càng đông, rồi người ta cũng phải
thả Minh về để có chỗ nhốt những người mới vượt biên!
Suốt thời gian
Minh bị nhốt, vợ Minh ở ngoài tìm cách chạy chọt để cho
Minh được thả. Ba Trí là người tổ chức vượt biên bây
giờ lại là người trung gian để liên lạc với công an Bến
Tre. Ðể lấy tín nhiệm, Ba Trí xin cho vợ Minh được gặp
mặt Minh, dĩ nhiên là có sự hiện diện của công an để
kiểm soát. Vài ngày trước mỗi đợt thả tù vượt biên,
Ba Trí đều thông báo là Minh sắp về, nhưng vợ Minh vẫn
chỉ thấy đợi với chờ! Sau nhiều lần lừa gạt hụt, đến
đợt Minh được thả thì ngày hôm trước Ba Trí lại nói
đã xin công an cho vợ Minh được vào gặp mặt chồng!
Ngày được thả
về, Minh thực sự có cảm giác như vừa thoát khỏi địa
ngục của trần gian! Qua bến phà, gặp một người học trò
cũ, nhìn Minh rồi kêu lên:
- Trời ơi ! sao
tha&aagrave;y trông thê thảm quá vậy, em nhận không ra!
Về đến Sàigòn,
Minh không dám về nhà ngay, sợ bị công an phường khóm cưỡng
bách lao động, ghé nhà của Anh, anh của Minh. Hai anh em mừng
mừng tủi tủi. Sau đó, Anh đi đón vợ con Minh về nhà Anh
ngủ tạm. Con của Minh chưa đầy hai tuổi, xa bố lâu ngày
nên không dám lại gần bố, cứ nhìn bố xong lại nép vào
vú mẹ!
Về nhà được
hai ngày thì Ba Trí lại đến nhà đòi vàng! với danh nghĩa
là nhờ hắn đút lót cho công an Minh mới được về. Minh
lánh mặt!
Chung quanh Minh
sao toàn là ác quỷ, sẵn sàng uống máu những lương dân bị
đàn áp, bị đọa đày!!
Minh văng vẳng
nghe tiếng than của cha Minh từ bên kia thế giới:
"Bất hạnh sinh
ư loạn thời"
Phó Thường Dân |