Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone&Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM: (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài Mới Nhất
CON VỊT

 

 Sáng Tác Của
Phó Thường Dân

Ðịa ngục chốn trần gian
Phỏng theo chuyện có thật mùa xuân năm 1980

Minh là một thanh niên lớn lên ở Saìgòn. Trước năm 1975, Minh không hiểu tại sao nhiều người vô cùng sợ hãi và thù hận chủ nghĩa cộng sản, coi những người nào đã ở vùng cộng sản kiểm soát là đã thấm bả tuyên truyền. Khi ở miền nam chủ trương chương trình "người cầy có ruộng", nhân một buổi mạn đàm với các vị đàn anh lớn tuổi Minh phát biểu là chương trình đó cũng tương đối hợp lý, thì bị phê bình gay gắt là có đầu óc cộng sản!!

Tháng tư năm 1975, Minh thiết nghĩ mình là người làm công tác khoa học kỹ thuật, chẳng dính líu gì với chính trị thì có gì phải lo, phải cuống cuồng lao vào những cuộc phiêu lưu nguy hiểm. Sau đó, Minh có dịp đọc để tìm hiểu chủ nghĩa cộng sản là gì.

Minh rất thích thú khi đọc bức thư trả lời của Ănghen đối với câu hỏi của đảng cộng sản Nga hồi cuối thế kỷ thứ 19:

Theo Ănghen, sự chuyển sang chủ nghĩa xã hội của các nông xã của Nga, trong khi chưa kinh qua chủ nghĩa tư bản là cực kỳ ấu trĩ, chỉ là đi ngược dòng lịch sử, bắt con người đi trở lại thời kỳ man rợ!!! Minh tự cho là mình hiểu được tại sao trong các nước cộng sản, người dân luôn luôn nghèo đói, thiếu ăn!

Nhưng Minh cũng mơ hồ thấy sự bế tắc trong lý luận duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác: từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, rồi chế độ phong kiến, rồi tư bản và cuối cùng phải là cộng sản khoa học.

So với thực tế thì lại hoàn toàn đảo ngược, tất cả các đòi hỏi của bản tuyên ngôn cộng sản quốc tế năm 1848 đều đã được thực hiện ở những nước thù địch với chủ nghĩa cộng sản; và trong các nước cộng sản thì lại chỉ thấy chuyên chính, bạo lực và trấn áp mà đỉnh cao là chính sách diệt chủng của Pôn Pốt đối với dân tộc Kămpuchia!! Chưa có thực dân nào lại tàn bạo với dân tộc bản xứ bằng kẻ xuất thân từ dân tộc bản xứ, nhân danh yêu nước,
yêu dân tộc, nhân danh xã hội!!

Năm 1978, Minh có dịp trở lại Hà Nội sau 26 năm giã từ. Những chiếc xích lô trần truồng, chỉ còn có một mảnh gỗ trên sườn xe cho hành khách ngồi. Những tiệm phở quốc doanh, không ai nuốt nổi, chỉ nhắm mắt ăn để khỏi chết đói! Một tô phở ăn tạm được cũng phải kiếm ở một tiệm phở lậu trong hẻm, sống ngoài vòng pháp luật. Nhớ cảnh đẹp hồ Hoàn Kiếm năm xưa, Minh lững thững đi ven bờ hồ. Mầu nước hồ xanh mầu rêu, hàng dẫy người xếp hàng để mua kem quốc doanh trên bờ hồ. Bỗng Minh thấy một cô gái chưng diện loè loẹt, đứng gần có một người đàn ông mang một tấm gỗ. Trên mặt tấm gỗ có dán những miếng giấy bạc lấy từ những bao thuốc lá cũ ở miền Nam (bao thuốc lá ở miền bắc không có giấy bạc). Người đàn ông sử dụng tấm gỗ đó để phản chiếu ánh mặt trời trên cô gái. Một người đàn ông khác đang quay phim cô gái ấy. Sự nghèo nàn của Hà Nội lúc đó thực sự đã vượt khỏi trí tưởng tượng của Minh. Trời ơi! Minh tự nhủ thầm, sao dân Việt mình nghèo khổ đến thế này!!! Minh nhớ lại những lời trách móc của các vị đàn anh khi Minh ủng hộ chương trình người cày có ruộng ở miền nam: "có ruộng nhưng không chịu làm việc mà chỉ muốn ăn cướp công mồ hôi nước mắt từ đời ông đời cha của người khác; không biết cách làm việc, quản lý, tổ chức thì chỉ có đói!!"

Ðầu năm 1979, tin tức bạn bè thân thuộc lần lượt ra đi làm cho Minh càng dao động. Những cảnh chết chóc trên biển cả, những nguồn tin về sự cướp bóc, hiếp dâm của hải tặc tuy không làm chùn lòng những người cương quyết ra đi tìm tự do, nhưng không phải là không có những tác động rất lớn trên những người trí thức nhiều suy tư như Minh, nhất là khi đó vợ Minh đang có thai đứa con đầu lòng.

Ðứa con vừa ra chào đời, với tình thương con như trời như biển, Minh tự nhủ thầm:

"Làm sao Minh có thể nhìn đứa con lớn lên trong sự nghèo nàn tột đỉnh, trong sự kỳ thị thô bạo khi cả xã hội phải đi ngược thời gian để trở về thời kỳ đồ đá."

Và Minh đã quyết định:

"Dù có chết trên biển cả thì cũng là biểu hiện một chí bất khuất, thì cũng là đóng góp xương máu của mình và của gia đình mình, giống như của hàng trăm ngàn người Việt Nam khác, để viết lên trang sử dân tộc bất khuất".

Cùng với làn sóng người tỵ nạn, Minh và gia đình tìm cách để thoát khỏi Việt Nam. Công an hợp tác với bọn đầu nậu tổ chức vượt biên bán chính thức, dưới chiêu bài để tống khứ người Việt gốc Hoa ra khỏi Việt Nam. Biết bao nhiêu người dân lương thiện bị bọn chúng chúng lột hết tiền của rồi đẩy ra biển cả làm mồi cho cá mập!

Từ lý thuyết "vô sản cả thế giới đoàn kết" đến thực tế kỳ thị chủng tộc hẹp hòi nhất, đến kỳ thị thô bạo đối với giới trí thức lớn lên ở miền Nam, làm cho Minh thấy chuyện dứt khoát ra đi không phải là trốn tránh nhiệm vụ đối với quê hương, đối với dân tộc; mà chỉ là tránh những tổn thất vô ích cho những người dân Việt vô tội như Minh, tránh việc đem trứng chọi với đá, tay không chọi với vũ khí hiện đại của Liên Xô!

Sau khi đem vàng giao cho bọn tổ chức bán chính thức, Minh và gia đình chờ đợi mòn mỏi hết tuần này đến tuần khác, hết tháng năm đến tháng sáu, hết mùa xuân đến mùa hè, rồi thu, rồi đông... luôn luôn chỉ là những lời hứa hẹn: sắp đi, sắp đi ...

Ðầu năm 1980, Minh tự nhủ chắc là mình bị lường gạt rồi, không thể chờ đợi được nữa, phải tìm manh mối khác để đi. Vì đã mất mát nhiều nên lần này Minh dự trù đi một mình, ra được nước ngoài sẽ tìm cách đưa vợ con sang sau.

Người tổ chức hứa hẹn là đã mua bãi của công an, nếu đi không được thì sẽ hoàn lại tiền v.v...

Ngày ra đi Minh được dẫn lên một xe vận tải, người nhét chật như cá mòi, hơi thở vô cùng ngột ngạt. Tới đêm thì được đưa xuống một khoang thuyền để ém! Trong khoang thuyền, không đủ cả chỗ ngồi cho mọi người, cực kỳ chật chội, ngột ngạt suốt mấy ngày đêm. Người tổ chức lâu lâu cho một hành khách nhẩy xuống sông tắm trong vài phút, ai đến phiên được đi tắm thì thấy sướng như lên thiên đàng!!

Sau khi thông báo sắp đi, người tổ chức yêu cầu mọi người để lại tiền Việt Nam cho họ vì ra khỏi Việt Nam thì đâu cần loại tiền đó nữa.

Giữa đêm, bước sang tầu để đi vượt biên, mọi người khoan khoái thở không khí trong lành của đất mẹ.

Ðược mấy tiếng đồng hồ thì trời bắt đầu hừng sáng, bỗng Minh nghe tiếng la hét rồi tiếng súng nổ. Mọi người run sợ, chắc là tầu công an đang đuổi theo!

Tất cả bị bắt đưa lên bờ, trói hờ đôi tay bằng dây chuối (thân cây chuối xé mỏng ra). Tối hôm đó mọi người ngủ ngoài trời, chung quanh có lính gác. Sáng hôm sau thì lần lượt bị dẫn giải xuống tầu để đi về Phòng chấp pháp tỉnh Bến Tre; tất cả bị lục soát rất tỉ mỉ trước khi tống vào phòng giam.

Tất cả tiền bạc, đồng hồ của Minh đều bị tịch thu. Một tên công an dẫn Minh vào phòng giam, mở cửa, đẩy Minh vào rồi đóng sầm và khoá lại. Ðó là một phòng hình chữ nhật, dài chừng 2m, rộng chừng 1.6 m, trên lợp mái tôn, duới mái có dây kẽm gai để ngăn vượt ngục.

Sau vài giây đồng hồ, Minh nhận ra 5 người tù trong phòng giam, tất cả đều trần truồng, toàn thân ghẻ lở. Cảm giác của Minh là bị rơi đúng vào địa ngục của trần gian. Một lát sau công an vất vào một ca cơm với chút muối cho Minh ăn. Dù là trong địa ngục, cũng vẫn cố mà sống nên Minh xúc cơm ăn với muối, nhưng ăn không nổi, Minh phải nhè ra liền. Hùng, một bộ đội phạm tội kinh tế, bị giam chung phòng nói với Minh:

- Anh cho tôi nhé.

Minh gật đầu. Hùng bốc miếng cơm Minh vừa nhè ra để ăn ngấu nghiến trước sự kinh ngạc của Minh!!!

Vì trong phòng giam nhỏ có tới sáu người nên nằm theo chiều dọc không đủ chỗ. Mọi người phải nằm theo chiều ngang, nghĩa là người nào cao hơn 1.6 m thì không duỗi thẳng chân được. Dù nằm theo chiều ngang thì vẫn quá chật vì còn một thùng vệ sinh để ở một đầu phòng, nên mọi người phải nằm kiểu tráo đầu đuôi. Sự đụng chạm bất đắc dĩ với những thân hình trần truồng đầy ghẻ lở làm Minh rùng mình rợn tóc gáy!!

Mái tôn rất thấp, phòng giam lại đông người nên luôn luôn ngộp thở. Khi mặt trời lên cao, khoảng mười giờ là Minh đã thiếp đi vì quá sức chịu đựng, sau buổi trưa thì lại hơi tỉnh táo, đến khoảng 7 giờ tối thì lại thiếp lả đi. Dù chưa bị tra tấn bởi bàn tay của đồng loại, nhưng mỗi ngày đã thiếp đi hai lần, Minh mới hiểu ra rằng đây mới là đỉnh cao của trí tuệ loài người... về tra tấn mà không để lại dấu vết gì trên thân thể!

Mỗi ngày đoàn tù được dẫn đi vệ sinh một lần khoảng mười phút, trên đường đi vệ sinh mỗi người được múc một ca nước để rửa ráy, nhưng khi trở lại phòng giam thì công an cấm không cho múc nước nữa. Ai lanh lẹn thì vừa theo dõi công an, vừa múc nước khi đi vào để lát sau tắm. Vì lượng nước để tắm chỉ có một ca (khoảng 0.25 l), mà nhân công trong phòng giam lại dư nên mỗi khi một người tắm (thực ra là đổ nước nhỏ giọt trên đầu) thì hai người quạt hai bên để người tắm có cảm giác mát mẻ!!!

Khoảng hai tuần sau thì thân hình Minh chỉ còn xương và da!! Nhưng ở địa ngục lại không biết ngày về, Minh tự nhủ không biết có sống nổi tới ngày được tạm tha (chứ không bao giờ được tha hẳn!!) hay không!!

Nhưng không chết được thì phải sống! Một ông lão tù nhân chính trị ở phòng giam bên cạnh, hàng ngày ho ra máu mà năm này qua năm khác vẫn chưa chết đi được để thoát nợ đời!

Một hôm, trên đường đi vệ sinh về phòng, bỗng công an ra lệnh phải đi mau về phòng giam. Ðến buổi chiều Minh mới được biết, nhờ các tù nhân truyền khẩu từ phòng này sang phòng khác, câu chuyện xẩy ra hồi sáng. Một tù nhân vì tội vượt biên, không chịu nổi địa ngục của trần gian, nhân khi đi ngang qua xưởng mộc đã với tay lấy cái búa, tự chặt vào chân để tự tử. Vết thương chẳng giết nổi kẻ tội nghiệp, công an la hét bắt đi vào phòng giam, đi không nổi vì đau thì bị đẩy đi, máu chảy chan hoà mà không được chạy
chữa!

Mỗi ngày, hai lần thiếp đi, thời gian qua thật chậm, dường như:

"Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại"!

Những lúc tỉnh táo, Minh nghĩ tới bao nhiêu cố gắng của loài người đấu tranh cho nhân quyền và tự nhủ:

"Những người có tâm huyết đấu tranh cho nhân quyền tuy có công rất lớn cho nền văn minh của nhân loại, nhưng đối với Minh và những người đồng cảnh thì nói đến nhân quyền như một sự mỉa mai cho những đau đớn mà họ đang chịu đựng, họ không dám nghĩ đến cái nhân quyền xa xôi sang trọng ấy, vì hiện tại ngay 'cái súc vật quyền' cũng còn là cái chỉ có trong giấc mơ của họ mà thôi !! "cái súc vật quyền" của họ chỉ là cái không khí để thở ! Cái súc vật quyền này chắc chả có loài vật nào cần phải đấu tranh mà vẫn luôn luôn được hưởng!

Rồi thời gian cũng vẫn qua đi, sau ba tháng dưới chín tầng địa ngục, Minh được chuyển qua nhà tù Bến Tre. Ở đây, Minh có đủ không khí để thở nên cũng tự an ủi là đã đạt được "súc vật quyền"!

Khoảng gần trăm tù nhân bị nhốt trong một căn phòng khá lớn. Tuy chật chội nhưng không đến nỗi thiếu không khí thở. Trong hoàn cành tù đầy, Minh cũng học được hai bài học hay:

1) Bài học thứ nhất là lối sống lạc quan của Ðại Úy Việt Nam Cộng Hoà: Lâm văn Xê.

Ðại úy Xê là một phi công VNCH, bị đi cải tạo ở Bắc Việt, sau khi được thả về, đi vượt biên, bị bắt trở lại, giam ở nhà tù Bến Tre đã lâu, dĩ nhiên là không biết ngày về! Dù trong hoàn cảnh vô vọng, đại úy Xê luôn luôn ca hát yêu đời, dĩ nhiên là phải ca những bài ca không bị cấm đoán. Còn chuyện làm thơ dĩ nhiên là bị ghép vào tội lãng mạng, phản động, nhưng đại úy Xê vẫn làm thơ mà công an không thể nào bắt lỗi được. Minh và các người đồng cảnh thì hiểu ngầm bốn câu thơ nhung nhớ như sau:

"Anh ở nơi này em ở đâu,
Nhớ ngày hai đứa sống bên nhau,
Gió ơi, cho gởi niềm nhung nhớ,
Anh ở nơi này em ở đâu"

Nhưng để công an không trừng phạt, mỗi lần đi ra cầu cá tra để vệ sinh, đạI úy Xê và các tù nhân khác lại ngâm thơ như sau:

"Anh iả nơi này em ỉa đâu
Nhớ ngày hai đứa ỉa chung cầu
Gió bay thoang thoảng thơm mùi cứt
Anh ỉa nơi này em ỉa đâu"

Công an không hiểu nổi thâm ý của Ðại Úy Xê, nếu có, chắc lại phải cùm!

2) Bài học thứ hai: sự tương đối của hạnh phúc.

Hàng ngày được đi ra cầu cá tra để vệ sinh, Minh và các người đồng cảnh đi qua bên cạnh phòng biệt giam. Trong phòng có vài tù nhân chính trị bị cùm và chờ ngày tử hình. Bỗng một hôm đi qua, Minh nghe thấy tiếng cười đùa vui vẻ vọng ra. Minh vô cùng ngạc nhiên. Bị cùm chân, cùm tay chờ ngày tử hình mà sao họ lại cười nói vui vẻ được!

Sau khi dò hỏi Minh mới biết rằng hôm đó tù nhân bên phòng giam lớn đã kín đáo chuyển được một nải chuối cho các tù nhân chính trị nên họ đã liên hoan với nhau! Hạnh phúc thật tương đối thay.

Hai bài học nhắc nhở Minh phải cố gắng sống để trở về với vợ con, để một ngày nào đó làm nhân chứng cho lịch sử, để nói về súc vật quyền của những con người vô tội, khốn khổ! Tù vượt biên càng ngày càng đông, rồi người ta cũng phải thả Minh về để có chỗ nhốt những người mới vượt biên!

Suốt thời gian Minh bị nhốt, vợ Minh ở ngoài tìm cách chạy chọt để cho Minh được thả. Ba Trí là người tổ chức vượt biên bây giờ lại là người trung gian để liên lạc với công an Bến Tre. Ðể lấy tín nhiệm, Ba Trí xin cho vợ Minh được gặp mặt Minh, dĩ nhiên là có sự hiện diện của công an để kiểm soát. Vài ngày trước mỗi đợt thả tù vượt biên, Ba Trí đều thông báo là Minh sắp về, nhưng vợ Minh vẫn chỉ thấy đợi với chờ! Sau nhiều lần lừa gạt hụt, đến đợt Minh được thả thì ngày hôm trước Ba Trí lại nói đã xin công an cho vợ Minh được vào gặp mặt chồng!

Ngày được thả về, Minh thực sự có cảm giác như vừa thoát khỏi địa ngục của trần gian! Qua bến phà, gặp một người học trò cũ, nhìn Minh rồi kêu lên:

- Trời ơi ! sao tha&aagrave;y trông thê thảm quá vậy, em nhận không ra!

Về đến Sàigòn, Minh không dám về nhà ngay, sợ bị công an phường khóm cưỡng bách lao động, ghé nhà của Anh, anh của Minh. Hai anh em mừng mừng tủi tủi. Sau đó, Anh đi đón vợ con Minh về nhà Anh ngủ tạm. Con của Minh chưa đầy hai tuổi, xa bố lâu ngày nên không dám lại gần bố, cứ nhìn bố xong lại nép vào vú mẹ!

Về nhà được hai ngày thì Ba Trí lại đến nhà đòi vàng! với danh nghĩa là nhờ hắn đút lót cho công an Minh mới được về. Minh lánh mặt!

Chung quanh Minh sao toàn là ác quỷ, sẵn sàng uống máu những lương dân bị đàn áp, bị đọa đày!!

Minh văng vẳng nghe tiếng than của cha Minh từ bên kia thế giới:

"Bất hạnh sinh ư loạn thời"

          Phó Thường Dân

 
Trang bìa
Ðầu trang