Chuyến
đi định mệnh
(Do Phó Thường Dân viết
phỏng theo chuyện có thật năm 1981)
Trời chưa hừng sáng, tiếng gõ
cửa làm Quang tỉnh giấc. Ra mở cửa thì thấy vợ chồng
Lô, em của Quang, vẻ mặt nghiêm trọng, ra dấu đi vào trong
nhà có chuyện quan trọng.
- Anh chị Dũng mất rồi, Lô nói.
- Sao! sao mày biết! giọng Quang hốt
hoảng.
- Cứ bình tĩnh, không việc gì phải
cuống lên.
Quang có vẻ không bằng lòng cách
trả lời của Lô, nhưng vì mong biết chuyện gấp nên đành
im lặng.
Bao nhiêu kỷ niệm cuả mấy chục
năm trời sống gần gụi nhau làm cho tim Quang rướm máu khi
nghe tin đại nạn !
Dũng và Quang là hai anh em sát nhau,
cách nhau chỉ có hai tuổi. Vì hoàn cảnh chiến tranh, hai anh
em hồi còn nhỏ không được tới trường như những trẻ
con cùng lứa tuổi. Ðến năm 1952, hai anh em theo gia đình vào
Sàigòn mới được tới trường đi học. Lúc đó, Dũng đã
mười tuổi, Quang đã tám tuổi. Cha của Dũng và Quang thuộc
thành phần giầu có lâu đời ở miền Bắc, vì chiến tranh,
phải chạy vào miền Nam lánh nạn, sống với gia đình người
con cả là Trung. Khi đó Trung là một sĩ quan của miền Nam.
Vì mất hết của cải, ruộng vườn,
làng xóm quê hương nên cha của Quang trở thành bất đắc
chí, không muốn cho Dũng và Quang đi học ở trường mà muốn
cho học chữ nho ở nhà để thấu hiểu đạo thánh hiền !!
Mẹ của Quang cho là viển vông và cho hai anh em ghi tên học
tại trường tư thục Lê Bá Cang. Mặc dù đã lớn tuổi nhưng
hai anh em mới được đi học ở trường ở miền Bắc chừng
vài tháng !
Hệ tiểu học hồi đó gồm năm
lớp, mới đầu là lớp năm rồi lên dần tới lớp nhất.
Vì lớn tuổi nên anh em Dũng Quang
ghi tên học lớp nhì, coi như học nhẩy ba lớp. Giờ đầu
vào học anh em Dũng Quang nghe chẳng hiểu gì cả, cô giáo hỏi
cũng chẳng hiểu vì không nghe quen giọng miền Nam. Sau bài
chính tả tiếng Pháp, Quang viết được đúng hai chữ "ma xưa"
vì trong bài chính tả có hai chữ "ma soeur".
Với sự giúp đỡ của cha, hai anh
em cố gắng học để theo kịp bạn bè. Lớp học gần 50 học
sinh, từ chỗ không biết gì hết, đến cuối năm, Dũng được
xếp hạng ba, Quang hạng mười trong lớp trước sự ngạc
nhiên của cô giáo đối với hai đứa trẻ tỵ nạn bắc kỳ
! Cả lớp chỉ có hai anh em nói giọng bắc kỳ nên lúc đầu
cũng bị khá kỳ thị. Có lần chơi u, sau khi đã ngừng u,
Dũng còn bị lũ trẻ nắm hai chân kéo dài dưới đất hàng
chục thước, rách cả quần
áo !
Sau hai năm, hai anh em đậu bằng
tiểu học ở Sàigòn, cũng đã quen dần vớI giọng nói miền
Nam, với những bài hát bình dân:
- Ai khôn thì dại, ai ddại thì khôn...
- Cô mười cô chín, hai cô anh muốn
cô nào...
Sau hiệp định Genève chia đôi đất
nước Việt Nam, hàng triệu người di cư từ miền bắc vào
miền nam, bỏ lại tất cả của cải, bỏ cả quê hương,
có người lạc cả những người thân yêu ! Trong đám di cư
đó có họ hàng, bà con xa gần của Quang.
Hai anh em Dũng và Quang bị bà con
trưng dụng ra làm kẻ tỵ nạn để xin tiền cứu trợ !
Ra đến nơi, Quang chẳng biết chuyện
gì mới hỏi mấy người anh họ.
- mình ra đây làm gì hả các anh
?
- xuỵt, câm mồm lại. Hiến, anh
họ của Quang vừa nói vừa ra dấu, vì sợ Quang nói giọng
Nam bị phát giác thì anh ta không được tiền cứu trợ !!
Quang chẳng làm gì mà bị chửi
nên buồn lắm, hết bị người miền Nam kỳ thị vì nói giọng
Bắc, bây giờ lại bị người miền Bắc chửi vì nói giọng
Nam !!
Dũng bản chất hiền lành, chăm
làm, chăm học, không bao giờ bị cha mẹ rầy la chứ đừng
nói tới đánh đòn. Quang thì lười học, có khá nhiều tính
hư tật xấu, nhưng khá thông minh nên được mẹ hơi nuông
chiều.
Hai anh em suốt từ thời thơ ấu
luôn luôn sát cánh bên nhau, cho đến khi lên đại học mới
học ngành khác nhau. Dũng và Quang tuy khác nhau nhưng lạI rất
thân, tính tình hai người nhiều khi bù đắp lẫn cho nhau.
Tin Dũng bị nạn như sét đánh trên
tâm hồn Quang !
- Có người đi chung tầu vượt
biên với anh chị Dũng viết thơ về cho gia đình biết, Lô
nói tiếp.
- Câu chuyện ra làm saao, Quang nóng
nảy hỏi.
- Theo bức thơ của ông giáo sư
Sơn, đi vượt biên một mình, từ trại tỵ nạn ở Mã Lai
gởi về cho người nhà ở Việt Nam: "Biết Dũng là một giáo
sư đại học, lại là một giáo sư rất ăn khách của giới
trường luyện thi ở miền Nam trước năm 1975, bọn chủ tầu
nghĩ rằng vợ chồng Dũng có mang theo vàng nên sau khi ra hải
phận quốc tế chúng bắt vợ chồng Dũng phải mua mỗi ly
nước uống bằng mấy chỉ vàng. Vì không có vàng nên không
có nước uống, trong hoàn cảnh sống với kẻ cướp của
giết người, một giáo sư đại học hiền lành thì làm sao
mà đương đầu nổi với bọn trộm cướp. Vì thiếu nước
uống, vì chật chội, vì đói nên Anh, đứa con trai lớn (chưa
được mười tuổi) của Dũng chịu không nổi bị xỉu, Dũng
kêu cứu một cách vô vọng ! Dũng cố gắng bồng đứa bé
đưa lên cao cho có không khí để thở. Vì đói khát, thiếu
không khí thở, lại cố gắng quá mức hy sinh cho con nên ít
lâu sau, Dũng cũng bị xỉu ! Bọn trộm cướp bèn thủy táng
bố con Dũng, không cần biết là còn sống hay đã chết, mặc
tiếng khóc lóc kêu gào níu kéo của vợ Dũng. Những người
vượt biên đồng cảnh không dám nhúc nhích vì cũng đều
kiệt lực và vì sợ cho ngay thân phận của chính mình ! thôi
đành chứng kiến những hành động tủi hổ của loài người
!! Khi đoàn người vượt biên trông thấy được đất liền
thì vợ Dũng kiệt lực, giã từ cuộc đời ô trọc, để
lại hai đứa con 6 tuổi và 7 tuổi bơ vơ giữa chợ đời
với những con người ác hơn qủy dữ !!!"
Quang lịm người khi nghe chuyện
tàn bạo xảy ra cho người anh thân yêu, một nhà khoa học
hiền lành gương mẫu, một trong những đứa con quý của mẹ
Việt Nam !!!
Quang được hung tín đúng vào ngày
hẹn để đóng vàng đi vượt biên !
Sau nhiều lần thất bại, tù tội
vì vượt biên, lần vượt biên này Quang có may mắn quen biết
với người tổ chức nên hy vọng không bị lừa gạt. Ðể
kiếm đường đi vượt biên sau khi đã bị lường gạt nhiều
lần, Quang xin đi làm ở công trường xây dựng cư xá cho Liên
Xô ở Vũng Tầu. Sau mấy tháng làm việc, vẫn chẳng có manh
mối gì, Quang xin nghỉ việc và nói rõ cho người chủ thầu
tên là Ẩn biết mục đích đi làm ở Vũng Tầu của mình.
Ẩn báo cho Quang biết là hắn cũng đang chuẩn bị đi và rủ
Quang đi cùng ! Quang bèn nhận lời và hẹn ngày đóng tiền
!
Ðến trưa thì Ẩn và Ðường Nghiệp
(chủ tầu) đến nhà Quang để thu vàng ! Lòng Quang đang tang
thương, tan nát, kể lể chuyện tang tóc của gia đình Dũng
cho Ẩn biết, rồi Quang nói:
- Tôi mới được hung tín sáng nay,
hiện giờ tôi cảm thấy cự kỳ đau khổ, tuyệt vọng. Tôi
chưa biết tính sao, nhưng trước mắt là phải tổ chức cầu
siêu cho anh tôi đã. Chuyến đi dự định trong hai ngày nữa,
chắc tôi không tham gia được. Tôi rất tiếc không đi với
các anh được.
- Chúng tôi hết sức thông cảm
hoàn cảnh của anh, Ẩn nói. Anh cứ lo làm lễ cầu siêu đi,
bây giờ chúng tôi rất bận nên phải đi ngay.
Một tuần sau, họ hàng Quang tổ
chức lễ cầu siêu cho vợ chồng Dũng tạI chùa Xá Lợi. Những
người dân lương thiện, gương mẫu lặng lẽ cúi đầu, lệ
tuôn trào...
Xanh kia thăm thẳm từng
trên
Vì ai gây đựng cho nên nỗi
này
(trích chinh phụ ngâm)
Hôm sau ngày cầu siêu, Quang đạp xe
qua nhà Bửu. Bửu học cùng ngành với Quang, ra trường trước
chừng vài năm. Lúc còn nhỏ, Ẩn ở gần nhà Bửu, cả hai
quen biết nhau từ lâu. Bửu dự trù đi chung chuyến vượt
biên vớI Quang và Ẩn, vì điều kiện tài chánh, Bửu đi một
mình với hy vọng sẽ đem được vợ con sang sau. Quang sang
nhà Bửu để hỏi thăm vợ Bửu đã có điện tín từ đảo
về chưa.
- Chưa, anh ấy còn ỏ Vũng Tầu,
chuyến đi hoãn tới cuối tuần này, mời anh vào nhà chơi,
vợ Bửu ân cần nói.
Về tới nhà, Quang tự nhủ: "hay
là trời xui đất khiến chuyến đi hoãn lại nên mình có dịp
tham gia, bây giờ ở lại đây khóc lóc vật vã thì cũng chẳng
được gì !"
Tuy là một con người khoa học,
nhưng đã tới đường cùng, Quang không còn biết nên đi hay
nên ở ! Hai vợ chồng Quang đầu đội khăn tang, thắp nhang
trước bàn thờ, để hai cái thăm "đi" và "ở", rồi khấn
vái, phó mặc cho số phận định đoạt, giống như nàng Kiều
khi nhẩy xuống sông Tiền Ðường:
Cũng liều nhắm mắt đưa
chân
Thử xem con tạo xoay vần đến
đâu !
Sau khi mở thăm, vợ chồng Quang thấy
mình đã bốc trúng thăm "đi". Nhưng vì là một con người
khoa học nên Quang tự hỏi không biết đây là phúc hay là
họa !
Vợ chồng Quang làm thêm ba lần
nữa, lần nào mở ra cũng là thăm "đi" !
Thôi thì đúng là ý trời !
Liên lạc lại với Ẩn, Quang được
biết chuyến vượt biên sẽ khởi hành từ Vũng Tầu trong
hai ngày nữa. Vì đã chuẩn bị từ lâu nên Quang nhận lời
ngay. Vợ chồng Quang và đứa con hai tuổi vội vàng lấy xe
đò đi xuống Vũng Tầu.
Gia đình Quang, Bưủ và Tâm, một
người bà con của Ẩn, ngủ chung trong một phòng của công
trường xây dựng. Ðêm đó mưa to gió lớn giống như giông
bão, Tâm rên rỉ:
- Chú Bửu ơi, giờ này ra biển
chắc làm mồi cho cá mập...
Ðợi mấy ngày sau vẫn chưa được
khởi hành. Công nhân ở công trường bắt đầu xầm xì thắc
mắc. Gia đình Quang phải về tạm trú tại nhà Lủ, cháu của
chủ tầu Ðường Nghiệp. Vì khi đi từ Sàigòn, mọi người
dự trù hai ngày sau là lên tầu vượt biên nên gia đình Quang
chỉ dự trù tiền bạc dùng trong vòng mười ngày. Hết mười
ngày, vẫn chưa khởi hành, vợ chồng Quang phải tháo nhẫn
cưới đem bán để sống tạm chờ ngày lên đường. Cái kỷ
niệm đau đớn đó như có sức mạnh gấp muôn lần chiếc
nhẫn cưới để gắn bó vợ chồng Quang trọn đời tình nghĩa.
Ngày 25 tháng sáu năm 1981, nhà chủ
tầu Ðường Nghiệp bắt đầu bị công an theo dõi, cuộc vượt
biên phải thực hiện ngay, không chần chờ được nữa.
Theo sự hướng dẫn của tổ chức,
Quang và đám đàn ông con trai giả dạng công nhân đi làm,
đi theo lộ trình đặc biệt, phân tán mỏng để tránh theo
dõi. Ðến một bãi cỏ, mọi người nghỉ ngơi, chờ trời
tối mới đi ra chỗ hẹn dưới chân cầu. Nằm trên bãi cỏ,
khi trời vừa tối, Bửu chỉ cho Quang cách xem sao để định
hướng cho thuyền đi. Ðàn bà và con nít thì được nhét chật
hơn cá mòi trên xe hơi để chở tới chân cầu vào lúc tối.
Con của Quang bị bắt uống thuốc ngủ, vì nếu ồn ào khóc
lóc thì sẽ đổ bể hết.
Vợ chồng Quang gặp lại nhau ở
chân cầu, mừng mừng tủi tủi. Một lát sau, bỗng có đưá
bé trong đám người chạy trốn, khóc ồn ào. Có tiếng người
nói:
- Bịt miệng nó lại, không chết
cả đám.
Tiếng khóc vẫn chưa dứt, vẫn
tiếng nói đó:
- Ðưa tôi bịt mũi nó cho !
Quang rùng mình nghĩ đến cảnh chết
chóc của gia đình Dũng !
Cũng may sau đó, mẹ đứa bé giỗ
cho nó im được.
Chờ chừng một tiếng đồng hồ,
thì mọi người được chiếc thuyền taxi ghé lại đón. Ði
chừng mười lăm phút thì có người la lên: thuyền bị thủng,
nước bắt đầu tràn vào. Mọi người xôn xao. Nước vào
thuyền nhiều hơn. Người lái thuyền yêu cầu tất cả đàn
ông con trai phải nhẩy xuống nước cho thuyền bớt nặng,
vừa bơi vừa đẩy thuyền vào bờ. Nước tiếp tục tràn
vào thuyền, dâng cao gần đến vai người đúng trong thuyền.
Vợ Quang cố gắng bồng con đua lên cao cho cháu bé không bị
ngộp. Nước cứ dâng lên dần, vợ Quang tự nhủ chắc sắp
chết đến nơi, nhưng không thể nào chấp nhận để con mình
chết đuối được !
- Anh Quang ! anh Quang, anh ẵm con,
nước ngập tới gần miệng em rồi !
Quang vừa bơi vừa cố sức đẩy
thuyền, nghe tiếng gọi, rụng rời cả tay chân...
- Anh ơi! anh ơi! cứu lấy con !!
Tiếng kêu thất thanh của người
mẹ trước khi lìa cõi đời có thấu chăng được "xanh kia
thăm thẳm từng trên" ! bỗng nhiên, thuyền chạm đáy bờ
sông, nước không còn dâng thêm để nhận chìm những con người
vô tội.
Người này đỡ người khác, từ
từ mọi người lần lượt lên một bãi lầy, được dẫn
đi trong rừng thưa. Quang kiệu cháu bé trên cổ, cháu bé bỗng
tỉnh dậy:
- Mình đi đâu hhả bố !
Ði một quãng thì Quang bị lún trong
vũng lầy tới đầu gối, không nhấc chân lên nổi, mấy người
phải xúm lại kéo lên. Lát sau tới được chỗ tụ tập,
Quang thấy rất đông người đã đến trước. Vợ chồng Quang
ướt như chuột, lạnh run cầm cập, đồ đạc chuẫn bị
vượt biên như sữa, chanh đường phơi khô đều chìm xuống
sông hết.
Khoảng hai giờ sáng thì Ẩn gọi
Bửu và Quang lại cho biết: lương thực chuẩn bị đi vượt
biên đã mất hết vì thuyền taxi bị chìm, số người đi
lậu quá nhiều, nếu tất cả lên thuyền có thể thuyền sẽ
bị đắm khi ra biển, nếu không bị đắm thì cũng chết đói
vì không có lương thực. Ẩn và gia đình gồm tất cả bẩy
người dự định bỏ cuộc trở lại Vũng Tầu bằng xe lam
chờ sẵn ở ngoài đường lộ:
- Hai anh là người thân, tôi mới
nói cho biết, hai anh có muốn theo tôi ra xe lam trở lại Vũng
Tầu không ? Ẩn hỏi Bửu và Quang.
- Như thế vàng chúng tôi đóng có
lấy lại phần nào được không ? Quang hỏi lại.
- Vàng các anh đóng là cho chủ tầu
Ðường Nghiệp, làm sao lấy lại được.
Quang và Bửu không biết trả lời
sao, xin được suy nghĩ một lát. Bửu không có vàng, đi vay
nợ để đóng, bây giờ bỏ cuộc thì làm sao trả nợ được
đây ! Quang đã bị lừa gạt nhiều lần, bây giờ mất nữa
thì lấy gì nuôi con đây !
Trước khi đi Ẩn có đi hỏi ý
kiến một linh mục ở gần ngã tư xa lộ Biên Hoà. Linh mục
đoán sự việc bằng cách bói toán và cho Ẩn một số ngày
kỵ, trong đó có ngày 25 và 26. Nếu đi vào những ngày đó
thì tính mạng khó an toàn ! Trước cảnh thuyền taxi bị chìm,
lương thực rớt xuống sông hết, số người đi lậu quá
đông, Ẩn tin tưởng tuyệt đối vào lời tiên đoán của
vị linh mục đó ! Lúc Ðường Nghiệp quyết định ra đi vào
tối 25, Ẩn đã lo, nhưng công an đã đến nhà Ðường Nghiệp
dò la nên không thể nào chần chừ được nữa !
Quang và Bửu chưa quyết định đi
hay trở lại Vũng Tầu với Ẩn, cả hai đi gặp Ðường Nghiệp
để xem tình hình thế nào. Nghiệp thì trái lại với Ẩn,
cương quyết đi, có lẽ vì nhà đã bị công an theo dõi. Nghiệp
khuyên Quang và Bửu nên đi chung vì Nghiệp cũng tin hai người
có khả năng tổ chức cho chuyến đi được thắng lợi. Quang
hỏi Nghiệp:
- Thế vấn đề lương thực và
vấn đề người đi lậu đông quá thì anh định giải quyết
ra sao ?
- Mình cứ đi, ra tới ngoài khơi
mình xô tụi đi lậu xuống biển !, Nghiệp đáp lại.
Quang lạnh mình nghe Ðường Nghiệp
nói, cảnh chết chóc cả gia đình Dũng như cuốn phim chiếu
lại trong đầu Quang. Quang kéo Bửu ra chỗ khác rồi bàn:
- Không đượcc anh Bửu ạ, có chuyện
xô xát trên thuyền thì chắc chết hết !
Cả hai im lặng, Quang đi lại gần
vợ con. Ôm đứa bé Quang thầm suy nghĩ, ra đi dù mạng treo
sợi tóc, Quang cũng chẳng còn sợ, nhưng việc quyết định
có thể liên hệ tới mạng của cháu bé. Quang nghĩ mình có
quyền quyết định chuyện sống chết cho mình, nhưng mình
không có quyền quyết định chuyện sống chết cho người
khác, kể cả con mình ! biết làm sao đây !
Nhớ lại những tháng ngày tù tội
vì những lần vượt biên trước, Quang bàn với vợ:
"Lát nữa trời sáng mà chưa đi
được, chắc thế nào cũng bị công an bắt hết ; nhưng đàn
bà có con nhỏ bị bắt hy vọng bị giam ít hơn đàn ông nên
Quang dự trù sẽ bơi một mình qua sông rồi tìm cách trở
về Vũng Tầu sau".
Lát sau không thấy Quang và Bửu
trả lời, gia đình Ẩn đi băng qua rừng thưa để ra lộ,
đáp xe lam về Vũng Tầu. Thấy gia đình Ẩn đi rồi, Quang
bàn với Bửu:
- Giải pháp của Ðường Nghiệp
không được, có khi chết hết hoặc mình chết trước, tôi
và anh ra thuyết phục họ bỏ về thì mình mới có hy vọng
đi thoát được.
- Anh định thuyết phục làm sao.
- Mình nói là người tổ chức đã
bỏ trốn rồi, chính họ cũng nhìn thấy ; mình than là nếu
không trốn ngay thì khi trời sáng sẽ bị công an nhốt hết
; và nhờ họ giúp đỡ mình đi trốn. Mình chẳng muốn lừa
gạt ai, nhưng nếu họ không rút lui thì thuyền không đủ
sức chở, ra khơi có thể bị đắm khi sóng lớn ; còn nếu
theo kế hoạch của Ðường Nghiệp thì không tránh khỏi cảnh
giết chóc lẫn nhau !
Bửu đồng ý và hai người hết
nói chuyện với người này lại nói với người khác trong
đám đi lậu. Ðám này bàn bạc với nhau, rồi quyết định
rút lui. Trước khi chạy, họ cũng thông báo cho Quang chạy
theo. Quang cảm kích sự tử tế đó, rất tiếc đã phải xử
dụng mưu trí, phải nói dối !
Sau đi đám người đi lậu bỏ về
thì chỉ còn lại 37 người kể cả trẻ con, nên tất cả
lần lượt được thuyền taxi đưa ra thuyền vượt biên. Người
lái thuyền taxi biết đám vượt biên đã mất hết lương
thực nên cho mấy lít gạo để cầm hơi đi vượt biên.
Ra đến bãi trước thì trời đã
hừng sáng, mọi người đều phải núp dưới hầm thuyền.
Người tài công, đáng lẽ lái thuyền đi hướng Singapore,
lại lái đi về hướng bắc giống như những thuyền đánh
cá để đánh lạc hướng theo dõi của công an.
Ðường Nghiệp thường xuyên bàn
bạc với Quang và Bửu để cho chuyến vượt biên dễ thành
công. Trước hết là vấn đề ăn uống, lương thực đã mất
hết, chỉ có bốn lít gạo để cho 37 người sống sót, nên
ngay từ lúc đầu mỗi người chỉ được một chén cháo mỗi
ngày để sống cầm hơi. Quang đo vận tốc thuyền để tính
thời gian đi tới đường hải hành quốc tế Singapore- Hồng
Kông. Vì không có dụng cụ, một người ngồi đầu thuyền
thả một miếng giấy và Quang đo thời gian miếng giấy trôi
tới cuối thuyền. Mặc dù phương tiện thô sơ nhưng kết
quả rất tốt đẹp, ra tới hải hành quốc tế, Quang yêu
cầu tài công đổi hướng đi về Singapore, và gặp được
nhiều tầu buôn trên hải hành.
Rời khỏi Vũng Tầu khoảng 24 giờ
thì có người nhìn thấy có tầu ở hướng đất liền đi
ra, mọi người nghĩ có thể bị thuyền công an rượt theo,
tất cả lại phải chui xuống hầm thuyền. Sau một ngày đói
khát, mọi người đã yếu hơn nên cảm thấy vô cùng ngạt
thở. Cũng may, một lát sau thì không thấy có bóng tầu nào
nữa, mọi người được lên trên thở không khí trong lành
của biển cả.
Mấy tuần trước khi đi thì mưa
bão dữ dội ở Vũng Tầu, nhưng khi thuyền vượt biên ra ngoài
khơi nước biển lại lặng như nước ở hồ tắm, Quang tự
nhủ chắc hết xui rồi thì hên phải đến. Nước biển mầu
xanh tím, đẹp hơn tranh vẽ, thuyền lướt sóng nhẹ nhàng,
hai bên hai đàn cá bơi theo thuyền như đón mừng người tỵ
nạn...
Ra đến hải hành quốc tế, không
còn sợ bị tầu công an rượt nữa, Ðường cho tầu ngừng
lại và gắn lan can chung quanh để mọi người ngồi thoải
mái. Nhân dịp này Quang và vài người khác nhẩy xuống Thái
Bình Dương để tắm, một lần tắm để nhớ đời ! Vợ
Quang sợ cá mập nguy hiểm, kêu gọi mọi người lên thuyền
gấp.
Trên hải hành quốc tế, Ðường
Nghiệp lấy sơn vẽ ba chữ S.O.S. trên một tấm gỗ nhỏ để
giơ lên mỗi khi gặp tầu buôn. Vừa đi trên hải hành quốc
tế được vài giờ thì gặp tầu Trung Cộng nên Quang phải
hạ bảng S.O.S. xuống !
Rồi tiếp tục gặp hàng chục tầu
khác, nhưng chẳng tầu nào chịu dừng lại !
Quang vừa lo giơ bảng S.O.S, vừa
kiểm soát hướng tầu đi, vừa phụ lái tầu. Sau hai ngày
vừa làm việc vừa đói khát, mọi người đều vô cùng hốc
hác. Giữa nửa đêm, Ðường Nghiệp mang lại cho Quang một
chén cơm nguội với một miếng chao. Ở Việt Nam, chưa bao
giờ Quang thích và chịu ăn chao cũng như cơm nguội ! Nhưng
chén cơm nguội với miếng chao đêm nay sao mà ngon thế, có
lẽ là bữa cơm ngon nhất đời của Quang !
Cho tới sáng ngày thứ ba, sau khi
kêu cứu gần chục chiếc tầu gặp trên đường đi, thuyền
vượt biên gặp được một tầu buôn Hy Lạp, tầu này đã
dừng lại, cho lương thực nước uống, nhưng không vớt được
vì tầu đang đi tới Việt Nam. Dù không được vớt nhưng
có miếng cơm ăn, có thêm vài chục lít nước uống nên mọi
người trên thuyền cũng lấy lại được đôi phần hy vọng.
Thuyền tiếp tục hướng về Singapore
rẽ sóng đi, gặp tầu nào cũng xin cầu cứu. Thương thay thân
phận của hàng trăm ngàn người con ưu tú của mẹ Việt Nam
bỗng trở thành ăn mày quốc tế !!
Ðến chiều ngày thứ ba, bỗng Ðường
Nghiệp mời Quang, Bửu và vài người thân tín lại bàn việc.
Thì ra chiếc la bàn mới mua trước khi đi của Ðường Nghiệp
bị hư, tài công không còn biết phương hướng nào để lái
thuyền nữa. Ðường Nghiệp yêu cầu mọi người không nên
cho ai biết, trong thuyền sẽ rối loạn. Cả bọn mắt tái
xanh, chắc chắn sẽ bỏ mạng trên biển cả, không còn thiết
làm gì cả, riêng Quang và Bửu thì nghĩ đến chuyện dùng
sao trời để định hướng cho thuyền đi, nhưng hy vọng giữ
thuyền đi theo hải hành
quốc tế sẽ vô cùng khó khăn.
Bỗng xa xa có thấy một chiếc tầu.
Quang bèn bảo người tài công cứ nhắm tầu đó tiến tới,
không cần biết phương hương gì nữa. Tất cả đều tuyệt
vọng vì đã gặp hơn chục chiếc tầu, nào có được vớt,
bây giờ không biết hướng đi chỉ còn chờ chết ! Một mình
Quang vẫn giữ niềm hy vọng, hai tay cầm bảng S.O.S, yêu cầu
mọi người nằm ra sàn thuyền giả chết, may ra có hy vọng
hơn. Tất cả mọi người tuân theo, vì thực ra thì cũng gần
chết cả rồi, Riêng con của Quang, đứa bé trẻ nhất thuyền,
mới hai tuổi thì khóc ầm ĩ.
Khi tiến gần đến tầu lớn thì
hình như tầu lớn dừng lại, mọi người vẫn nằm im bất
động, một mình Quang vừa cầm bảng S.O.S. vừa kêu cứu.
Trời đã gần tối, trên tầu lớn người ta dùng micrô để
hỏi Quang trong thuyền có bao nhiêu người, rồi họ bằng lòng
vớt.
Sau khi cho đàn bà và trẻ con lên
họ cho đàn ông và con trai lên trên tàu lớn. Quang là một
trong những người cuối cùng bước lên tầu lớn. Vừa lên
tới nơi, Quang nghe tiếng hét "sit down !".
Quang nói nhỏ với Bửu:
- Nếu là tầu Cuba thì chắc chết
! có lẽ mình nhẩy xuống biển tự vận cho thoát nợ đời,
vì nếu bị bắt sau khi đã ra ngoài khơi thì tù rục xương,
chưa chắc còn sống đến lúc được tạm tha !
Sau khi bắt đám đàn ông con trai
ngồi xuống, ông thuyền phó kiểm soát để đề phòng hải
tặc, rồi cho mọi người đoàn tụ với nhóm đàn bà, trẻ
con !
Khi đi vào phòng Quang mới nhận
ra đó là một chiếc tầu Argentine ở Nam Mỹ. Sau khi được
ăn uống đầy đủ, vị thuyền trưởng xuống thăm đoàn tỵ
nạn của Quang. Ông thuyền trưởng cho biết: lần trước tầu
của ông đã từng vớt một thuyền tỵ nạn và ông đã gặp
rất nhiều khó khăn về thời gian cũng như về tài chánh,
vì vậy ông thuyền phó đã phản đối việc vớt thuyền tỵ
nạn của nhóm Quang ; nhưng khi nhìn thấy đoàn tỵ nạn qua
ống nhòm, ông thuyền trưởng tự nhủ nếu không vớt những
người đau khổ này thì tối nay chắc ông
không thể nào ngủ được !!
Mắt Quang như được mở rộng để
thấy tình nhân loại bao la, rộng lớn hơn tình dân tộc mà
Quang hằng ấp ủ, tôn thờ ! Hình như quê hương của Quang
bắt đầu rộng lớn hơn để trải khắp qủa địa cầu !
Mấy hôm trước trên chiếc thuyền
nhỏ, nhóm Quang luôn luôn thấy biển im gió lặng. Ðêm nay,
trên chiếc tầu lớn gấp trăm lần chiếc thuyền vượt biên,
nhưng mọi người đều cảm thấy tầu nghiêng ngả lắc lư
vì sức xô đẩy của sóng gió. Ai ai cũng tự nhủ thầm, nếu
hồi chiều không được vớt thì chắc bây giờ làm mồi cho
cá mập !! và chắc ông thuyền trưởng đã biết trước là
đêm nay sẽ có bão nên nếu không vớt đám người khốn khổ
này thì chắc chắn họ sẽ không qua khỏi đêm nay !
Phó Thường Dân
Viết tại Québec, Canada
Tháng tư năm 2001 |