Chiếc
áo thầy tu
1. Quan điểm về thầy tu.
Nói đến kẻ tu hành trong bất kỳ
tôn giáo nào, đa số giáo dân đều nghĩ đến hình ảnh một
người sống đạo đức, khổ hạnh, tuân theo nhiều giới
luật. Họ thường cho rằng người tu hành hy sinh thân mình
để mang lại hạnh phúc cho mọi người. Những điều cấm
kỵ cho kẻ tu hành thay đổi tùy theo từng tôn giáo, từng
giáo hội, từng địa phương, nhưng nói chung là những điều
lệ tương đối khắt khe mà người thường không giữ được.
Vì vậy giáo dân thường đánh giá các kẻ tu hành qua sự
chấp hành những điều lệ khắt khe đó.
Vì hình ảnh đạo đức của kẻ
tu hành nên có nhiều người lợi dụng hình ảnh đó, bằng
cách khoác aó thầy tu để đạt được sự tín nhiệm của
quần chúng với mục đích thực hiện những mưu đồ của
họ, chẳng hạn như người ta thường cảnh giác:
Chiếc áo không làm thành thầy tu.
Với sự tiến bộ của khoa học,
tầm hiểu biết của con người được mở rộng, giáo dân
thấy không phải chỉ có tôn giáo của mình là duy nhất mà
còn có nhiều tôn giáo khác, nhiều ý thức hệ khác. Hình
ảnh kẻ tu hành trong tôn giáo của mình thì không thay đổi
nhiều so với ngày xưa, nhưng đối với kẻ tu hành của tôn
giáo khác thì nhiều người lại coi như những mụ phù thủy
quái ác, đang tìm cách đe doạ hạnh phúc của họ ! Vì vậy
khi tranh dành quyền lợi vật chất, các phe nhóm trong xã hội
hay trên thế giới thường lợi dụng sự hiểu lầm này để
giáo dục căm thù, để động viên tinh thần hy sinh của giáo
dân v.v…
Cũng có người chủ trương ba phải:
tôn giáo nào cũng dậy dỗ con người làm điều lành, tránh
điều ác nên tôn giáo nào cũng tốt cả ; và trong hành động
thì họ chủ trương cứ cái gì có lợi thì làm chẳng hạn
như “đi đạo để có gạo mà ăn”.
2. Tôn giáo và hạnh phúc của
con người.
Trước những sự khó khăn vô vàn
trong cuộc sống, con người thường không thể tự tìm ra câu
giải đáp ; sự thắc mắc làm cho con người lo âu bồn chồn,
không cảm thấy hạnh phúc.
Ngày xưa, khi chưa giải thích được
bằng khoa học tại sao có gió thì người ta chấp nhận “gió
là do thần gió tạo ra”. Từ sự giải thích đó, khi cần
có nước để cầy cấy thì người ta cầu khẩn “thần mưa”.
Mấy ngàn năm trước, sự phát triển của khoa học cũng như
sự phát triển các ý thức hệ của loài người dần dần
dẫn đến sự hình thành các tôn giáo cũng như sự hình thành
các hệ thống triết lý.
Con người thường dùng tôn giáo
để giải thích tất cả mọi sự khó khăn trên đời, mọi
câu hỏi trong trí tưởng tượng, mọi vấn đề mà khoa học
đương thời chưa giải quyết được. Sự giải thích này
thường được giao phó cho các nhà tu hành và thường dựa
trên niềm tin của giáo dân. Các hệ thống triết lý cũng
giải thích các sự kiện đó, nhưng không thông qua các nhà
tu hành mà qua những tirết gia, những nhà lý luận, những
nhà giáo v.v…Vì vậy, người ta thường lầm các hệ thống
triết lý với các tôn giáo. Chẳng hạn như nho giáo và triết
lý Khổng Mạnh, triết lý của Phật và Phật giáo v.v…
Sự giải thích đó giúp cho con người
sống có mục đích hoặc có lý tưởng, giúp cho con người
tự chế ngự được những ước muốn tội lỗi, giúp cho
con người có nghị lực hơn, có những hành động từ bi bác
ái,v.v… Nói một cách khác, tôn giáo có thể tạo ra hạnh
phúc cho con người.
Nhưng khi thực tế cuộc sống trở
nên quá phức tạp, vượt ra ngoài tầm giải thích của các
tôn giáo, thì niềm tin của các giáo dân bị lung lay. Các giáo
điều của các tôn giáo thường có tính cách “khuôn vàng
thước ngọc” dần dần trở thành không còn phù hợp với
trình độ khoa học cũng như trình độ phát triển của xã
hội. Từ mục đích tạo hạnh phúc cho con người, các giáo
điều dần dần trở thành những nhà tù vô hình giam hãm tâm
hồn con người, ngăn trở sự tiến hoá thiên nhiên của nhân
loại.
Tôn giáo nào cũng có những người
tuyệt đối trung kiên, sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo
vệ tôn giáo của mình. Sau khi hy sinh, những người đó thường
được giáo dân coi như là những “thánh tử vì đạo”.
Nhưng xã hội loài người lại bao gồm rất nhiều tôn giáo,
rất nhiều ý thức hệ khác nhau. Khi sự khác biệt tôn giáo
hoặc ý thức hệ trở nên quá gay gắt thì biến thành chiến
tranh và “thánh tử vì đạo” của tôn giáo hoặc ý thức
hệ này lại trở thành “kẻ thù không đội trời chung”
của tôn giáo khác hoặc ý thức hệ khác ! Chẳng hạn như
những kẻ khủng bố đối với nhân dân Mỹ lại là những
“thánh tử vì đạo” của những phần tử Hồi giáo quá
khích.
3. Ý thức hệ và tôn giáo.
Hệ thống triết lý hoặc ý thức
hệ đã từng là sự suy nghĩ một cách khoa học về tính chất
và những nguyên nhân tạo nên vũ trụ, con người, xã hội.
Triết gia Các Mác muốn biến sự suy nghĩ đó thành sự cải
tạo xã hội loài người.
Vì tính cách khoa học nên các hệ
thống triết lý thường có tính cách lý luận dựa trên trình
độ khoa học đương thời, trong khi đó tôn giáo thường có
tính cách huyền bí, dựa trên những sự kiện siêu hình.
Theo Các Mác thì “tôn giáo là thuốc
phiện của tâm hồn”. Vì vậy các giáo dân của các tôn
giáo thường coi Các mác như ác qủy xuống trần để gieo
tai hoạ cho loài người ! Trong khi đó những người đi theo
chủ nghĩa Mác lại coi Mác như một người vô cùng nhân đạo,
đã tìm ra đường lối để cứu rỗi loài người, để giải
phóng những người nô lệ khỏi tay bọn bóc lột !
Nhưng những người đi theo chủ
nghĩa Mác sau khi vận động quần chúng để cướp được
chính quyền, lại biến chủ nghĩa Mác thành một thứ giáo
điều, tương tự như những giáo điều của các tôn giáo
khác, mang tính cách “khuôn vàng thước ngọc”, mang tính
cách của chân lý bất di bất dịch !
Muốn áp đặt những “khuôn vàng
thước ngọc” đó vào quần chúng nhân dân, tôn giáo mới
mang tên “tôn giáo cộng sản” cũng cần những thầy tu kiểu
mới, với cuộc sống đạo đức, khổ hạnh kiểu mới, mang
tên đạo đức cách mạng. Tôn giáo ấy cũng muốn dùng tài
sản của nhân dân để đào tạo các thầy tu, các chiến sĩ
bảo vệ tôn giáo: đào tạo “con người xã hội chủ nghĩa”!
Phương tây thì Các Mác là người
đầu tiên muốn đem triết lý để cải tạo xã hội loài
người. Nhưng ở phương đông thì triết lý Khổng Mạnh đã
làm việc đó từ mấy ngàn năm trước ! Triết lý này cũng
đã biến thành một loại tôn giáo : nho giáo. Các thầy tu
của tôn giáo này là những người học chữ nho mà nhân dân
phải gọi là “chữ thánh hiền”. Các thầy tu này khi cai
trị nhân dân cũng luôn luôn lấy cuộc sống đạo đức, thanh
liêm làm kim chỉ nam. Nhưng thực tế cuộc sống đã làm cho
một số các thầy tu này lấy đạo đức giả thay thế cho
đạo đức thật. Câu chuyện tiếu lâm về vị quan thanh liêm
ngày xưa giúp ta hiểu rõ hơn sự chuyển biến từ đạo đức
thành đạo đức giả:
“Ngày xưa có một ông quan thanh
liêm, suốt đời làm ‘cha mẹ nhân dân’ nhưng không bao giờ
tham nhũng. Khi về già, hưu bổng không đủ sống, cơm không
đủ ăn, áo không đủ ấm. Khi sự thiếu thốn đã ngoài mức
chịu đựng của ông quan thanh liêm, bà vợ ông ta mới đem
của để dành đi bán để sinh sống.
- Cả đời tận tâm làm việc bây
giờ không đủ sống, bây giờ bà phải bán của hồi môn
của bà để nuôi tôi, chắc kiếp sau tôi mới trả nợ bà
được, ông quan tâm sự với vợ.
- Không phải của hồi môn của
tôi đâu, bà vợ trả lời.
- Bà nói gì tôi không hiểu.
- Thì khi ông làm quan, có người
phạm tội, gia đình họ năn nỉ tôi tìm cách xin ông tha tội.
Hồi đó tôi nói ông tha người ta thì sẽ được hưởng phúc
sau này. Sau khi kẻ phạm tội được tha, họ hỏi tôi ông
tuổi gì ?
- Tại sao họ lại hỏi tuổi tôi,
rồi bà nói sao ?
- Tôi nói ông tuổi tý ; thế là
mấy hôm sau họ đem đến biếu tôi một con chuột bằng vàng
; bây giờ tôi lấy con chuột vàng đó ra bán để sinh sống,
chứ đâu phải của hồi môn gì đâu !
Suy nghĩ một hồi lâu, ông quan nói
với vợ:
- giá hồi đó bà nói tôi tuổi
sửu thì bây giờ gia đình mình sung sướng biết bao !!!”
Câu chuyện có tính cách bôi bác
nhưng cũng nói lên được phần nào sự thực mà những người
đã thấm nhuần ý thức hệ nho giáo không thể nào chấp nhận.
Biết bao nhiêu vị quan thanh liêm suốt đời cúc cung tận tụy
phục vụ giáo điều như một thầy tu của tôn giáo “Nho
giáo”, để bảo vệ ngai vàng cho một dòng họ, bất kể
là minh quân hay bạo chúa !
Mấy ngàn năm sau triết lý Khổng
mạnh, triết lý của Các Mác cũng chủ trương dùng triết
lý để cải tạo xã hội. Những người đi theo chủ nghĩa
Mác cũng biến triết lý Mác thành chủ nghĩa giáo điều, cũng
đào tạo những thầy tu của tôn giáo mới. Cũng giống như
“Nho giáo”, các thầy tu này khi cai trị nhân dân cũng luôn
luôn lấy cuộc sống đạo đức, thanh liêm làm kim chỉ nam
; với danh từ mới “đạo đức cách mạng”. Nhưng quyền
hành và đạo đức là hai thứ kỵ nhau như nước với lửa,
nên đạo đức thoái hoá mau chóng thành đạo đức giả, và
khi đó các thầy tu phải dùng ngụy biện để tự dối lòng
và dối giáo dân.
Trong các nước lấy chủ nghĩa Mác
làm kim chỉ nam cho mọi hành động thì các thầy tu của “tôn
giáo cộng sản” , với danh nghĩa “chiến sĩ cộng sản”,
thường được quần chúng coi là những người gương mẫu,
luôn luôn tự cải tạo mình để cải tạo thế giới, luôn
luôn sống đạo đức và khổ hạnh, luôn luôn hy sinh quyền
lợi cá nhân cho sự nghiệp cách mạng. Chính vì niềm tin đó,
phong trào cộng sản thế giới đã thu hút được hàng tỷ
người, trước khi bị tan rã vào cuối thế kỷ vừa qua. Chính
vì những niềm tin ấy, hàng triệu người đã làm việc hăng
say, đã liều thân ôm bom xông vào phá đồn địch v.v…để
xây dựng một thế giới đã vạch sẵn trong giáo điều !!!
Nhưng ở ngoài ý thức hệ đó,
thì người ta lại coi những thầy tu của “tôn giáo cộng
sản” là những mụ phù thủy tàn bạo nhất, không còn tình
nhân loại, không có tình gia đình, không còn linh hồn nữa
! Nhất là đối với những nạn nhân của chế độ cộng
sản thì chỉ nghe nói đến những thầy tu đó cũng đủ làm
cho họ nổi giận.
Người ta thường cảm thấy hạnh
phúc khi tiếp xúc với những người cùng tôn giáo, cùng niềm
tin, cùng ý thức hệ. Và trong cuộc sống, ai ai mà chẳng mong
muốn được hạnh phúc. Vì vậy ai ai cũng có xu hướng bênh
vực những người cùng một niềm tin, cùng một ý thức hệ,
cùng một văn hoá v.v…Nhưng một số người lại quá tích
cực trong xu hướng đó, họ luôn luôn tìm cách chinh phục
người khác đạo, khác niềm tin, khác ý thức hệ để những
người đó đổi đạo, đổi niềm tin, đổi ý thức hệ.
Sự chinh phục này đã đưa tới chiến tranh, đến sự tàn
bạo, đến những tội ác v.v…Khi đo,ù tôn giáo đã xa rời
cái mục đích ban đầu: đem lại hạnh phúc cho nhân loại
; ý thức hệ đã mất đi cái ý nghĩa căn bản: phong phú hoá
trí tuệ con người !!!
Người ta cũng thường nhận định
mọi sự việc qua cái lăng kính “tôn giáo hoặc ý thức hệ”
của cá nhân mình. Vì vậy mọi nhận định của con người
thường bị lệch hướng. Chẳng hạn như những thầy tu của
“tôn giáo” cộng sản khi đọc lời giáo huấn của Lê Nin:
“chỉ có đem toàn bộ kho trí thức
của nhân loại để làm giầu cho bộ óc của mình, chúng ta
mới có thể trở thành người cộng sản” thì coi như lời
giáo huấn của thánh hiền, coi như một chân lý vĩnh cửu
v.v…
Nhưng đối với một người ở
ngoài thế giới cộng sản thì thấy đó là một câu nói rỗng
tuyếch, hoàn toàn vô lý và không tưởng, và có thể cho rằng
người nói câu đó chứng tỏ có một kiến thức chật hẹp,
coi toàn bộ kho kiến thức của nhân loại như cái đáy giếng
của con ếch !!!
Nhưng nếu sống ở trong thế giới
cộng sản thì đa số dù không phải là thầy tu của “tôn
giáo” cộng sản cũng vẫn đánh giá rất cao câu nói đó.
Lý do cũng tương đối đơn giản vì ảnh hưởng lớn lao của
hệ thống giáo dục, của “ý thức hệ” của giai cấp thống
trị trong quần chúng nhân dân. Chẳng hạn như Hà sĩ Phu, một
trí thức “xã hội chủ nghĩa” của Việt Nam, một người
mà nhiều người Việt Nam đã coi như là một niềm hãnh diện
cho nền triết lý Việt Nam, năm 1988 đã nhận định về lời
“giáo huấn” đó của Lê Nin như sau: “cái định nghĩa
tuyệt vời về người cộng sản ấy có thể coi chính là
định nghĩa về người trí thức” trong bài viết nhan đề
“dắt tay nhau đi dưới những tấm biển chỉ đường của
trí tuệ”. Dĩ nhiên sau nhiều năm biến đổi, nhận định
của ông ta bây giờ có thể sẽ hoàn toàn khác biệt. Thí
dụ đó chẳng qua chỉ để nhấn mạnh cái ảnh hưởng của
“lăng kính tôn giáo hoặc ý thức hệ” của mỗi cá nhân
trên sự nhận định về các sự kiện mà thôi.
3. Xu hướng tiến hoá của nhân
loại: đưa tôn giáo hoặc ý thức hệ ra khỏi chính quyền.
Hiện nay trong nhiều nước trên
thế giới chính quyền còn mang mầu sắc tôn giáo hoặc ý
thức hệ về hình thức, nhưng thực tế là chế độ phong
kiến kiểu mới với các đặc điểm cố hữu của chế độ
phong kiến: độc tài, tham nhũng v.v…Nhưng trong một số nước
tiên tiến, người ta đã có thể đưa tôn giáo và ý thức
hệ ra khỏi chính quyền, và thực hiện được mơ ước từ
ngàn xưa của nhân loại: ý dân là ý trời.
Tôn giáo với mục đích ban đầu
là đem lại hạnh phúc cho nhân loại, sau khi phát triển thành
tổ chức đã dần dần có những nhu cầu về quyền hạn để
điều hành tổ chức, càng nhiều quyền hạn thì tổ chức
càng dễ phát triển. Từ giáo quyền, người ta nhẩy sang chính
quyền để lấy tài sản của nhân dân phục vụ cho tổ chức
mình. Chính “quyền hạn” đã làm cho tôn giáo xa rời dần
mục đích ban đầu: “đem lại hạnh phúc cho nhân loại”
để dần dần biến thành một tổ chức chính trị, lấy giáo
điều để khống chế giáo dân, lấy những hình thức phong
kiến cai trị nhân dân để dành đặc quyền đặc lợi cho
một thiểu số phục vụ cho tổ chức ! Quyền hạn là một
“ma lực” có khả năng hủ hoá và làm biến chất con người
từ anh minh thành u tối, từ đạo đức thành tàn bạo. Các
tổ chức cuả các tôn giáo cũng không thoát khỏi sự biến
chất ấy.
Triết lý hoặc ý thức hệ trên
căn bản là sự suy nghĩ một cách khoa học về tính chất
và những nguyên nhân tạo nên vũ trụ, con người, xã hội.
Với ý nghĩa đó, triết lý có mục đích phong phú hoá trí
tuệ của nhân loại. Nhưng trong bất cứ hệ thống triết
lý nào người ta cũng tìm cách phân biệt cái sai với cái
đúng. Từ sự phân biệt đó, người ta có xu hướng tìm cách
sửa chữa để đi từ sai đến đúng, chẳng hạn như trong
triết lý Khổng Mạnh, người ta thường nói:
“Từ vua đến dân đều phải lấy
việc tu thân làm gốc”.
Nếu chúng ta sửa lại cho phù hợp
với thời đại ngày nay: “ai ai cũng phải lấy việc tu thân
làm gốc” thì đa số trong chúng ta vẫn có thể coi đó là
“khuôn vàng thước ngọc” cho bản thân mình.
Nhưng chỉ áp dụng cho bản thân
mình thì mới đúng, chứ đem áp đặt cho xã hội thì lại
rất nguy hiểm, vì cách tu thân mỗi người khác nhau, kẻ có
quyền hạn trong tay sẽ áp đặt khắt khe cách tu thân cho người
khác, chẳng hạn như bọn Taliban bắt đàn bà che mặt mới
là tu thân ! v.v…
Triết lý Các Mác cũng đặt nặng
vấn đề tu thân: “tự cải tạo mình”. Nhưng lại muốn
áp đặt cho người khác: “để cải tạo thế giới”. Chính
vì phần sau đó mà những người đi theo chủ nghĩa Mác đã
gieo rắc kinh hoàng cho nhân loại trong thế kỷ vừa qua ! Sau
khi đã cướp được chính quyền, ý định tốt lúc đầu
của những người đó đã dần dần biến thành “cải tạo
thế giới để phục vụ cho ý thức hệ của phe mình”. Và
sau đó “ma lực” của quyền hạn đã hủ hoá và làm biến
chất họ từ anh minh thành u tối, từ đạo đức thành tàn
bạo, từ “cải tạo bản thân” thành “hành hạ kẻ thù
dưới danh nghĩa cải tạo”. Với thời gian lâu dài để bảo
vệ quyền hạn, họ quay ra cải tạo những người cùng ý
thức hệ bằng cách đưa vào nhà thương điên hay đưa về
bên kia thế giới !!!
Trong các nước tiên tiến ngày nay,
người ta nhận định được sự nguy hiểm của quyền hạn
nên người ta đã dần dần đưa được tôn giáo và ý thức
hệ ra khỏi chính quyền, người ta cũng dần dần tiêu vong
hoá được chính quyền, một ước vọng lớn nhất của Các
Mác trong thiên đường cộng sản !
4. Dắt tay nhau đưa tôn giáo và
triết lý trở lại điạ vị cao qúy của nó.
Sự tiến bộ của khoa học và kỹ
thuật đã đem lại cơm no áo ấm cho loài người, đã thoả
mãn được rất nhiều nhu cầu vật chất của con người.
Nhưng khoa học và kỹ thuật không đủ để mang lại hạnh
phúc cho con người. Chỉ có tôn giáo hoặc triết lý mới có
thể thoả mãn những nhu cầu của tâm hồn con người. Nói
một cách khác, tôn giáo cũng như triết lý đóng một vai trò
vô cùng quan trọng và cao qúy cho nhân loại.
Từ địa vị cao qúy đó, nhiều
phần tử lãnh đạo của “tôn giáo hoặc ý thức hệ” đã
bị “quyền lực” đẩy xuống vực thẳm của tội lỗi.
Họ đã làm cho những chiếc áo thầy tu nhuộm máu ! làm cho
giáo dân mất những niềm tin, cảm thấy bơ vơ lạc lõng v.v…Giáo
dân chỉ còn biết cầu nguyện sao cho những người lãnh đạo
hối cải !!!
Nhiều thầy tu trong đó có những
thầy tu của “tôn giáo cộng sản” suốt đời sống khổ
hạnh, đạo đức để phục vụ một cách đắc lực nhất
cho những kẻ tội lỗi đó. Khi phát giác ra được những
tội lỗi thì hoang mang mất hướng, mất niềm tin, chỉ còn
biết cầu mong “đấng tối cao” hối lỗi !!!
Khi vĩnh biệt “ý thức hệ” cộng
sản năm 1995, Hà sĩ Phu vẫn còn ao ước: “nếu rồi đây
đảng cũng nghĩ như thế thì rất đáng mừng…” (Chia tay
ý thức hệ, phần 1). Người trí thức “xã hội chủ nghĩa”,
niềm hãnh diện của triết học Việt Nam, khi vĩnh biệt “ý
thức hệ” vẫn còn mong muốn “đấng tối cao” hối lỗi,
thì người dân thường chắc chỉ biết cầu nguyện. Nhưng
trên thực tế nhân dân rất là sáng suốt, họ chủ trương
“đi đạo (kể cả đạo cộng sản) để có gạo mà ăn”,
cứ tiếp tục phấn đấu vô đoàn vô đảng để có tí quyền
hạn mà tham nhũng, vẫn giữ vững lập trường “khẩu cộng
sản, tâm tham nhũng”, vì vậy “đấng tối cao” càng kêu
gọi chống tham nhũng thì tình trạng tham nhũng lại càng phát
triển hơn ! Chỉ có mấy ông trí thức chống đối là đi
tù, vợ con bị đầy đọa, đói khổ v.v…
Muốn tôn giáo và triết lý trở
lại địa vị cao qúy của nó, phải chăng chúng ta chỉ có
một con đường duy nhất là đưa tôn giáo và triết lý ra
khỏi chính quyền. Dĩ nhiên trên con đường đó chúng ta cần:
- tôn trọng tôn giáo của người
khác
- tôn trọng ý thức hệ của người
khác
- tôn giáo hay ý thức hệ của
mỗi cá nhân phải được coi như tài sản tinh thần của cá
nhân đó, phải được bảo vệ giống như những tài sản
vật chất của cá nhân đó, không một chính quyền nào, không
một đoàn thể xã hội nào được xâm phạm.
Một khi loại bỏ được quyền
hạn ra khỏi tôn giáo, ra khỏi triết lý thì tôn giáo sẽ
đem lại hạnh phúc cho con người, triết lý sẽ phong phú hoá
tâm hồn của con người. Chiếc áo thầy tu khi đó mới thực
sự trở thành cao qúy. Thầy tu và triết gia không vướng mắc
“quyền hạn” mới thực sự là kẻ lãnh đạo của tâm
hồn.
Phó Thường Dân
Tháng 8 năm 2002
|