Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone+Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Người Quan Sát  - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Phượng Hoàng - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Hoa Sơn Kiếm - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Ngàn Giọt Lệ Rơi
Nguyễn Thanh Hoàng
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài  Mới  Nhất
CON VỊT


.

Tác giả Trần Gia Phụng.
In lần thứ 2 - 28CAN$/22US$


Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh - Tái bản lần 2.
35CAN$/25US$ *

* Giá bán kể cả cước phí.
Liên lạc: NS Việt-Nam.


 Sáng Tác Của Phó Thường Dân

Chiếc áo thầy tu

1. Quan điểm về thầy tu.

Nói đến kẻ tu hành trong bất kỳ tôn giáo nào, đa số giáo dân đều nghĩ đến hình ảnh một người sống đạo đức, khổ hạnh, tuân theo nhiều giới luật. Họ thường cho rằng người tu hành hy sinh thân mình để mang lại hạnh phúc cho mọi người. Những điều cấm kỵ cho kẻ tu hành thay đổi tùy theo từng tôn giáo, từng giáo hội, từng địa phương, nhưng nói chung là những điều lệ tương đối khắt khe mà người thường không giữ được. Vì vậy giáo dân thường đánh giá các kẻ tu hành qua sự chấp hành những điều lệ khắt khe đó.

Vì hình ảnh đạo đức của kẻ tu hành nên có nhiều người lợi dụng hình ảnh đó, bằng cách khoác aó thầy tu để đạt được sự tín nhiệm của quần chúng với mục đích thực hiện những mưu đồ của họ, chẳng hạn như người ta thường cảnh giác:

Chiếc áo không làm thành thầy tu.

Với sự tiến bộ của khoa học, tầm hiểu biết của con người được mở rộng, giáo dân thấy không phải chỉ có tôn giáo của mình là duy nhất mà còn có nhiều tôn giáo khác, nhiều ý thức hệ khác. Hình ảnh kẻ tu hành trong tôn giáo của mình thì không thay đổi nhiều so với ngày xưa, nhưng đối với kẻ tu hành của tôn giáo khác thì nhiều người lại coi như những mụ phù thủy quái ác, đang tìm cách đe doạ hạnh phúc của họ ! Vì vậy khi tranh dành quyền lợi vật chất, các phe nhóm trong xã hội hay trên thế giới thường lợi dụng sự hiểu lầm này để giáo dục căm thù, để động viên tinh thần hy sinh của giáo dân v.v…

Cũng có người chủ trương ba phải: tôn giáo nào cũng dậy dỗ con người làm điều lành, tránh điều ác nên tôn giáo nào cũng tốt cả ; và trong hành động thì họ chủ trương cứ cái gì có lợi thì làm chẳng hạn như “đi đạo để có gạo mà ăn”.

2. Tôn giáo và hạnh phúc của con người.

Trước những sự khó khăn vô vàn trong cuộc sống, con người thường không thể tự tìm ra câu giải đáp ; sự thắc mắc làm cho con người lo âu bồn chồn, không cảm thấy hạnh phúc.

Ngày xưa, khi chưa giải thích được bằng khoa học tại sao có gió thì người ta chấp nhận “gió là do thần gió tạo ra”. Từ sự giải thích đó, khi cần có nước để cầy cấy thì người ta cầu khẩn “thần mưa”. Mấy ngàn năm trước, sự phát triển của khoa học cũng như sự phát triển các ý thức hệ của loài người dần dần dẫn đến sự hình thành các tôn giáo cũng như sự hình thành các hệ thống triết lý.

Con người thường dùng tôn giáo để giải thích tất cả mọi sự khó khăn trên đời, mọi câu hỏi trong trí tưởng tượng, mọi vấn đề mà khoa học đương thời chưa giải quyết được. Sự giải thích này thường được giao phó cho các nhà tu hành và thường dựa trên niềm tin của giáo dân. Các hệ thống triết lý cũng giải thích các sự kiện đó, nhưng không thông qua các nhà tu hành mà qua những tirết gia, những nhà lý luận, những nhà giáo v.v…Vì vậy, người ta thường lầm các hệ thống triết lý với các tôn giáo. Chẳng hạn như nho giáo và triết lý Khổng Mạnh, triết lý của Phật và Phật giáo v.v…

Sự giải thích đó giúp cho con người sống có mục đích hoặc có lý tưởng, giúp cho con người tự chế ngự được những ước muốn tội lỗi, giúp cho con người có nghị lực hơn, có những hành động từ bi bác ái,v.v… Nói một cách khác, tôn giáo có thể tạo ra hạnh phúc cho con người.

Nhưng khi thực tế cuộc sống trở nên quá phức tạp, vượt ra ngoài tầm giải thích của các tôn giáo, thì niềm tin của các giáo dân bị lung lay. Các giáo điều của các tôn giáo thường có tính cách “khuôn vàng thước ngọc” dần dần trở thành không còn phù hợp với trình độ khoa học cũng như trình độ phát triển của xã hội. Từ mục đích tạo hạnh phúc cho con người, các giáo điều dần dần trở thành những nhà tù vô hình giam hãm tâm hồn con người, ngăn trở sự tiến hoá thiên nhiên của nhân loại.

Tôn giáo nào cũng có những người tuyệt đối trung kiên, sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ tôn giáo của mình. Sau khi hy sinh, những người đó thường được giáo dân coi như là những “thánh tử vì đạo”. Nhưng xã hội loài người lại bao gồm rất nhiều tôn giáo, rất nhiều ý thức hệ khác nhau. Khi sự khác biệt tôn giáo hoặc ý thức hệ trở nên quá gay gắt thì biến thành chiến tranh và “thánh tử vì đạo” của tôn giáo hoặc ý thức hệ này lại trở thành “kẻ thù không đội trời chung” của tôn giáo khác hoặc ý thức hệ khác ! Chẳng hạn như những kẻ khủng bố đối với nhân dân Mỹ lại là những “thánh tử vì đạo” của những phần tử Hồi giáo quá khích.
 
3. Ý thức hệ và tôn giáo.

Hệ thống triết lý hoặc ý thức hệ đã từng là sự suy nghĩ một cách khoa học về tính chất và những nguyên nhân tạo nên vũ trụ, con người, xã hội. Triết gia Các Mác muốn biến sự suy nghĩ đó thành sự cải tạo xã hội loài người.

Vì tính cách khoa học nên các hệ thống triết lý thường có tính cách lý luận dựa trên trình độ khoa học đương thời, trong khi đó tôn giáo thường có tính cách huyền bí, dựa trên những sự kiện siêu hình.

Theo Các Mác thì “tôn giáo là thuốc phiện của tâm hồn”. Vì vậy các giáo dân của các tôn giáo thường coi Các mác như ác qủy xuống trần để gieo tai hoạ cho loài người ! Trong khi đó những người đi theo chủ nghĩa Mác lại coi Mác như một người vô cùng nhân đạo, đã tìm ra đường lối để cứu rỗi loài người, để giải phóng những người nô lệ khỏi tay bọn bóc lột !

Nhưng những người đi theo chủ nghĩa Mác sau khi vận động quần chúng để cướp được chính quyền, lại biến chủ nghĩa Mác thành một thứ giáo điều, tương tự như những giáo điều của các tôn giáo khác, mang tính cách “khuôn vàng thước ngọc”, mang tính cách của chân lý bất di bất dịch !

Muốn áp đặt những “khuôn vàng thước ngọc” đó vào quần chúng nhân dân, tôn giáo mới mang tên “tôn giáo cộng sản” cũng cần những thầy tu kiểu mới, với cuộc sống đạo đức, khổ hạnh kiểu mới, mang tên đạo đức cách mạng. Tôn giáo ấy cũng muốn dùng tài sản của nhân dân để đào tạo các thầy tu, các chiến sĩ bảo vệ tôn giáo: đào tạo “con người xã hội chủ nghĩa”!

Phương tây thì Các Mác là người đầu tiên muốn đem triết lý để cải tạo xã hội loài người. Nhưng ở phương đông thì triết lý Khổng Mạnh đã làm việc đó từ mấy ngàn năm trước ! Triết lý này cũng đã biến thành một loại tôn giáo : nho giáo. Các thầy tu của tôn giáo này là những người học chữ nho mà nhân dân phải gọi là “chữ thánh hiền”. Các thầy tu này khi cai trị nhân dân cũng luôn luôn lấy cuộc sống đạo đức, thanh liêm làm kim chỉ nam. Nhưng thực tế cuộc sống đã làm cho một số các thầy tu này lấy đạo đức giả thay thế cho đạo đức thật. Câu chuyện tiếu lâm về vị quan thanh liêm ngày xưa giúp ta hiểu rõ hơn sự chuyển biến từ đạo đức thành đạo đức giả:

“Ngày xưa có một ông quan thanh liêm, suốt đời làm ‘cha mẹ nhân dân’ nhưng không bao giờ tham nhũng. Khi về già, hưu bổng không đủ sống, cơm không đủ ăn, áo không đủ ấm. Khi sự thiếu thốn đã ngoài mức chịu đựng của ông quan thanh liêm, bà vợ ông ta mới đem của để dành đi bán để sinh sống.

- Cả đời tận tâm làm việc bây giờ không đủ sống, bây giờ bà phải bán của hồi môn của bà để nuôi tôi, chắc kiếp sau tôi mới trả nợ bà được, ông quan tâm sự với vợ.

- Không phải của hồi môn của tôi đâu, bà vợ trả lời.

- Bà nói gì tôi không hiểu.

- Thì khi ông làm quan, có người phạm tội, gia đình họ năn nỉ tôi tìm cách xin ông tha tội. Hồi đó tôi nói ông tha người ta thì sẽ được hưởng phúc sau này. Sau khi kẻ phạm tội được tha, họ hỏi tôi ông tuổi gì ?

- Tại sao họ lại hỏi tuổi tôi, rồi bà nói sao ?

- Tôi nói ông tuổi tý ; thế là mấy hôm sau họ đem đến biếu tôi một con chuột bằng vàng ; bây giờ tôi lấy con chuột vàng đó ra bán để sinh sống, chứ đâu phải của hồi môn gì đâu !

Suy nghĩ một hồi lâu, ông quan nói với vợ:

- giá hồi đó bà nói tôi tuổi sửu thì bây giờ gia đình mình sung sướng biết bao !!!”

Câu chuyện có tính cách bôi bác nhưng cũng nói lên được phần nào sự thực mà những người đã thấm nhuần ý thức hệ nho giáo không thể nào chấp nhận. Biết bao nhiêu vị quan thanh liêm suốt đời cúc cung tận tụy phục vụ giáo điều như một thầy tu của tôn giáo “Nho giáo”, để bảo vệ ngai vàng cho một dòng họ, bất kể là minh quân hay bạo chúa !

Mấy ngàn năm sau triết lý Khổng mạnh, triết lý của Các Mác cũng chủ trương dùng triết lý để cải tạo xã hội. Những người đi theo chủ nghĩa Mác cũng biến triết lý Mác thành chủ nghĩa giáo điều, cũng đào tạo những thầy tu của tôn giáo mới. Cũng giống như “Nho giáo”, các thầy tu này khi cai trị nhân dân cũng luôn luôn lấy cuộc sống đạo đức, thanh liêm làm kim chỉ nam ; với danh từ mới “đạo đức cách mạng”. Nhưng quyền hành và đạo đức là hai thứ kỵ nhau như nước với lửa, nên đạo đức thoái hoá mau chóng thành đạo đức giả, và khi đó các thầy tu phải dùng ngụy biện để tự dối lòng và dối giáo dân.

Trong các nước lấy chủ nghĩa Mác làm kim chỉ nam cho mọi hành động thì các thầy tu của “tôn giáo cộng sản” , với danh nghĩa “chiến sĩ cộng sản”, thường được quần chúng coi là những người gương mẫu, luôn luôn tự cải tạo mình để cải tạo thế giới, luôn luôn sống đạo đức và khổ hạnh, luôn luôn hy sinh quyền lợi cá nhân cho sự nghiệp cách mạng. Chính vì niềm tin đó, phong trào cộng sản thế giới đã thu hút được hàng tỷ người, trước khi bị tan rã vào cuối thế kỷ vừa qua. Chính vì những niềm tin ấy, hàng triệu người đã làm việc hăng say, đã liều thân ôm bom xông vào phá đồn địch v.v…để xây dựng một thế giới đã vạch sẵn trong giáo điều !!!

Nhưng ở ngoài ý thức hệ đó, thì người ta lại coi những thầy tu của “tôn giáo cộng sản” là những mụ phù thủy tàn bạo nhất, không còn tình nhân loại, không có tình gia đình, không còn linh hồn nữa ! Nhất là đối với những nạn nhân của chế độ cộng sản thì chỉ nghe nói đến những thầy tu đó cũng đủ làm cho họ nổi giận.

Người ta thường cảm thấy hạnh phúc khi tiếp xúc với những người cùng tôn giáo, cùng niềm tin, cùng ý thức hệ. Và trong cuộc sống, ai ai mà chẳng mong muốn được hạnh phúc. Vì vậy ai ai cũng có xu hướng bênh vực những người cùng một niềm tin, cùng một ý thức hệ, cùng một văn hoá v.v…Nhưng một số người lại quá tích cực trong xu hướng đó, họ luôn luôn tìm cách chinh phục người khác đạo, khác niềm tin, khác ý thức hệ để những người đó đổi đạo, đổi niềm tin, đổi ý thức hệ. Sự chinh phục này đã đưa tới chiến tranh, đến sự tàn bạo, đến những tội ác v.v…Khi đo,ù tôn giáo đã xa rời cái mục đích ban đầu: đem lại hạnh phúc cho nhân loại ; ý thức hệ đã mất đi cái ý nghĩa căn bản: phong phú hoá trí tuệ con người !!!

Người ta cũng thường nhận định mọi sự việc qua cái lăng kính “tôn giáo hoặc ý thức hệ” của cá nhân mình. Vì vậy mọi nhận định của con người thường bị lệch hướng. Chẳng hạn như những thầy tu của “tôn giáo” cộng sản khi đọc lời giáo huấn của Lê Nin:

“chỉ có đem toàn bộ kho trí thức của nhân loại để làm giầu cho bộ óc của mình, chúng ta mới có thể trở thành người cộng sản” thì coi như lời giáo huấn của thánh hiền, coi như một chân lý vĩnh cửu v.v…

Nhưng đối với một người ở ngoài thế giới cộng sản thì thấy đó là một câu nói rỗng tuyếch, hoàn toàn vô lý và không tưởng, và có thể cho rằng người nói câu đó chứng tỏ có một kiến thức chật hẹp, coi toàn bộ kho kiến thức của nhân loại như cái đáy giếng của con ếch !!!

Nhưng nếu sống ở trong thế giới cộng sản thì đa số dù không phải là thầy tu của “tôn giáo” cộng sản cũng vẫn đánh giá rất cao câu nói đó. Lý do cũng tương đối đơn giản vì ảnh hưởng lớn lao của hệ thống giáo dục, của “ý thức hệ” của giai cấp thống trị trong quần chúng nhân dân. Chẳng hạn như Hà sĩ Phu, một trí thức “xã hội chủ nghĩa” của Việt Nam, một người mà nhiều người Việt Nam đã coi như là một niềm hãnh diện cho nền triết lý Việt Nam, năm 1988 đã nhận định về lời “giáo huấn” đó của Lê Nin như sau: “cái định nghĩa tuyệt vời về người cộng sản ấy có thể coi chính là định nghĩa về người trí thức” trong bài viết nhan đề “dắt tay nhau đi dưới những tấm biển chỉ đường của trí tuệ”. Dĩ nhiên sau nhiều năm biến đổi, nhận định của ông ta bây giờ có thể sẽ hoàn toàn khác biệt. Thí dụ đó chẳng qua chỉ để nhấn mạnh cái ảnh hưởng của “lăng kính tôn giáo hoặc ý thức hệ” của mỗi cá nhân trên sự nhận định về các sự kiện mà thôi.

3. Xu hướng tiến hoá của nhân loại: đưa tôn giáo hoặc ý thức hệ ra khỏi chính quyền.

Hiện nay trong nhiều nước trên thế giới chính quyền còn mang mầu sắc tôn giáo hoặc ý thức hệ về hình thức, nhưng thực tế là chế độ phong kiến kiểu mới với các đặc điểm cố hữu của chế độ phong kiến: độc tài, tham nhũng v.v…Nhưng trong một số nước tiên tiến, người ta đã có thể đưa tôn giáo và ý thức hệ ra khỏi chính quyền, và thực hiện được mơ ước từ ngàn xưa của nhân loại: ý dân là ý trời.

Tôn giáo với mục đích ban đầu là đem lại hạnh phúc cho nhân loại, sau khi phát triển thành tổ chức đã dần dần có những nhu cầu về quyền hạn để điều hành tổ chức, càng nhiều quyền hạn thì tổ chức càng dễ phát triển. Từ giáo quyền, người ta nhẩy sang chính quyền để lấy tài sản của nhân dân phục vụ cho tổ chức mình. Chính “quyền hạn” đã làm cho tôn giáo xa rời dần mục đích ban đầu: “đem lại hạnh phúc cho nhân loại” để dần dần biến thành một tổ chức chính trị, lấy giáo điều để khống chế giáo dân, lấy những hình thức phong kiến cai trị nhân dân để dành đặc quyền đặc lợi cho một thiểu số phục vụ cho tổ chức ! Quyền hạn là một “ma lực” có khả năng hủ hoá và làm biến chất con người từ anh minh thành u tối, từ đạo đức thành tàn bạo. Các tổ chức cuả các tôn giáo cũng không thoát khỏi sự biến chất ấy.

Triết lý hoặc ý thức hệ trên căn bản là sự suy nghĩ một cách khoa học về tính chất và những nguyên nhân tạo nên vũ trụ, con người, xã hội. Với ý nghĩa đó, triết lý có mục đích phong phú hoá trí tuệ của nhân loại. Nhưng trong bất cứ hệ thống triết lý nào người ta cũng tìm cách phân biệt cái sai với cái đúng. Từ sự phân biệt đó, người ta có xu hướng tìm cách sửa chữa để đi từ sai đến đúng, chẳng hạn như trong triết lý Khổng Mạnh, người ta thường nói:

“Từ vua đến dân đều phải lấy việc tu thân làm gốc”.

Nếu chúng ta sửa lại cho phù hợp với thời đại ngày nay: “ai ai cũng phải lấy việc tu thân làm gốc” thì đa số trong chúng ta vẫn có thể coi đó là “khuôn vàng thước ngọc” cho bản thân mình.

Nhưng chỉ áp dụng cho bản thân mình thì mới đúng, chứ đem áp đặt cho xã hội thì lại rất nguy hiểm, vì cách tu thân mỗi người khác nhau, kẻ có quyền hạn trong tay sẽ áp đặt khắt khe cách tu thân cho người khác, chẳng hạn như bọn Taliban bắt đàn bà che mặt mới là tu thân ! v.v…

Triết lý Các Mác cũng đặt nặng vấn đề tu thân: “tự cải tạo mình”. Nhưng lại muốn áp đặt cho người khác: “để cải tạo thế giới”. Chính vì phần sau đó mà những người đi theo chủ nghĩa Mác đã gieo rắc kinh hoàng cho nhân loại trong thế kỷ vừa qua ! Sau khi đã cướp được chính quyền, ý định tốt lúc đầu của những người đó đã dần dần biến thành “cải tạo thế giới để phục vụ cho ý thức hệ của phe mình”. Và sau đó “ma lực” của quyền hạn đã hủ hoá và làm biến chất họ từ anh minh thành u tối, từ đạo đức thành tàn bạo, từ “cải tạo bản thân” thành “hành hạ kẻ thù dưới danh nghĩa cải tạo”. Với thời gian lâu dài để bảo vệ quyền hạn, họ quay ra cải tạo những người cùng ý thức hệ bằng cách đưa vào nhà thương điên hay đưa về bên kia thế giới !!!

Trong các nước tiên tiến ngày nay, người ta nhận định được sự nguy hiểm của quyền hạn nên người ta đã dần dần đưa được tôn giáo và ý thức hệ ra khỏi chính quyền, người ta cũng dần dần tiêu vong hoá được chính quyền, một ước vọng lớn nhất của Các Mác trong thiên đường cộng sản !

4. Dắt tay nhau đưa tôn giáo và triết lý trở lại điạ vị cao qúy của nó.

Sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật đã đem lại cơm no áo ấm cho loài người, đã thoả mãn được rất nhiều nhu cầu vật chất của con người. Nhưng khoa học và kỹ thuật không đủ để mang lại hạnh phúc cho con người. Chỉ có tôn giáo hoặc triết lý mới có thể thoả mãn những nhu cầu của tâm hồn con người. Nói một cách khác, tôn giáo cũng như triết lý đóng một vai trò vô cùng quan trọng và cao qúy cho nhân loại.

Từ địa vị cao qúy đó, nhiều phần tử lãnh đạo của “tôn giáo hoặc ý thức hệ” đã bị “quyền lực” đẩy xuống vực thẳm của tội lỗi. Họ đã làm cho những chiếc áo thầy tu nhuộm máu ! làm cho giáo dân mất những niềm tin, cảm thấy bơ vơ lạc lõng v.v…Giáo dân chỉ còn biết cầu nguyện sao cho những người lãnh đạo hối cải !!!

Nhiều thầy tu trong đó có những thầy tu của “tôn giáo cộng sản” suốt đời sống khổ hạnh, đạo đức để phục vụ một cách đắc lực nhất cho những kẻ tội lỗi đó. Khi phát giác ra được những tội lỗi thì hoang mang mất hướng, mất niềm tin, chỉ còn biết cầu mong “đấng tối cao” hối lỗi !!!

Khi vĩnh biệt “ý thức hệ” cộng sản năm 1995, Hà sĩ Phu vẫn còn ao ước: “nếu rồi đây đảng cũng nghĩ như thế thì rất đáng mừng…” (Chia tay ý thức hệ, phần 1). Người trí thức “xã hội chủ nghĩa”, niềm hãnh diện của triết học Việt Nam, khi vĩnh biệt “ý thức hệ” vẫn còn mong muốn “đấng tối cao” hối lỗi, thì người dân thường chắc chỉ biết cầu nguyện. Nhưng trên thực tế nhân dân rất là sáng suốt, họ chủ trương “đi đạo (kể cả đạo cộng sản) để có gạo mà ăn”, cứ tiếp tục phấn đấu vô đoàn vô đảng để có tí quyền hạn mà tham nhũng, vẫn giữ vững lập trường “khẩu cộng sản, tâm tham nhũng”, vì vậy “đấng tối cao” càng kêu gọi chống tham nhũng thì tình trạng tham nhũng lại càng phát triển hơn ! Chỉ có mấy ông trí thức chống đối là đi tù, vợ con bị đầy đọa, đói khổ v.v…

Muốn tôn giáo và triết lý trở lại địa vị cao qúy của nó, phải chăng chúng ta chỉ có một con đường duy nhất là đưa tôn giáo và triết lý ra khỏi chính quyền. Dĩ nhiên trên con đường đó chúng ta cần:

- tôn trọng tôn giáo của người khác
- tôn trọng ý thức hệ của người khác
- tôn giáo hay ý thức hệ của mỗi cá nhân phải được coi như tài sản tinh thần của cá nhân đó, phải được bảo vệ giống như những tài sản vật chất của cá nhân đó, không một chính quyền nào, không một đoàn thể xã hội nào được xâm phạm.

Một khi loại bỏ được quyền hạn ra khỏi tôn giáo, ra khỏi triết lý thì tôn giáo sẽ đem lại hạnh phúc cho con người, triết lý sẽ phong phú hoá tâm hồn của con người. Chiếc áo thầy tu khi đó mới thực sự trở thành cao qúy. Thầy tu và triết gia không vướng mắc “quyền hạn” mới thực sự là kẻ lãnh đạo của tâm hồn.

Phó Thường Dân
Tháng 8 năm 2002


Trang Bìa 
Ðầu trang