Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone&Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM: (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Nguyễn Thanh Hoàng
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài  Mới  Nhất
CON VỊT


Các tập thơ chiến đấu của 
Lê Khắc Anh Hào 
(và Ý Yên, Trần Thúc Vũ).

Sáng Tác Của
Phó Thường Dân

Chập chững đi theo bước chân Phật


1. Xung đột văn hóa.

Minh sinh ra trong lúc chiến tranh thế giới thứ hai sắp chấm dứt, tại một làng miền đồng bằng phía bắc nước Việt Nam. Chưa được mười tuổi, Minh đã phải vĩnh biệt quê hương, theo cha mẹ vào miền nam nước Việt. Sống trong một gia đình còn mang nặng nền đạo đức cổ truyền, Minh lớn lên trong nền giáo dục chỉ có bổn phận và trách nhiệm, một nền văn hóa còn mang nặng ảnh hưởng của Trung Hoa, lấy “trung hiếu” làm đầu. Chữ “trung” có nghĩa là trung thành với vua thì đã bắt đầu phai lạt dần sau khi Bảo Ðại bị truất phế. Chữ “hiếu” thì Minh vẫn còn được cha dùng cuốn sách “nhị thập tứ hiếu” để giảng dạy. Trong sách đó có một chuyện rất đau thương: có một đứa bé bị cha mẹ giết đi để có đủ cơm nuôi mẹ của họ! Và cái nền văn hóa thời đó tuyên dương “anh hùng!” cho kẻ sát nhân, với mục đích làm “gương sáng!” cho ngàn đời con cháu mai sau!

Minh được giáo dục để sống như một đứa trẻ sinh ra trong một gia đình “gia giáo”, phải kính trọng cha mẹ, anh chị, thầy cô giáo và tất cả những người lớn tuổi hơn, không cần phân biệt phải hay trái, đúng hay sai. Và để thực hiện muôn ngàn bổn phận và trách nhiệm đó thì Minh có những điều kiện:

- Về vật chất: ăn uống thiếu dinh dưỡng trầm trọng, quần áo, giầy dép giống như khất sĩ.

- Về tinh thần: cấm đọc báo, cấm nghe truyền thanh, cấm sống vui vẻ như những người bình thường, cấm cười nói ồn ào v.v...

Lớn lên trong một hoàn cảnh vật chất và tinh thần bệnh hoạn, Minh chỉ nhìn thấy một con đường duy nhất là “học gạo” để thoát cảnh nghèo hèn. Sự học được quan niệm một cách sai lầm trầm trọng, không phải là để mở mang kiến thức, không phải là để gia tăng năng suất lao động, mà chỉ là cái “cần câu cơm”, học để hy vọng “làm quan” (theo quan điểm của những người chống chính quyền thì “quan là cướp ngày”), được xã hội và luân lý xã hội thời đó ca ngợi!

Nhưng trong cái phúc luôn luôn ẩn tàng cái họa, và trong cái họa thì lại có sự hiện diện của cái phúc; trong cái sai lại có phần thuận lợi. Xuất phát từ quan điểm sai lầm nhưng sự “học gạo” đã đem lại cho Minh sự hiểu biết về khoa học để phân biệt đâu là đúng, đâu là sai. Sự thành công trong việc học đã giúp Minh thoát ra khỏi giai cấp nghèo hèn. Vừa ngoi lên khỏi vũng bùn sau mười mấy năm “học gạo”, biến cố tháng tư năm 1975 ở miền nam Việt Nam lại đưa Minh trở lại vực thẳm: Minh thuộc thành phần trí thức trong xã hội cũ cần phải được “đào tận gốc, trốc tận rễ”, cần đưa vào trại cải tạo (đại học máu), một cái tên mỹ miều cho những nhà tù mà tù nhân không phải là thường phạm, và thời hạn tù thì không biết đến bao giờ!

Thế là từ nền văn hóa ở miền nam Việt Nam trước năm 1975, một nền văn hóa chịu ảnh hưởng của ba nền văn hóa: văn hóa cổ của Trung Quốc (tượng trưng bằng cuốn sách “nhị thập tứ hiếu”), văn hóa thuộc địa của thực dân Pháp, văn hóa thực dụng của Mỹ; bây giờ Minh cũng như mọi người dân ở miền nam nước Việt bị áp đặt một nền văn hóa mới: “trung với đảng, hiếu với dân”.

Nhưng trong cái họa nào mà không ẩn tàng cái phúc. Trong cái nền văn hóa mới bị áp đặt, Minh có dịp tìm hiểu thêm về triết học của Các Mác, một thứ quốc cấm trước năm 1975 ở miền nam. Theo sự học hỏi của Minh thì duy vật biện chứng là một vũ khí lý luận vô cùng sắc bén, với sự vận dụng hai quy luật căn bản của mọi diễn tiến về vạn vật trong thiên nhiên: “phủ định của phủ định” và “những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất”. Theo sự tìm hiểu của Minh thì quy luật “phủ định của phủ định” cũng tương tự như nhận định “sắc sắc không không” của Phật giáo, nhưng có tính cách khoa học hơn, chủ động hơn. Minh cũng có cảm giác lờ mờ về sự bế tắc của lý luận “duy vật lịch sử” của Các Mác. Sự tìm hiểu về triết lý làm Minh nhớ lại kỷ niệm hồi năm 1960, khi theo học lớp đệ nhất (tương đương lớp 12 sau này) ở trường Chu Văn An tại Sàigòn, giáo sư dậy về triết học của Minh là một linh mục. Học sinh trong lớp chẳng ai hiểu nổi giáo sư nói gì, chỉ nhớ láng máng giáo sư phê bình mọi tôn giáo và ca tụng Thiên Chúa giáo, biến giờ học triết thành giờ truyền đạo. Vì không thể nào hiểu nổi giáo sư môn triết của trường Chu Văn An giảng gì, Minh phải ghi tên học tư môn triết học của giáo sư Trần Bích Lan tức thi sĩ Nguyên Sa. Lớp học đông nghẹt hàng trăm học sinh im phăng phắc, chăm chú nghe giáo sư giảng. Lâu lâu giáo sư pha trò, cả lớp cười vang như sấm, mọi học sinh đều phấn khởi vì hiểu được những bài vỡ lòng về triết lý. Sau năm 1975, khi tự nghiên cứu triết lý Các Mác, Minh rất thích thú khi đọc được sự khám phá của Mác: đa số các hệ thống triết lý, tôn giáo chỉ tìm cách rắc rối hóa mọi việc bằng những từ ngữ khó hiểu và không thông dụng để che giấu những mong muốn thật sự của họ: áp đặt những niềm tin cố định của họ trên các độc giả!

Thực tế cuộc sống của nhân dân miền nam sau tháng tư 1975 là con đường đi xuống vực thẳm thật dài và thật đau thương. Vài năm sau, Minh đi theo lớp người vượt biên tìm cách thoát khỏi quê hương yêu dấu. Trước năm 1975, Minh đã từng xuất ngoại trong các chương trình du hành quan sát, Minh chưa bao giờ nghĩ đến việc ở lại nước ngoài, luôn luôn mong ngày trở về quê hương; nhưng bây giờ đối với nhân dân, quê hương lại trở thành nhà tù khổng lồ nên hàng triệu người đã phải chấp nhận tất cả để ra đi vĩnh biệt quê hương, giống như nàng Kiều buông trôi cho định mạng:

Cũng liều nhắm mắt đưa chân
Thử xem con tạo xoay vần đến đâu.
Minh còn nhớ khuôn mặt hớn hở của anh Tư, hàng xóm của Minh, khi nghe tin quân Trung Cộng, vừa là đồng chí, vừa là anh em của các “đỉnh cao trí tuệ”, tràn qua tấn công các tỉnh ở miền bắc Việt Nam:

- Thấy các “người vừa là đồng chí vừa là anh em” chém giết nhau tôi mừng quá anh Minh ơi, Tư vừa nói vừa nhìn quanh để phòng hờ bóng dáng công an khu vực. Hồi Trung Cộng tấn công Trường Sa trước năm 1975, tôi căm thù bọn xâm lược, tôi xin tình nguyện ra chiến trường để tiêu diệt bọn xâm lăng, vậy mà bây giờ tôi lại mừng khi có quân xâm lăng.

- Nhưng khổ nỗi chỉ những người dân lương thiện lại bị hy sinh cho cuộc chiến phi lý, Minh từ tốn đáp lời.

Số Minh còn đắm chìm trong vực thẳm, sau nhiều lần bị bọn lưu manh lừa gạt, Minh lại rơi vào “địa ngục của trần gian”. Khi ra khỏi địa ngục, Minh không còn con đường nào khác, tiếp tục đi vào cõi chết. Nhưng khi đã tới đường cùng: chiếc thuyền vượt biên bé cỏn con trong đó có Minh, chỉ dài chừng mười thước, không còn la bàn, lạc lõng giữa Thái Bình Dương, vun vút lao vào cơn bão lớn; thì Minh lại được tầu chở hàng của Á Căn Ðình vớt. Người thuyền trưởng Á Căn Ðình, mặc dầu nhiều trở ngại khó khăn về tài chánh khi vớt người tỵ nạn, đã quyết định vớt đám người khốn khổ đang đi vào cõi chết. Minh nhớ mãi cái tình nhân loại bao la của người thuyền trưởng.

Minh được đi định cư ở Canada. Còn mang nặng ảnh hưởng của nền văn hóa trọng bằng cấp, Minh lại tiếp tục nghề “học gạo” để vươn lên. Nhưng Canada là một xứ kỹ nghệ hóa cao nên nghề “học gạo” của Minh không có đất dụng võ, chỉ giúp Minh có một việc làm ổn định với đồng lương “ba cọc ba đồng”.

Sự khác biệt về văn hóa làm cho cuộc sống tinh thần của Minh cũng gặp nhiều sóng gió. Xuân, con Minh, lớn lên ở Canada, được giáo dục ở trường ngược lại với sự giáo dục trong gia đình. Khi Xuân học lớp ba bậc tiểu học được cô giáo dậy dỗ là không được nói dối.

- Hôm nay cô giáo dậy con không được nói dối bố ạ, Xuân khoe bố về kiến thức của mình.

- Ðối với người lương thiện thì mình không được nói dối, nhưng đối với kẻ nói dối mình thì mình phải nói dối, chứ không thì mình là kẻ ngu con ạ, Minh giảng giải cho con với một sự tự tin tuyệt đối vào bản lãnh của cá nhân mình.

- Nhưng cô giáo bảo là “Thượng Ðế” bảo vậy, và tất cả mọi người phải tuân theo.

- Bây giờ con còn nhỏ, bố mới chính là thượng đế của con, ai nói dối con, bố cho phép con nói dối lại.

- Nhưng bố nói vậy là ngược lại lời dậy của cô giáo con, Xuân phản đối.

- Cô giáo con chỉ có nền văn hóa ở đây, bố được hấp thụ nhiều nền văn hóa. Ngay với nền văn hóa ở đây, cô giáo của con cũng chỉ là người dậy trẻ con ở tiểu học, trong khi đó bố lại đang dậy những người lớn ở đại học, thì thử hỏi ai đúng, ai sai.

Xuân đuối lý, nhưng trong lòng vẫn không phục mà lại cho bố là người kiêu căng, vô lối, dám tự cho mình là “Thượng Ðế”, sợ cãi cù nhầy có thể bị phạt, nên đành im lặng.

Minh cư ngụ tại một thành phố rất ít người Việt, bạn bè của Xuân toàn là người Pháp. Sự ảnh hưởng của bạn bè, trường học, môi trường sống càng ngày càng làm Xuân mất dần ảnh hưởng của cha mẹ. Cuộc sống ở Canada, trẻ con được quá nuông chiều nên đa số chỉ thích hưởng thụ, không cần biết gì đến cha mẹ, bà con , họ hàng; không cần kính trọng ai, nể vì ai. Càng chịu ảnh hưởng của bạn bè chung quanh thì Xuân càng cảm thấy xa cách bố, càng tận dụng sự nương chiều của mẹ để hưởng thụ, để sống một cách ích kỷ hơn.

Minh đã chấp nhận tất cả để ra đi cho con mình được sống trong tự do, để con mình có tương lai; nhưng Xuân càng lớn thì Minh càng có cảm giác là mình mất tất cả: con mình chỉ có bề ngoài là người Việt, còn tâm hồn thì hoàn toàn xa lạ, chỉ biết sống hưởng thụ như những đứa trẻ khác người bản xứ. Minh càng cố gắng giáo dục thì chỉ thấy con mình càng thù oán mình hơn! Có lúc Minh nhớ lại đã từng nghe ở Việt Nam các cụ ngày xưa có nói:

“Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”.

Cái quan điểm sai lầm đó chỉ làm cho mối quan hệ của vợ chồng Minh khó khăn hơn, và con Minh càng xa cách Minh hơn nữa.

Nhiều lúc Minh tự than tiếc cho thân phận mình, lúc bé thì sống trong xã hội đàn áp trẻ con, lớn lên thì chiến tranh, tù đầy, tủi nhục, lúc về già thì lại sống trong xã hội coi rẻ người già.

Nhưng trong cái họa nào cũng có ẩn tàng cái phúc.

2. Tìm đường giải thoát.

Bị dồn vào đường cùng, Minh tự nhủ mình đã đau khổ nhiều rồi và phải chấm dứt ngay những đau khổ dằn vặt vì gia đình, Minh nghĩ đến chuyện đức Phật ngày xưa đã gạt bỏ được mọi cảm xúc tiêu cực như: thù hận, giận hờn, buồn bã, lo âu, sợ hãi và Minh nghĩ đến những người xuống tóc đi tu để rũ bỏ mọi phiền muộn trong cuộc sống!

Nhưng Minh không phải là một Phật tử. Lúc còn bé, Minh được mẹ dẫn đi chùa một vài lần. Cha Minh tự nhận là người theo đạo Khổng nên thường công kích, phê phán các nhà sư cũng như thuyết luân hồi. Kiến thức của Minh về kinh kệ của Phật giáo là một con số không. Nhưng là người Việt Nam, Minh có cảm giác triết lý của Phật giáo đã thấm nhuần vào văn hóa của mình. Khi chính quyền Ngô Ðình Diệm đàn áp Phật giáo, Minh có cảm giác như bản thân mình bị đàn áp, nên hăng say tham gia biểu tình chống đối. Thời gian đó, Minh nghĩ rằng:

Vấn đề kiếp luân hồi, không nên bàn đến và nghĩ đến, vì cuộc sống hiện tại mình chưa giải quyết xong, tại sao lại nghĩ đến những chuyện ở ngoài tầm tay.

- Luật nhân quả chính là khoa học, là sự tìm kiếm các nguyên nhân thật sự của mọi hiện tượng thiên nhiên và xã hội.

- Những tiếng cầu kinh có thể làm dịu bớt những niềm đau quá sức chịu đựng của con người.

Nhưng Minh cũng chẳng có dịp may để học hỏi thêm về đạo Phật, vài vị “Sư” mà Minh biết hồi trước 1975 lại là những người đi tu để trốn quân dịch. Khi còn bé, mẹ Minh bảo Minh đọc kinh cho mẹ nghe thì Minh chỉ thấy toàn những lời vô nghĩa. Khi đã trưởng thành, Minh cũng có đọc vài cuốn sách viết về đạo Phật, nhưng Minh chỉ thấy là các tác giả thiếu trình độ văn hóa, viết bậy bạ, thiếu khoa học, đi ngược lại những gì mà Minh hiểu về đạo Phật. Nhưng Minh vẫn tin là có những cao tăng, có thể tự xóa bỏ những cảm xúc tiêu cực: thù hận, giận hờn, buồn bã, lo âu, sợ hãi, để sống một cuộc sống đại hùng, đại trí, đại từ bi. Và Minh cho rằng mình chưa có cơ duyên gặp gỡ những vị cao tăng.

Minh cũng được nghe kể chuyện về nhiều vị sư có tiếng tăm mà lại phạm rất nhiều giới luật của Phật giáo, lại sống thiếu đạo đức hơn cả những người dân thường lương thiện. Minh nghĩ đến các vị mục sư của đạo Tin Lành, vẫn có gia đình như người thường, mà vẫn có thể là những nhà lãnh đạo tinh thần đáng kính. Minh tự nhủ: đường hướng của đạo Phật là tìm cách tự giải thoát khỏi sự đau khổ chứ đâu phải là chịu đau khổ vì sự kiêng khem, nếu các nhà sư cũng lập gia đình như các mục sư Tin Lành thì vẫn có thể đắc đạo chứ sao.

Có lần Minh đọc được ở một truyện ngắn, một mẫu đối thoại giữa một chú tiểu và một cao tăng về bộ tranh mười bức vẽ mục đồng chăn trâu,

- Ðây là thập mục ngưu đồ, cũng là quá trình tu học của một con người. Trâu không là trâu mà chính là cái tâm ta đó; vị cao tăng giảng giải cho một chú tiểu.

- Bạch thầy, con xem bức vẽ cuối cùng, không còn trâu chẳng còn người, chỉ còn trăng soi. Vậy cớ gì phải sống trong dây trói. Ngày xưa Tuệ Trung Thượng Sĩ là bậc ngộ đạo mà không kiêng rượu thịt, vì chay mặn chỉ là hình tướng bên ngoài, không can hệ đến sự giác ngộ bên trong; chú tiểu kính cẩn hỏi sư phụ.

- Ðúng con ạ, với bậc đắc đạo là thế. Nhưng khi ta còn là một người phàm, thì cũng như con trâu kia, phải có sợi dây buộc, có người chăn dắt. Ðến khi cái tâm vững rồi, sáng rồi mới có thể như trâu đen thành trâu trắng, không ràng, không buộc, chẳng những nhởn nhơ trên cỏ xanh mà còn bay lên đến chín tầng mây.

Minh cảm thấy như chính mình được vị cao tăng giáo huấn. Nhưng đối với bản thân mình thì Minh cho rằng mọi sự kiêng khem, giữ gìn giới luật là không những không thích hợp, mà còn có thể là lãng phí hạnh phúc của đời mình.

Con Minh càng lớn thì càng xa cách Minh hơn, hố sâu cách biệt về tâm tư tình cảm cũng như cách suy nghĩ, lý luận càng ngày càng xa thăm thẳm. Ðối với bà con thân thuộc và bạn bè Minh cũng cảm thấy mình càng cố gắng cư xử tử tế, tình nghĩa với mọi người thì càng bị mọi người hiểu lầm, càng bị mọi người lợi dụng lòng tốt của Minh. Niềm tin sắt đá trong tâm hồn Minh: “ở hiền gặp lành” bắt đầu bị bật rễ!

Có lần Minh bảo lãnh thân nhân từ Việt Nam sang Canada, Minh phải đi vay tiền ở nhà băng với lãi suất 14% (năm 1991 lãi suất rất cao) để mua vé máy bay cho thân nhân. Minh lo lắng chu đáo vấn đề ăn ở cho thân nhân vì Minh đã khốn khổ nhiều trong lúc đầu bỡ ngỡ nơi đất khách quê người. Ngày đón thân nhân ở phi trường Minh bị bệnh gút (số lượng acid urique quá cao trong máu) hành, ngón chân cái của chân phải quá đau không đạp ga xe được, Minh phải dùng gót chân để đạp ga xe, lái xe một mình khoảng ba trăm cây số để đi đón thân nhân. Minh tự nghĩ mình phải cố gắng hết sức mình để giảm những khó khăn bước đầu của thân nhân nơi miền đất lạnh. Tất cả mọi cố gắng hết sức mình của Minh chỉ đem lại sự thù hận của thân nhân, làm cho Minh hoàn toàn tuyệt vọng, chỉ còn biết tự an ủi bằng một câu nói của người xưa: “cứu vật vật trả ơn, cứu nhơn, nhơn trả oán”

Nhân dịp tham dự một cuộc hội thảo về sức khỏe tinh thần ở văn phòng Minh làm việc, một chuyên viên tâm lý thuyết trình về những phương pháp để sống phù hợp với những hoàn cảnh đang thay đổi trong xã hội. Có ba phương pháp làm Minh vô cùng thích thú:

- Thay đổi những niềm tin cố định vì đó chính là những nguyên nhân gây ra những cảm xúc tiêu cực.

- Thay đổi diễn biến trong tư duy (cinéma intérieur) vì đó là nguyên nhân gây ra những âu lo vô ích có hại cho sức khỏe vật chất và tinh thần của bản thân mình.

Sử dụng những vận động sinh lý chẳng hạn như ca một bản nhạc hùng để làm thay đổi tình trạng tâm lý âu sầu thành phấn khởi của bản thân mình. Phương pháp này thì Minh đã tự áp dụng cho bản thân mình từ lâu, mỗi khi chùn lòng trước những khó khăn, Minh thường ngâm nga “đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, nhưng khó vì lòng người ngại núi e sông” của nhà cách mạng Nguyễn Bá Học.

Minh vô cùng phấn khởi về những kiến thức mới thu thập được. Những mâu thuẫn trong tâm hồn Minh càng ngày càng gay gắt, đã đẩy Minh đến một quyết định táo bạo, một ngả rẽ trong cuộc đời của Minh vào khoảng tháng tám năm 1999.

Mười mấy năm trước đó, Minh đã quyết định thôi hút thuốc lá, và chỉ một lần quyết định Minh không bao giờ hút thuốc lá nữa. Bây giờ Minh quyết định cắt đứt tất cả những cảm xúc tiêu cực và Minh hy vọng rằng mình sẽ thực hiện được. Minh thông báo cho vợ con mình biết,

- Bố quyết định từ nay cắt đứt mọi cảm xúc tiêu cực: thù hận, giận hờn, buồn bã, lo âu, sợ hãi.

- Như vậy bố thành Phật hay sao? Linh, con út của Minh, nêu câu hỏi.

- Hễ trong nhà ai thấy bố nổi giận hay lo âu sợ hãi thì bố cho một đồng, Minh hứa hẹn.

- Con có nhớ một câu chuyện, Quang, con trai Minh, tham gia ý kiến. Trong câu chuyện đó, người bố trong gia đình quyết định tìm cách chấm dứt những tiếng chửi thề. Mỗi lần chửi thề, ông ta bỏ một viên kẹo vào trong một cái hũ trống. Chỉ ít tháng sau mấy cái hũ đã đầy, và ông ta tiếp tục chửi thề.

- Rồi các con thấy, Minh tự tin trả lời, mỗi lần bố vi phạm thì ai được lãnh tiền ghi lại để xem trong một năm bố vi phạm bao nhiêu lần.

Mấy tuần sau, vợ chồng Tuyến tới thăm vợ chồng Minh,

- Anh Tuyến có biết không, tôi bây giờ tu rồi anh ạ, Minh khoe bạn về quyết định của mình.

- Nghĩ đến tu là dấu hiệu của sự già, Tuyến trả lời.

- Nhưng tôi không tu như các tu sĩ khác đâu, tôi vẫn ăn mặn, uống rượu, chơi xì phé còm với bè bạn. Tú Xương ngày trước thì chừa rượu với chừa trà, chứ tôi thì chủ trương chẳng chừa gì mấy thứ đó. Còn thứ mà Tú Xương chừa không nổi thì tôi thấy không những không nên chừa mà còn cần tăng cường thêm hoạt động vì tôi nghĩ những hoạt động đó có lợi cho sức khỏe thể chất và tinh thần. Tôi tu là tôi cắt đứt những cảm xúc tiêu cực, tạm gọi là chủ nghĩa “năm không”: không thù, không giận, không buồn, không lo, không sợ.

- Tôi mà có quyền trong tay thì tôi bắt tất cả những người chủ trương “năm không” đó sắp hàng rồi cho bắn chết hết cho bớt những ký sinh trùng của xã hội, Tuyến phát biểu ý kiến cá nhân một cách tàn bạo lạnh lùng.

Minh cười thật lớn, để lấn át thái độ điên khùng thù nghịch của Tuyến và để tự trấn an bản thân mình.

- Anh nói không giận, không buồn nữa nên tôi nói vậy để thử nghiệm, Tuyến ngập ngừng chữa thẹn trước những cái nhìn tò mò của vợ Minh và vợ Tuyến.

Nhưng cảm xúc là một hiện tượng thiên nhiên của con người. Cắt đứt cảm xúc chỉ có thể thực hiện được khi con người cắt đứt mọi hoạt động xã hội của mình, chẳng hạn như những tu sĩ hoàn toàn xa lánh chuyện trần gian. Trong khi đó Minh vẫn còn phải đi làm nuôi vợ con, còn phải đấu tranh với đời thì làm sao Minh làm nổi! Và ngay cả những quan hệ với vợ con hàng ngày cũng gặp nhiều khó khăn:

- Một đứa trẻ bị ngã đau, sẽ chờ đợi ở người cha những cảm xúc đặc biệt, khó có thể chấp nhận một người cha trơ như gỗ đá, không biết giận biết buồn!

- Xu hướng bình thường là trẻ con thích chơi hơn thích học, nếu người cha mà không còn xúc động thì làm sao dậy dỗ con cái cho có nề nếp được.

Và những diễn biến trong nội tâm của Minh lại càng hỗn loạn hơn, cảm xúc cũng giống như những bóng ma, chặt chỗ này thì xuất hiện ở chỗ khác, muôn hình muôn vẻ, càng đè nén thì càng có nguy cơ bị nổ tung, càng phủ nhận thì lại càng thấy nó hiển hiện ngay trước mắt!

Trước hoàn cảnh hoàn toàn bế tắc, Minh thay đổi chiến lược để có thể tồn tại. Thay vì cắt đứt mọi cảm xúc tiêu cực, Minh tìm cách để hóa giải chúng. Loay hoay tìm kiếm hết biện pháp này đến biện pháp khác để hóa giải các cảm xúc tiêu cực của bản thân mình, Minh bắt đầu viết ra những ý nghĩ của mình để giúp trí nhớ. Minh cũng đưa cho vợ con xem những gì mình đã viết ra để mọi người bình luận. Mọi người đều tìm cách lảng tránh, không muốn trả lời trực tiếp là không muốn đọc những gì Minh viết.

- Buồn hay giận thì là chuyện bình thường, việc gì bố phải bỏ, Quang , con trai Minh, khuyên bố trở lại cuộc sống bình thường như mọi người.

Nhưng Xuân, con gái lớn của Minh thì bực mình vì phải nghe những chuyện Minh nói về cách hóa giải các cảm xúc tiêu cực:

- Những chuyện bố viết, con đã đọc trong các sách cách đây mấy năm rồi, Xuân phê bình gay gắt.

Minh nghe lời gay gắt của Xuân như những tiếng chửi, tiếng sỉ nhục về sự điên rồ dại dột của mình. Nhưng đã hứa không giận không buồn nên Minh chỉ còn cách cười lớn để tự trấn tĩnh rồi ra khỏi nhà đi bách bộ cho dịu bớt những đau đớn tinh thần.

Minh cũng thông báo bằng internet cho các bạn cũ ở xa về việc sống một cuộc sống mới không còn các cảm xúc tiêu cực. Mọi người đều cho rằng Minh nói chuyện tào lao, có người gọi đùa Minh là “hòa thượng bất cai” trong truyện chưởng của Kim Dung, Minh cũng thầm nghĩ rằng thế nào cũng có đứa gọi Minh là “sư hổ mang!”.

Nhưng Minh vẫn tiếp tục tìm mọi phương sách để hóa giải các cảm xúc tiêu cực. Mấy tháng sau, Minh thấy mình tiến bộ khá nhiều, có chuyện gì buồn thì đã rút ngắn được thời gian buồn bã đến 50%, Minh càng tự tin hơn và tiếp tục thực hành mọi phương pháp hóa giải.

Một trong những phương pháp hóa giải là vận động thể chất để tạo những cảm súc tích cực nên Minh ghi tên học “thái cực quyền”. Minh ít năng khiếu về học võ nên lúc đầu cũng có khó khăn. Cười lớn đối với Minh cũng là một cách để hóa giải tức thời các cảm xúc. Hát to một vài câu hát cũng làm Minh hóa giải mau chóng một cảm xúc tiêu cực. Nhưng trong cái phúc nào cũng ẩn tàng cái họa, mỗi lần Minh cười lớn hay hát to là mọi người chung quanh lại hiểu lầm tưởng là Minh đang giận dỗi!

Có lần Xuân nói:

- Trong gia đình, ai cũng cảm thấy khó chịu khi bố hát, mọi người không dám nói ra vì thiếu can đảm nên con phải nói cho bố biết để bố sửa đổi!

Minh tự nhủ: “Thật là quá quắt! mình nhịn ăn nhịn tiêu để lo lắng cho gia đình, càng cố gắng lo lắng dậy dỗ con cái thì càng thấy bị oán hận. Có chuyện bực mình thì người khác la lối chửi bới, còn Minh thì chỉ ca hát để tự hóa giải mà cũng vẫn bị kết tội!” Có người chê Minh là ngu, không biết dậy dỗ con, nên khổ là đáng đời!. Minh thầm nghĩ đến chuyện ngày xưa: “Thị Kính phải giả trai để đi tu, bị Thị Mầu tán tỉnh vì sắc đẹp. Vì thất bại trong sự chiếm đoạt Thị Kính, Thị Mầu thù Thị Kính và khai man với làng nước rằng Thị Kính là cha của con Thị Mầu. Chấp nhận tất cả mọi oan khiên, Thi Kính lặng lẽ nuôi đứa bé, không một lời ta thán trước búa rìu dư luận”. Câu chuyện thật thương tâm nhưng ngày nay cũng có kẻ lại phê bình là Thị Kính sai lầm vì không chịu nói lên sự thật!

Minh cương quyết đi theo con đường đã chọn, luôn luôn hóa giải mọi cảm xúc tiêu cực. Tới cuối năm 2000 thì Minh tự cảm thấy mình đã có khả năng hóa giải được những cảm xúc tiêu cực khá hữu hiệu, thu ngắn được những khoảng thời gian đau đớn tinh thần một cách kỳ diệu, chẳng hạn như cùng một hiện tượng thiên nhiên hay xã hội mà trước kia Minh cảm thấy đau đớn, bực tức hàng giờ, hàng ngày, thì bây giờ Minh chỉ cần cười thật to là đã trở lại vui vẻ ngay được. Minh lại cảm thấy một sự biến đổi kỳ diệu trong tâm hồn mình, thấy biến hết những mặc cảm ám ảnh từ mấy chục năm, thấy biến luôn cả sự lười biếng. Minh vô cùng phấn khởi, Minh có cảm giác mình đã phá vỡ được bức tường vô hình giam hãm tâm hồn mình trước kia.

3. Học tập để sống phù hợp với sự tiến hóa của thiên nhiên và xã hội chung quanh.

Một trong những biện pháp hóa giải của Minh là học tập để sống phù hợp với sự tiến hóa của thiên nhiên và xã hội chung quanh (tu thân). Minh bắt đầu tìm tòi các tài liệu viết về tâm lý vì vấn đề hóa giải các cảm xúc tiêu cực chính là một vấn đề tâm lý.

Cuốn sách tâm lý đầu tiên làm Minh chú ý là cuốn “Pouvoir illimité” của Anthony Robbins. Mặc dầu có nhiều điểm Minh không đồng ý với tác giả, nhất là những điểm mà tác giả khẳng định một cách chủ quan, nhưng Minh cũng rút tỉa được một số bài học hữu ích:

- Sự hiện hữu của tác dụng hỗ tương giữa “cảm xúc” và những “hoạt động tinh thần và thể chất”. Những hoạt động tinh thần là những diễn biến trong tư duy, là sự đối thoại với chính nội tâm mình, là sự giải thích những hiện tượng khách quan ở trong nội tâm mình. Những hoạt động thể chất bao gồm những vận động sinh lý chẳng hạn như ca hát, khóc, cười, đứng ngồi v.v... Nếu chúng ta làm chủ được những hoạt động tinh thần và thể chất của bản thân mình, thì là chúng ta có thể làm chủ được cảm xúc của chính mình.

- Niềm tin tạo nên sức mạnh và chúng ta có thể xây dựng những niềm tin sống động để tăng cường sức mạnh tinh thần cho chính mình, chẳng hạn như niềm tin “sống là vận động” có thể xóa bỏ tính lười biếng trong tâm hồn.

- Những sinh hoạt hàng ngày (ăn, uống, thở, v.v...) có ảnh hưởng trực tiếp tới sức mạnh thể chất và chúng ta có thể áp dụng các sinh hoạt thích hợp với bản thân để tăng cường sức mạnh.

- Một điểm tựa tâm lý có thể thay đổi ngay lập tức trạng thái tâm lý của con người, tương tự như trong thí nghiệm của Pavlov, mỗi lần nghe tiếng chuông rung, con chó bị chảy nước miếng. Chúng ta có thể tạo những điểm tựa tâm lý cho chính bản thân mình để thay đổi tức thời tình trạng tâm lý và lấy lại sức mạnh tinh thần.

Những bài học đó khuyến khích Minh tìm hiểu cuốn sách thứ hai của cùng tác giả (L'éveil de votre puissance intérieure - awaken the giant within). Cũng như cuốn thứ nhất, có nhiều điểm Minh không đồng ý với tác giả, nhưng Minh cũng rút tỉa được vài bài học hữu ích:

- Tất cả mọi hành động của con người đều bị chi phối bởi hai động cơ: tìm kiếm khoái lạc và tránh né sự đau đớn. Nhờ bài học này, Minh thấy rõ hơn những hành động đạo đức giả của người khác ẩn tàng dưới những chiếc mũ đạo đức, lý tưởng, tôn giáo, yêu nước, thương dân v.v...

- Những phương pháp để xây dựng những niềm tin sống động mới và bồi dưỡng những niềm tin sẵn có.

- Sự xuất hiện những cảm xúc và sự thúc đẩy hành động của con người do tác dụng hỗ tương giữa năm thành phần trong mỗi cá nhân: các loại khoái lạc, các loại đau khổ, các niềm tin, các nguồn tham khảo, tình trạng tâm lý. Sự thay đổi một thành phần có thể kéo theo sự thay đổi các thành phần khác.

- Ai cũng có thể làm chủ những cảm xúc của bản thân mình, gạt bỏ tất cả ảnh hưởng của những người chung quanh trên cảm xúc của bản thân.

- Những nguyên tắc và quan điểm về giá trị trong cuộc sống của một cá nhân có ảnh hưởng vô cùng lớn lao trên đời sống của cá nhân đó. Sự xét lại những vấn đề đó có thể thay đổi hẳn cuộc sống của một cá nhân.

Trong những bài học đó thì Minh thích nhất bài học liên quan đến vấn đề làm chủ những cảm xúc cá nhân của mình. Nếu thực hiện được việc đó thì chúng ta có thể luôn luôn sống trong an lạc, không một hiện tượng thiên nhiên hay xã hội khách quan nào có thể gây cho chúng ta phiền não, lo âu.

Hoàn cảnh thiên nhiên và xã hội chung quanh chúng ta luôn luôn biến đổi không ngừng, Minh tự nhủ: cuộc sống an lạc không phải là một thường tại bất biến mà là một cuộc sống luôn luôn vận động phù hợp với những thay đổi không ngừng đó, nên muốn sống an lạc thì chúng ta luôn luôn cần thấu hiểu môi trường chung quanh ta.

4. Cơ duyên.

Nhân dịp đọc một lá thư của các bạn cũ, Minh được biết rằng có một giáo sư đại học Mỹ đã xuống tóc đi tu sau khi đọc cuốn “Ðường Xưa Mây Trắng” của Thích Nhất Hạnh, Minh vội vàng tìm đọc để xem có rút tỉa được bài học nào chăng. Nhưng ngay sau đó, lại thấy báo chí trên internet tố cáo nhà sư là một người thân Cộng nên Minh thôi không tìm kiếm cuốn sách đó nữa. Vài tuần sau, Bình, một người quen biết Minh, đưa cho Minh một cuốn sách dầy hơn 600 trang.

- Tôi đã kiếm được cuốn sách anh đang tìm đọc đây, Bình vừa nói vừa đưa cuốn “Ðường Xưa Mây Trắng” cho Minh.

- Tôi thấy báo chí nói tác giả thân Cộng, nên tôi không có hứng đọc nữa, Minh trả lời.

- Ðọc sách đâu phải là mình theo chính kiến của tác giả, mà là mình tìm hiểu những cái hay trong sách, Bình khuyến khích Minh.

Mặc dầu không còn cái hào hứng lúc đầu, Minh cũng thử đọc cuốn “Ðường Xưa Mây Trắng”.

Vì không có sự háo hức của sự đi tìm chân lý nên Minh áp dụng phương pháp “đọc nhanh” để “thanh toán” cuốn sách dầy hơn 600 trang.

Tới trang 93, khi đọc:

“Có khi ông (Phật khi chưa đắc đạo) chỉ ăn một miếng phân bò khô trên bờ ruộng”.

Minh rất bất mãn, và nói với vợ:

- Tác giả viết kỳ cục quá. Phật là người thông minh sáng suốt đời nào lại làm chuyện như vậy.

- Tại anh có thành kiến trước với tác giả là người thân Cộng.

Minh thấy chuyện “giấy trắng mực đen” như vậy mà mình cũng không thuyết phục được người khác, thôi đành cười lớn để quên chuyện đời. Minh tự nhủ, cuốn sách nổi tiếng, chắc chắn phải có những điểm hay, mình phải bỏ qua những cái dở và học tập những cái hay, bực mình vì cái dở của người khác quả là dại dột, và Minh tiếp tục tìm hiểu cái hay trong cuốn sách.

Cuốn sách kể chuyện của hơn 25 thế kỷ trước, khi Phật đi tìm đường tự giải thoát. Chuyện xẩy ra khi loài người còn rất nhiều khó khăn trong vấn đề chữ viết thì chắc chắn không thể nào giống như những chuyện ghi lại sự việc xẩy ra ngày nay. Minh ít chú ý đến những đoạn mô tả cuộc sống của ngày xưa mà sự ghi chép còn thiếu phần chính xác, và khi đọc lướt qua những câu chuyện có tính cách dã sử nói về kiếp trước Minh nghĩ rằng đó chỉ là những quan điểm chủ quan của những người ghi chép lại. Khi đọc qua những phần tâm lý và triết học thì Minh vô cùng ngạc nhiên vì nội dung cuốn sách đó khác hẳn với các cuốn sách viết về đạo Phật mà Minh đã đọc và đã nhận định rằng các tác giả vừa thiếu kiến thức, vừa mê tín dị đoan. Minh phải ghi lại số trang để đọc lại lần thứ hai những đoạn đó.

Tới trang 109, khi đọc lý luận của Phật :

“Tham đắm, giận hờn, kiêu căng, nghi ngờ, sợ hãi v.v... những tâm niệm ấy đều phát sinh từ gốc vô minh. Nếu mỗi người biết tìm cách tĩnh tâm để nhìn lại, để quán chiếu sâu sắc vào lòng sự vật thì ai cũng có thể đạt tới sự hiểu biết, và sự hiểu biết này sẽ làm tiêu tán được mọi phiền não và làm phát sinh được sự chấp nhận và niềm tin yêu”.

Minh thấy lý luận đó cũng giống như việc Minh đang tìm kiếm các biện pháp để hóa giải các cảm xúc tiêu cực, chỉ có khác là Minh đã được thừa hưởng sự tiến bộ của loài người trong 25 thế kỷ vừa qua. Minh nghĩ rằng Phật là một nhà tâm lý đại tài nên hơn 25 thế kỷ trước đã nghĩ đến những vấn đề đó.

Tới trang 111, khi đọc:

“Lạ thay, tất cả mọi chúng sanh đều có sẵn hạt giống của trí tuệ giác ngộ trong lòng. Vậy mà trong ngàn muôn ức kiếp cứ để cho tự mình lặn ngụp trong biển sinh tử khổ đau. Thật là đáng thương.”

Minh thấy ý niệm đó cũng tương tự như ý niệm của Anthony Robbins muốn đánh thức khả năng vô hạn ẩn tàng trong mỗi chúng ta (awaken the giant within), chỉ có khác là Anthony đã được thừa hưởng sự tiến bộ của loài người trong 25 thế kỷ vừa qua.

Tới trang 118 khi đọc:

“Sống tính thức là sống trong giờ phút hiện tại, và biết được những gì đang xẩy ra trong bản thân mình và hoàn cảnh mình. Sống như thế ta tiếp xúc được với sự sống, và nếu tiếp tục sống tinh cần như thế ta có thể hiểu biết được bản thân ta và hoàn cảnh ta một cách sâu sắc”.

Minh thấy quan niệm vui sống của mình cũng tương tự như quan niệm “sống tính thức”, chỉ có khác là Minh đã được thừa hưởng sự tiến bộ của loài người trong 25 thế kỷ vừa qua và Minh đang được sống ở một xứ sở mà đời sống người dân được xếp hạng là một trong những đời sống cao nhất thế giới.

Tới trang 134, khi đọc:

“Có hai thái cực mà người tu đạo nên tránh: một là lao mình vào khoái lạc nhục thể, hai là hành hạ thân xác cho hao mòn. Cả hai con đường đều đưa tới sự phá sản của thân tâm”.

Minh thấy rằng chủ trương không kiêng khem của mình, trong khi tìm cách tự giải thoát khỏi những lo âu phiền não, cũng không có gì là quá đáng.

Tới trang 135, khi đọc về bốn sự thật: khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, sự chấm dứt khổ đau, con đường diệt khổ, Minh thấy việc mình tìm các biện pháp để hóa giải các cảm xúc tiêu cực cũng tương tự như con đường diệt khổ của Phật, nhưng ngày nay, Minh có thể sử dụng những tiến bộ, mà ngày xưa loài người chưa biết, vào việc diệt khổ.

Tới trang 172, khi đọc:

“Mỗi người trong chúng ta đều có tính Phật trong lòng, và vì vậy ai cũng có thể trở thành người tính thức như Phật. Tính Phật này là khả năng tính thức, khả năng vượt thoát ảo vọng”.

Minh thấy việc mình tìm các biện pháp để hóa giải các cảm xúc tiêu cực là một việc làm thực tế, không phải là một việc viển vông.

Tới trang 198, khi đọc sự phê phán các chủ thuyết của Phật:

“Một khi đã bị kẹt vào một chủ thuyết rồi thì người ta mất hết tự do. Người ta trở nên độc đoán, cho rằng chỉ có chủ thuyết của mình mới là chân lý còn tất cả các chủ thuyết khác đều là tà đạo”.

Minh vô cùng thích thú và thán phục triết lý của Phật. Minh nhớ lại cuộc chiến tranh ý thức hệ thế giới đã giết hại ba triệu người Việt Nam vô tội chỉ vì một số người bị kẹt vào một chủ thuyết sai lầm!

Khi người ta hỏi rằng giáo pháp của Phật có phải là một chủ thuyết không thì Phật trả lời (trang 200):

“Không, giáo pháp tôi dạy không phải là một chủ thuyết xây dựng trên trí năng. Ðó là kinh nghiệm thực chứng. Những gì tôi nói ra đều đã thực chứng, và ông bạn cũng có thể kiểm điểm bằng kinh nghiệm thực chứng của ông bạn. Tôi nói vạn vật vô thường và không có tự ngã. Ðiều này tôi đã chứng nghiệm và các bạn cũng có thể chứng nghiệm. Tôi nói vạn vật nương vào nhau mà sinh khởi, tồn tại và hoại diệt, chứ không xuất phát từ một nguyên nhân đầu tiên nào hết.”

Minh nghĩ Phật là một nhà đại hùng biện và khoa học của hơn 25 thế kỷ về trước, đã nhìn thấy được quy luật sinh khởi, tồn tại và hoại diệt của vạn vật. Với sự phát triển vượt bực của khoa học ngày nay, chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy những quy luật thiên nhiên và xã hội chung quanh ta. Nhất là từ khi Pavlov tìm ra quy luật về phản ứng có điều kiện của cơ thể động vật, con người càng hiểu rõ hơn về cơ thể của mình. Ngày nay, dựa trên những quy luật đã được kiểm nghiệm thực chứng, chúng ta có thể điều kiện hóa cả cảm xúc của mình. Nói một cách khác đường hướng thực nghiệm mà Phật đã nhìn thấy từ 25 thế kỷ trước chính là đường hướng phát triển của lịch sử loài người.

Tới trang 201, khi đọc:

“Quán chiếu để có thể thấy được bản chất và nguồn gốc của các cảm thọ. Thấy được nguồn gốc của các cảm thọ rồi, ta sẽ thấy bản chất của cảm thọ, ta sẽ thấy cảm thọ cũng có tánh vô thường và vô ngã như tất cả các pháp khác. Sự sinh diệt của chúng dần dần sẽ không động được tới ta. Hầu hết các cảm thọ của ta đều bắt nguồn từ nhận thức sai lầm về thực tại. Nhổ bật gốc rễ của những sai lầm ấy lên thì khổ thọ không còn”.

Minh cảm thấy khả năng xét đoán về tâm lý của Phật thật siêu phàm. Hai mươi lăm thế kỷ sau, đa số loài người vẫn chưa đạt được khả năng đó mặc dầu đã được thừa hưởng biết bao nhiêu là tiến bộ khoa học. Người ta còn cứ bám chặt vào những niềm tin cố định, vào những chủ nghĩa giáo điều để biến chúng thành những bức tường vô hình giam hãm chính tâm hồn mình. Minh càng cảm thấy tự tin hơn trong việc tìm kiếm các biện pháp để hóa giải các cảm xúc tiêu cực. Minh thấy biện pháp quán chiếu của Phật là một biện pháp hay nhưng tốn nhiều thời giờ tu luyện và đòi hỏi một ý chí mạnh, trong khi đó ngày nay người ta có thể vận dụng những quy luật chẳng hạn như quy luật “hành động tạo cảm xúc mới” và những phương pháp phân tích khoa học để đạt được kết quả đó một cách mau chóng hơn. Hơn nữa, trong khi mất quá nhiều thì giờ để tu luyện, con người có thể bị xa rời thực tại luôn luôn biến động với những tiến bộ hàng ngày của loài người.

Tới trang 206, khi đọc:

“Ðối với những người đã quán chiếu và đạt đạo, cái đẹp vẫn là cái đẹp, nhưng vì đã đạt tới giải thoát và tự do, họ không còn bị cái đẹp hay cái xấu khống chế nữa. Không phải là họ dửng dưng không thấy cái đẹp, sự thực là họ không bị nô lệ cho cái đẹp. Nhìn vào cái đẹp, họ thấy được cái không đẹp đã góp phần làm ra cái đẹp. Nhìn vào cái xấu, họ thấy những cái không xấu đã góp phần làm ra cái xấu. Họ thấy được tính cách vô thường của vạn pháp, đẹp cũng như xấu, vì vậy họ không bị cái xấu làm cho chán nản cũng như không bị cái đẹp làm cho đam mê.”

Minh vô cùng thích thú về quan niệm về đẹp và xấu của Phật. Minh thầm nghĩ quan niệm đó đã bồi dưỡng thêm quan niệm sẵn có của Minh về đẹp và xấu. Minh quan niệm rằng trong cái đẹp nào cũng có một phần xấu và trong cái xấu nào chẳng có điểm đẹp và Minh luôn luôn tìm cách thưởng thức những điểm đẹp của cái xấu và dùng những phần xấu của những cái đẹp để ngăn chặn sự đam mê. Minh ngắm nhìn những người con gái trẻ đẹp cũng giống như ngắm nhìn những bông hoa rực rỡ, cũng giống như ngắm nhìn cái đẹp của bầu trời khi rạng đông hay lúc hoàng hôn. Mỗi lần có bão tuyết, Minh say sưa ngắm nhìn tuyết quấn theo gió lốc từ dưới đất bay lên mái nhà. Nhìn ra vườn phía sau nhà phủ đầy tuyết trong mùa đông, Minh có cảm giác như đứng trước rừng kim cương rực rỡ phản chiếu ánh sáng mặt trời hay ánh sáng của ngọn đèn đường. Minh tìm thấy quê hương trên những websites, ở đó con người có sự tự do tuyệt đối.

Tới trang 210, khi đọc:

“Thưa phụ vương, đi khất thực là một phép tu nhằm thực hiện tinh thần khiêm cung và bình đẳng. Khi con nhận một củ khoai của một gia đình nghèo khổ, con cũng có thái độ cung kính như khi con nhận một món ăn sang trọng do một vị đế vương cúng dường. Thái độ cung kính này chứng tỏ rằng con đã có thể vượt ra khỏi sự phân biệt sang hèn, và cũng chứng tỏ rằng bất cứ ai dù nghèo hèn đến mấy cũng có nhân phẩm và cũng có thể đạt tới giải thoát và giác ngộ.”

Minh rất thán phục sự khiêm tốn và quan điểm bình đẳng của Phật. Hai mươi lăm thế kỷ sau mà đa số nhân loại còn chưa đạt được quan điểm bình đẳng giữa người với người, còn cứ cố bám vào những niềm tin cố định, những chủ thuyết lầm lạc để chém giết lẫn nhau. Minh rất thích quan điểm khiêm tốn của Phật vì Minh thấy chính nhờ sự khiêm tốn đã đem lại cho Minh sự sáng suốt trong việc hóa giải mọi cảm xúc tiêu cực. Minh tự nhủ: “Ði khất thực có thể là một biện pháp cần thiết để thực hiện tinh thần khiêm cung và bình đẳng trong hoàn cảnh thời gian và không gian của Phật”. Nhưng với hoàn cảnh ngày nay thì Minh nghĩ chỉ có sự làm việc mới thực hiện được tinh thần khiêm tốn và bình đẳng, chỉ có sự làm việc mới là sự sống thực. Mặc dầu chính Minh đã bất đắc dĩ trở thành “ăn mày quốc tế” trên Thái Bình Dương khi năn nỉ các tầu buôn vớt chiếc thuyền vượt biên trong đó có Minh đang lao đầu vào bão tố, nhưng Minh cho rằng việc sử dụng thành quả lao động của người khác không phải là việc từ bi bác ái, chỉ có sự làm việc mới thực sự tạo cơ hội cho chúng ta có dịp làm những việc từ bi bác ái (dĩ nhiên cảm hóa được một người cũng là một việc làm vô cùng lớn lao).

Tới trang 221, khi đọc:

“Sự sống còn có một mặt khác: đó là sự có mặt của những mầu nhiệm trong cuộc đời, và nếu con người được tiếp xúc với những mầu nhiệm ấy, con người sẽ có niềm vui và sự an lạc. Khi tâm ta được giải thoát ta tiếp xúc ngay được với những mầu nhiệm ấy. Phá được vô minh rồi, ta sẽ thênh thang trong thế giới của an lạc, của giải thoát, của niết bàn. Niết bàn là sự chấm dứt của vô minh, của tham đắm và giận hờn. Niết bàn cũng là sự hiển lộ của niềm an lạc và giải thoát”.

Minh vô cùng thích thú, vì sau hai năm áp dụng các biện pháp hóa giải các cảm xúc tiêu cực, Minh nhận định được cuộc sống của chính mình là một phép nhiệm mầu huyền diệu của thiên nhiên và Minh tự hứa “tìm mọi cách để sống tươi vui, hữu ích cho mình, cho người khác; để làm tăng sự huyền diệu của thiên nhiên trong sự sáng tạo ra bản thân mình”. Thế mà Phật đã biết đến sự huyền diệu ấy từ hơn hai mươi lăm thế kỷ trước, càng suy nghĩ, Minh càng cảm thấy thán phục triết lý sâu sắc của Phật.

Tới trang 264, khi đọc:

“Tình thương mà người đời thường nói tới là tình thương giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng, giữa những người trong cùng họ hàng, cùng thân tộc, cùng giai cấp hay cùng quốc gia. Vì tình thương ấy dựa vào ý niệm 'tôi' và 'của tôi' cho nên bản chất của nó là vướng mắc là phân biệt. Vướng mắc cho nên lo lắng về những bất trắc có thể xẩy đến dù chúng chưa xẩy đến, vướng mắc cho nên phải gánh chịu sầu đau và thất vọng mỗi khi những bất trắc xẩy đến. Phân biệt cho nên có thái độ kỳ thị, hờ hững và ghét bỏ đối với những người mình không thương. Vướng mắc và kỳ thị đều là những nguyên nhân của khổ đau, khổ đau cho mình và cho người”.

Minh cảm thấy sự phân tích của Phật thực là sâu sắc. Minh cũng thường phân biệt hai loại tình thương: tình thương mù quáng thường do tính ích kỷ và sự chiếm hữu thúc đẩy và tình thương có lý trí soi sáng, không có điều kiện, không bắt buộc và không đòi hỏi bất cứ một sự đền đáp nào, luôn luôn hòa hợp với lòng bác ái, đức từ bi. Loại thứ nhất thì thường gây ra đau khổ, phiền não, còn loại thứ hai thì đem lại nguồn sống cho tâm hồn. Phân tích của Phật tuy sâu sắc, nhưng cũng có thể làm cho những người bình thường chúng ta tự hỏi: nếu xóa bỏ vướng mắc và phân biệt, phải chăng chúng ta sẽ mất hết bà con, thân thuộc, mất hết xóm làng, quê hương? Khi thuyền vượt biên trong đó có Minh được cứu vớt trên Thái Bình Dương, Minh đã cảm nhận được tình nhân loại, một loại tình thương không có vướng mắc và kỳ thị. Minh thiết nghĩ nếu bỏ vướng mắc và kỳ thị, chúng ta vẫn còn bà con, thân thuộc, xóm làng, quê hương vì đó chính là môi trường sống của chúng ta, là những người mà chúng ta thường xuyên có những liên hệ, thường xuyên tạo cho chúng ta những cảm xúc tích cực hay tiêu cực. Nếu chúng ta hóa giải được các cảm xúc tiêu cực tình thương của chúng ta sẽ dần dần biến dạng để xóa dần những vướng mắc và kỳ thị. Một thí dụ cụ thể: tình thương của một người con đã trưởng thành đối với người mẹ mắc bệnh cờ bạc ở Casino. Nếu người con chưa nhận định được hai yếu tố vướng mắc và kỳ thị của tình thương thì có thể sẽ vô cùng xấu hổ, đau khổ, nhức nhối vì chuyện cờ bạc của người mẹ. Với tình thương không vướng mắc và kỳ thị, người con sẽ sáng suốt hơn trong những biện pháp đối phó với bệnh của mẹ (chứ không phải đối với mẹ), vẫn có thể săn sóc mẹ tận tình như những người con có hiếu, chẳng hạn như tìm cách chữa bệnh cho mẹ bằng những lời khuyên, bằng sự phân tích, sự khuyến khích, bằng những phương tiện xã hội (khuyến khích mẹ tham gia hội nạn nhân của cờ bạc), bằng những chuyên gia tâm lý v.v... Như vậy bệnh cờ bạc của người mẹ không thể làm cho người con đau khổ, mà lại là dịp báo hiếu của người con để giúp mẹ thoát ra khỏi vòng nghiện ngập. Người mẹ có khỏi bệnh hay không vẫn không ảnh hưởng gì đến hạnh phúc của người con vì hành động sáng suốt đã mang lại sự an lạc trong tâm hồn của người con.

Nhưng đối với những nạn nhân khác của cờ bạc thì sao?

Nếu gặp dịp thì người con cũng có hành động tương tự, chỉ có khác là trong cuộc sống của người con, sự gặp gỡ mẹ thì thường xuyên, còn sự gặp gỡ các nạn nhân khác thì hiếm hoi.

Tới trang 267, khi đọc:

“Ta phải biết quan sát để thấy được bản chất của tình thương của chúng ta. Tình thương theo lẽ phải thì phải làm cho người được thương yêu có an lạc và hạnh phúc. Nhưng nếu chỉ là đam mê, chỉ là ích kỷ, là ý chí chiếm hữu, thì tình thương này không thực sự là tình thương, tình thương này không làm cho người được thương có an lạc và hạnh phúc. Trái lại nó làm cho kẻ kia cảm thấy tù túng, lệ thuộc, mất hết tự do, mất hết phẩm cách của một con người có tự do. Tình thương trong trường hợp này chỉ là một tù ngục. Nếu người được thương không có hạnh phúc, nếu người ấy tìm cách để phục hồi lại tự do mình, nói một cách khác, nếu người ấy không chấp nhận cái nhà tù của sự chiếm hữu thì tình thương kia sẽ dần dần biến thành sự ghét bỏ và hận thù”.

Minh nhận thấy nhận xét của Phật về tình thương rất rõ ràng và chính xác. Nhưng trong cuộc sống bình thường ngày nay, tình yêu giữa hai người thường bao gồm cả sự đam mê, sự ích kỷ, ý chí chiếm hữu với ý mong muốn người mình yêu được hạnh phúc và người đang yêu thường bị lẫn lộn không biết đâu là giới hạn giữa những yếu tố đó. Tình yêu đó lại là nhu cầu của cuộc sống của cả hai người yêu nhau nên lúc đầu thường mang lại hạnh phúc tràn trề. Khi sự đam mê, sự ích kỷ, ý chí chiếm hữu của một người vượt quá giới hạn mà người kia chấp nhận thì tình yêu mới đổ vỡ, mới đem lại đau khổ. Tình yêu đó có thể hiếm hoi đối với nhân loại hai mươi lăm thế kỷ về trước. Trong loại tình yêu này, nếu loại bỏ một số yếu tố như đam mê, ích kỷ, chiếm hữu thì tình yêu cũng biến mất và hạnh phúc lứa đôi khó mà tồn tại. Hy sinh hạnh phúc để tránh đau khổ là cái giá quá đắt và không ai chấp nhận, nhưng biết trước những nguyên nhân gây ra đau khổ thì con người có thể dễ dàng bảo vệ hạnh phúc của mình. Nói một cách khác, sự hạn chế tính ích kỷ và tính chiếm hữu có thể tạo ra tình yêu đôi lứa hạnh phúc lâu dài.

Về những loại tình thương khác tình yêu đôi lứa thì con người có thể loại bỏ những yếu tố đam mê, ích kỷ, chiếm hữu để hưởng thụ những thành quả hạnh phúc do tình thương mang lại. Chẳng hạn như tình thương của cha mẹ đối với con cái trong các nước có nền kinh tế phát triển cao và tổ chức xã hội văn minh (thiên đàng xã hội chủ nghĩa thực sự)ï, cha mẹ thường không cần mong đợi ở sự báo hiếu của con cái nên tình thương vô điều kiện dễ thực hiện hơn.

Nhưng khi con người còn phải đấu tranh gay gắt với thiên nhiên và xã hội để tồn tại thì tình thương không điều kiện là một thứ quá xa xỉ, thông thường dành riêng cho những kẻ có đặc quyền đặc lợi hoặc những kẻ ăn bám trên thành quả lao động của người khác và tình thương hai chiều nghĩa là có điều kiện có thể tượng trưng cho sự công bằng và bình đẳng giữa người với người.

Tới trang 268, khi đọc:

“Muốn cho một người nào có hạnh phúc, mình phải tìm hiểu cho được những ước vọng và những khổ đau của người ấy. Hiểu được rồi mình mới có thể làm mọi cách để cho người ấy bớt khổ đau và có hạnh phúc. Như vậy mới gọi là có tình thương chân thật”.

Minh thấy phương pháp của Phật để làm cho người khác có hạnh phúc thật là tuyệt vời. Nhưng khi bàn luận với bạn bè về quan điểm đó, Minh đã lúng túng trước vấn đề:

Nếu bản thân mình không có hạnh phúc thì làm sao mình có hơi sức và thời giờ để tìm hiểu ước vọng và khổ đau của người khác, lo hạnh phúc cho bản thân chưa xong mà đòi lo cho thiên hạ thì phải chăng là đang mơ ngủ! Giả thử như có người nói sẵn sàng hy sinh bản thân để lo cho hạnh phúc của người khác, thì chưa chắc người đó có đủ sáng suốt để tìm hiểu được những ước vọng và khổ đau của người khác.

Từ quan điểm của Phật, Minh nghĩ rằng khi mình thương ai thì mình cần phải xem tình thương đó có mang lại hạnh phúc cho người đó không. Nếu không thì nên trước hết hãy lo cho hạnh phúc của bản thân mình, không nên ôm đồm những chuyện ngoài khả năng mình. Nếu mình chỉ có thể hạnh phúc khi kẻ đó hạnh phúc, thì khi đó phải áp dụng quan điểm của Phật bằng cách tìm hiểu ước vọng và khổ đau của người ấy; hoặc nếu mình đã hoàn toàn hạnh phúc nhờ giác ngộ, thì áp dụng quan điểm của Phật sẽ càng làm cho mình hạnh phúc hơn.

Tới trang 269, khi đọc:

“Thứ tình thương có bản chất đam mê và vướng mắc, vì được nuôi dưỡng trong tham đắm và si mê nên chỉ có thể đem lại những phiền não và khổ đau làm tàn phá con người, trong khi từ bi chỉ nuôi dưỡng xót thương làm chất liệu cho hành động cứu khổ.”

Minh thấy quan niệm này rất hay nhưng trong cuộc sống bình thường, tình yêu nào mà không có đam mê và vướng mắc; và tình yêu nào cũng đem đến những thời gian hạnh phúc tuyệt vời. Nếu vì sợ phiền não mà chối bỏ tình yêu thì phải chăng chúng ta chối bỏ cái hạnh phúc nhiệm mầu đó của cuộc sống; cớ sao chúng ta không tìm cách tối thiểu hóa những phiền não và tối đa hóa hạnh phúc bằng những phương pháp tâm lý hiện đại mà hai mươi lăm thế kỷ trước loài người chưa tìm được.

Minh cũng nhận thấy quan niệm về từ bi để xót thương, để cứu khổ chỉ phù hợp với những người may mắn, dư thừa phương tiện. Những hành động bác ái mà dựa trên sự lạm dụng thành quả lao động của người khác thì đối với Minh chẳng qua chỉ là hành động đạo đức giả, hành động ăn cắp. Từ bi đem lại cho chúng ta sự an lạc của tâm hồn, nhưng nếu không dựa trên thành quả lao động của bản thân mình thì chỉ có từ bi giả hiệu, chỉ có an lạc giả hiệu mà thôi. Dĩ nhiên dù nghèo đói đến đâu chúng ta vẫn có thể làm việc từ bi bằng cách giúp đỡ những người khó khăn hơn, nhưng chúng ta phải dùng đôi bàn tay và khối óc của chúng ta để giúp đỡ, chứ không phải bằng phương tiện của kẻ khác.

Tới trang 270, khi đọc:

“Không biết xót thương thì con người không thể là con người, vì vậy những khổ đau do lòng xót thương đem lại là những khổ đau cần thiết và có ích lợi lớn”

Minh nhận xét không có khổ đau nào là cần thiết cả, trước sự khổ đau của người khác thì Minh hành động trong vòng khả năng của mình để xoa dịu khổ đau cho người khác. Với Minh, chỉ có hành động mới đáng kể, sự thương vay khóc mướn chẳng qua chỉ là sự bệnh hoạn của tâm hồn.

Tới trang 280, sau khi Phật thuyết phục được Nanda (em Phật) tiếp tục cuộc đời khất sĩ, Phật nói:

“Em phải thực tập trở lại phép quán niệm hơi thở cho chuyên cần mỗi ngày. Rồi em sẽ tập quán chiếu thân thể, quán chiếu cảm giác, quán chiếu tâm ý và cuối cùng quán chiếu các pháp. Các pháp chính là đối tượng của tâm ý. Phải quán để thấy cho được quá trình sinh khởi, tồn tại và hoại diệt của mọi hiện tượng, từ thân thể qua cảm giác đến tâm tư và các pháp.”

Minh nghĩ rằng những phương pháp quán chiếu có thể có lợi trong thời đó. Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học, đa số trong chúng ta đều có thể thấy được quá trình sinh khởi, tồn tại và hoại diệt của mọi hiện tượng mà không cần dùng phương pháp quán chiếu đó. Sự quán chiếu có thể làm chúng ta thấy rõ hơn, nhưng cũng có thể dẫn chúng ta đến việc xa rời thực tại, luẩn quẩn trong suy tư cá nhân, lãng phí thời gian. Ngày nay, sự quán chiếu sẽ hữu ích khi gắn liền với hành động để đạt được những kết quả cụ thể, có thể đo lường được. Một thí dụ cụ thể, dùng sự quán chiếu các cảm xúc để làm chủ cảm xúc của bản thân mình, để thay đổi trạng thái tâm lý của bản thân mình.

Tới trang 330, khi đọc:

“Quán chiếu sự sống trong hiện tại, không tìm về quá khứ, không tưởng tới tương lai, vì quá khứ không còn mà tương lai thì chưa tới. Sự sống chỉ có mặt trong giờ phút hiện tại. Nếu ta bỏ giờ phút hiện tại, ta đánh mất sự sống”.

Minh thấy quan niệm của Phật rất hiện sinh, không xa vời hão huyền về bên kia thế giới. Ngay trong thế giới hiện tại mà ta cũng không nên tìm về quá khứ, không nên tưởng đến tương lai. Nhưng ngày nay, với sự phát triển của khoa học, người ta có thể dự đoán tương lai một cách khá chính xác, bằng cách dựa trên những gì xẩy ra trong quá khứ và những điều kiện vật chất hiện tại. Trong xã hội người ta dự trù hàng chục năm trước, trong đời sống cá nhân người ta có ngân sách hàng năm, ngân sách để về hưu sau mấy chục năm làm việc v.v... Vì vậy theo Minh, quan điểm hiện sinh của Phật là để ngăn chặn những ảnh hưởng xấu của quá khứ cũng như tương lai trên cuộc sống hiện tại. Dù quá khứ đau đớn, dù tương lai mờ mịt, chúng ta vẫn có thể sống vui với những gì mình đang có trong tay.

Tới trang 347, khi đọc:

“Người hành giả quán niệm về những cảm giác đang phát sinh, tồn tại hoặc tàn hoại nơi mình. Những cảm thọ ấy có thể có nguồn gốc tâm lý hay sinh lý”.

Minh thấy phương pháp tâm lý đó phù hợp với phương pháp nhận thức những cảm xúc của ngành tâm lý học hiện đại. Ngày nay, để hóa giải các cảm xúc tiêu cực, việc đầu tiên là người ta phải nhận thức sự hiện diện của các cảm xúc đó, tránh sự phủ nhận các cảm xúc tạo nên do tập tục, do văn hóa, do niềm tin gây ra. Thế mà 25 thế kỷ trước, Phật đã đi xa hơn về phương diện này, không những nhận thức sự hiện diện mà còn theo dõi sự phát sinh, sự tồn tại và sự tàn hoại của những cảm xúc đó để tìm ra nguồn gốc. Minh có cảm giác Phật là một thiên tài về tâm lý loài người.

Tới trang 395, khi đọc:

“Số người thấy được cái cao siêu mầu nhiệm nhất của giáo pháp mà đem lời ca ngợi thì ít lắm. Tôi muốn nói đến trí tuệ thực chứng của đạo giác ngộ. Trí tuệ này siêu việt, mỹ diệu, mầu nhiệm, vượt khỏi tầm tư duy và ngôn ngữ của người thường. Thấy được, hiểu được và chứng được trí tuệ ấy mới có thể biết và thấy được giá trị thật của đạo giải thoát.”

Minh cho rằng “trí tuệ thực chứng của đạo giác ngộ” chính là triết lý của Phật. Nhưng triết lý này không giống như các loại triết lý khác “tìm cách rắc rối hóa mọi việc bằng những từ ngữ khó hiểu và không thông dụng để che giấu những mong muốn thật sự của họ: áp đặt những niềm tin cố định của họ trên các độc giả”. Triết lý này không tìm cách mô tả thế giới mà cũng không tìm cách cải tạo thế giới như Các Mác. Triết lý này chỉ vạch ra cách giải thoát cho mỗi cá nhân khỏi nhà tù vô hình của chính tâm hồn cá nhân đó tạo ra. Nhà tù đó làm cho con người sống như trong cơn mê, vì vậy đại đa số loài người không thấy được giá trị thật của đạo giải thoát, kể cả những Phật tử và những nhà sư, chỉ mong được giải thoát bằng cầu nguyện và phép lạ.

Tới trang 432, khi đọc:

“Nhờ trí tuệ, nhờ hiểu biết, con người có học, có tu và có giác ngộ không làm cho cái khổ gia tăng nơi mình và nơi người khác. Khi có một khổ thọ, dù là một khổ thọ về thân xác hay khổ thọ về tâm ý, người có trí không sầu muộn, không than van khóc lóc, không đập ngực bứt tóc, không đầy đọa thân thể và tâm hồn, không ngã lăn ra bất tỉnh. Người ấy bình tĩnh quán chiếu và biết khổ thọ chỉ là một cảm thọ. Người ấy biết người ấy không phải là cảm thọ, không kẹt vào cảm thọ. Cảm thọ không còn trói buộc được người ấy. Khổ đau không trói buộc được người ấy. Khi có một khổ thọ thân thể, người ấy biết có một khổ thọ về thân thể. Người ấy không hoảng hốt lo sợ, không trách cứ, không u sầu, vì vậy khổ thọ ấy chỉ là một khổ thọ về thân thể, mà không trở nên một khổ thọ lớn lao có thể làm chìm đắm tự thân”.

Minh cảm thấy thích thú và vô cùng ngạc nhiên, thích thú vì Minh đang thực hiện việc đó cho chính bản thân mình, ngạc nhiên vì Phật đã làm việc đó cách đây 25 thế kỷ, ngạc nhiên vì Minh sinh ra và lớn lên trong môi trường Phật giáo mà đến bây giờ sau hơn hai mươi năm sống ở Canada mới được biết quan điểm này của Phật. Minh còn nhớ trong đám tang của mẹ gần ba mươi năm về trước. Mẹ Minh là người mà Minh mến phục nhất trên đời, khi mẹ mất, ban đêm nước mắt Minh tuôn trào nhưng ban ngày Minh luôn luôn bình tĩnh để lo đám táng cho mẹ được chu đáo. Khi người ta liệm xác mẹ, bà con Minh kêu Minh đi ra ngoài vì sợ trùng tuổi, Minh im lặng đứng lại để nhìn mặt mẹ lần cuối và cũng để kiểm soát việc liệm xác một cách trang trọng. Có người đề nghị Minh cho tiền cho đám thợ kèn để họ khóc mướn, Minh không những cương quyết từ chối mà còn cấm đoán người khác làm chuyện đó, nhưng khi đưa linh cữu mẹ về nơi an nghỉ cuối cùng thì Minh chi tiêu rộng rãi cho những người khiêng linh cữu để tất cả tỏ lòng tôn kính đối với người quá cố.

Tới trang 437, khi đọc:

“Cái mà tôi (Phật) gọi là không trong vạn pháp đó là cái ngã, nghĩa là cái tính chất thường tại và bất biến. Vạn pháp không có nghĩa là vạn pháp không có ngã, nghĩa là không có tính chất thường tại và bất biến. Nghĩa căn bản của không là như thế. Các vị đã chấp nhận và đã biết rằng vạn pháp đều có tính chất biến chuyển và hoại diệt. Chính vì vạn pháp có tính biến chuyển và hoại diệt ấy cho nên vạn pháp không có ngã, không hàm chứa một cái ngã. Vì vô thường nên vạn pháp cũng là vô ngã”.

Minh nhận thấy đối với nhân loại ngày nay đa số còn chưa nhận định được quy luật thiên nhiên về tính chất biến chuyển và hoại diệt của vạn vật, thế mà hai mươi lăm thế kỷ trước Phật đã nhận thức được quy luật này. Vì không nhận thức được quy luật này nên nhiều kẻ cầm quyền đã ngăn cản sự tiến bộ của khoa học, ngăn cản sự tiến bộ của loài người, làm những việc đi ngược lại sự vận động của thiên nhiên và xã hội, rồi lại dùng bạo lực để kết tội người khác phản động! mà không ý thức được rằng chính mình đang phản động, đang đi ngược lại sự vận động không ngừng của vạn vật! Minh nhận thấy tinh thần đa văn hóa ở Canada rất phù hợp với quy luật về sự vận động không ngừng của vạn vật, xóa bỏ được cái ngã trong mỗi nền văn hóa cổ truyền riêng biệt để thấy được sự mầu nhiệm của thiên nhiên ẩn tàng trong mỗi nền văn hóa.

Tới trang 442, khi đọc:

“Chấp có là nhận thức vạn sự vạn vật như những gì thường tại và có tự thể riêng biệt. Chấp không là nhận thức vạn sự vạn vật như một màn ảo thuật của thần linh. Kẹt vào tà kiến nào trong hai tà kiến ấy thì cũng không có cơ hội thấy được sự thật”.

Minh nghĩ rằng “chấp có” là tượng trưng cho chủ nghĩa “duy vật”, “chấp không” là tượng trưng cho chủ nghĩa “duy tâm”. Trong cuộc chiến tranh ý thức hệ vừa qua, phe cộng sản thường nhân danh chủ nghĩa “duy vật” và phe tư bản thường nhân danh chủ nghĩa “duy tâm”. Trong thâm tâm, Minh nghĩ rằng cả hai chủ nghĩa đều có những cái giáo điều cứng nhắc, nên khi đọc ý kiến nhận xét của Phật, Minh vô cùng thích thú. Minh đọc tiếp:

“Chấp có là một thái cực, chấp không cũng là một thái cực khác. Nhận thức duyên sinh vượt ra ngoài hai thái cực đó và an trú ở trung đạo”.

Minh tự nhủ, nhận thức rằng cả hai chủ nghĩa đều có tính cách giáo điều thì tương đối không khó khăn lắm, nhưng muốn an trú ở trung đạo thì cũng chẳng phải chuyện lý thuyết suông mà là quá trình thực nghiệm vô tận của loài người, từ giả thuyết đến kiểm chứng thực nghiệm rồi đến giả thuyết tân tiến hơn, kiểm chứng tân tiến hơn để phù hợp với những điều kiện mới của thiên nhiên và xã hội.

Tới trang 444, khi đọc:

“Thực tại bất sinh bất diệt có thể đem so sánh với nước trong đại dương, và thế giới sinh diệt có thể đem so sánh với những đợt sóng lô nhô trên mặt biển..Sóng thì có cao có thấp, có lớn có bé, có sinh có diệt, nhưng nước trong đại dương thì không cao không thấp, không lớn không bé, không sinh không diệt. Nếu không có nước thì làm sao có sóng? và sóng đi về đâu nếu không là trở về với nước ”.

Minh thấy sự so sánh rất hay, và phải chăng những cố gắng để thoát khỏi thế giới sinh diệt cũng giống như:

Dã tràng xe cát biển đông
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì
Vì đằng nào rồi sóng chẳng trở về với nước. Minh nghĩ rằng quan niệm thế giới sinh diệt là khổ đau chẳng qua chỉ là những ý niệm của nhận thức mà thôi, và vì ý niệm đó nhiều người đã tìm cách để thoát khỏi thế giới sinh diệt. Riêng Minh thì quan niệm thế giới sinh diệt là phép nhiệm mầu của thiên nhiên mà con người đang được hưởng. Minh so sánh những sợ hãi, lo âu như những đợt sóng của đại dương và người giác ngộ giống như kẻ đang vui đùa với sóng, mỗi đợt sóng đem lại một khoái lạc. Trong khi đó, những kẻ u mê bị sóng xô ngã hay nhấn chìm xuống đáy biển đời. Tìm cách để vượt thoát những “sợ hãi, lo âu, khổ đau” là đúng nhưng vượt thoát thế giới sinh diệt là không cần thiết.

Tới các trang 460, 461, 462, khi đọc về ba cánh cửa giải thoát:

- Cánh cửa thứ nhất: vô ngã. “Không có một tự ngã riêng biệt, không có một sự tồn tại riêng biệt. Vạn pháp nương vào nhau mà có mặt, không có pháp nào có thể phát sinh và tồn tại một cách độc lập. Các pháp sinh khởi và tồn tại trong liên hệ nhân duyên chằng chịt, cái này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia không, cái này sinh vì cái kia sinh, cái này diệt vì cái kia diệt.”

- Cánh cửa thứ hai: vô tướng. “Vô tướng tức là vượt thoát những khuôn khổ của tri giác và của nhận thức phân biệt. Các tướng trạng như có, không, sinh, diệt, một, nhiều, còn, mất, tới, đi, dơ, sạch, thêm, bớt... đều là những tướng trạng mà tri giác và nhận thức phân biệt úp chụp vào thực tại. Quán chiếu để làm tan rã những ý niệm có, không, sinh, diệt, một, nhiều, còn, mất, tới, đi, dơ, sạch, thêm, bớt... các vị sẽ đạt tới giải thoát.”

- Cánh cửa thứ ba: vô nguyện. “Vô nguyện là không theo đuổi bất cứ một cái gì. Giải thoát và giác ngộ không phải là những pháp có mặt ở ngoài ta. Chỉ cần mở mắt ra chiêm nghiệm, thì ta thấy được ta chính là bản thân của giải thoát và giác ngộ.”

Minh vô cùng ngạc nhiên, làm sao mà hơn 25 thế kỷ trước mà Phật lại thấy được sự liên hệ của vạn vật, thấy được những sự thiếu sót và sai lầm của tri giác và của nhận thức của con người, mà sau biết bao nhiêu tiến bộ khoa học, đa số loài người còn chưa thấy được. Minh thấy cách giải thích về ba cánh cửa giải thoát của tác giả tuy rất hay nhưng vẫn có thể dẫn dắt người muốn tu luyện để giải thoát bị rơi vào cảnh “tầu hỏa nhập ma”, vì mỗi cánh cửa đều ẩn tàng hai yếu tố sinh và diệt, nghĩa là người tu luyện có thể chuyển hóa lên một trạng thái tâm lý rất cao hoặc bị đẩy vào tình trạng tâm lý hôn mê. Tuy chưa diễn tả được ba cánh cửa giải thoát theo tầm hiểu biết của mình, nhưng Minh cảm thấy mình tiếp thu trọn vẹn được ba món võ “tuyệt chiêu” của Phật để áp dụng vào cuộc sống hàng ngày của bản thân mình, để lướt trên các làn sóng “sợ hãi, lo âu, phiền não” mà đi, để tiếp tục một cách tự tin hơn cuộc sống mà Minh đã chọn:

Sống vui trong chốn phong trần,
Tiếp tay con tạo xoay vần thế gian.
Ngày nay, để thoát khỏi “lo âu, sợ hãi” các chuyên viên tâm lý thường nói đến “thay đổi cách suy tư”, “thay đổi niềm tin”, nhưng nói là một chuyện, thực hiện được hay không lại là chuyện khác. Với Minh, ba món “võ tuyệt chiêu” của Phật có thể giúp chúng ta thay đổi được cách suy tư cũng như những niềm tin cố định. Khi tư duy bị bế tắc, chẳng hạn như một người không thể nào kìm hãm được tư duy của bản thân luôn luôn nghĩ đến chuyện trả thù, không cần biết là suy nghĩ của bản thân có còn sáng suốt, có tôn trọng sự thật hay không, thì ba món võ tuyệt chiêu đó có tác dụng như một phép nhiệm mầu để khai thông bế tắc. Tư duy “vô ngã, vô tướng, vô nguyện” có thể đưa tâm hồn bay bổng lên trời cao, bay xuyên qua mọi chướng ngại hữu hình hay vô hình.

Tới trang 514, khi đọc:

“Người có hạnh phúc biết quý những gì mầu nhiệm đang xẩy ra trong hiện tại: một làn gió mát, một buổi sáng đẹp trời, một bông hoa vàng, một cây trúc tím, một nụ cười của trẻ thơ, một bữa cơm ngon. Người có hạnh phúc biết thưởng thức những thứ ấy nhưng không bị ràng buộc vào những thứ ấy. Thấy được vạn pháp là vô thường và vô ngã, người ấy không nhận thức các pháp như những gì có thường và có ngã, do đó người ấy không bị ràng buộc bởi các pháp kia, không bị tham đắm vào các pháp kia. Không bị ràng buộc, không bị tham đắm, người ấy sống thảnh thơi, không lo âu, không sợ hãi. Biết rằng một bông hoa có thể sớm nở tối tàn, người ấy thấy được tự tính sinh diệt vô thường của các pháp cho nên không vì sự sinh diệt của vạn pháp mà sầu khổ và lo âu. Cũng vì thế nên hạnh phúc của người ấy là hạnh phúc chân thật. Người ấy không âu lo và sợ hãi ngay về sự sinh diệt của chính mình”.

Minh thấy quan niệm của Phật về sự thưởng thức những hiện tượng thiên nhiên nhiệm mầu đang xẩy ra trong hiện tại là một sự hưởng thụ thanh tao mà tất cả mọi người đều có thể được hưởng mà không cần phải bon chen, tranh đấu. Những hiện tượng này lại vô cùng phong phú chung quanh ta nên nếu biết thưởng thức thì kho tàng hạnh phúc trở thành vô tận.

Nhưng những cám dỗ vật chất, hình thức siêu hình của những nhu cầu sinh lý, vật chất và tâm lý thường ngăn cản một cách hữu hiệu khả năng thưởng thức đó của con người và đẩy họ chìm đắm trong những lớp sóng vô tận của “lo âu, sợ hãi, phiền não”. Khi những nhu cầu biến chất, mang hình thức siêu hình (ghiền), con người thường có cảm giác như “ma đưa lối quỷ đưa đường” nên thường “cũng đành nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu”. Thông thường khi bị dồn đến chân tường (quá đau đớn) thì con người dễ tỉnh mộng để tìm cách thoát khỏi vòng kiềm tỏa vô hình đó.

Nhiều khi không phải là những cám dỗ vật chất mà là những niềm tin cố định cũng ngăn cản con người nhìn thấy kho tàng hạnh phúc vô tận đó. Những niềm tin đó thường trở thành những bức tường vô hình giam hãm chúng ta, chẳng hạn như bức tường lễ giáo:

Ai đem lễ giáo giam em (TTKH).

Và cũng chẳng khác gì những cám dỗ vật chất, những niềm tin đó nhấn chìm con người trong lớp sóng vô tận của “lo âu, sợ hãi, phiền não”. Minh tự nhủ chắc là mình đã bị dồn đến chân tường nên mới tỉnh mộng, tâm hồn Minh vùng lên đạp đổ tất cả mọi ràng buộc bởi các nền văn hóa bệnh hoạn, đạp đổ mọi trách nhiệm do các nền văn hóa bệnh hoạn đó ăn sâu vào đầu óc Minh. Khi bức tường vô hình sụp đổ, Minh mới thấy được kho tàng hạnh phúc vô tận, mới hưởng thụ được những cái đẹp của mùa đông, những cái vui của mùa hè, những cái nhiệm mầu của bốn mùa, Minh mới xây dựng lại được niềm tin yêu của gia đình, xây dựng lại được mùa xuân của cuộc đời.

5. Ðường đi của Phật.

Ðọc xong cuốn sách “Ðường Xưa Mây Trắng” của Thích Nhất Hạnh, Minh thấy cuốn sách không nằm trong “đa số các hệ thống triết lý, tôn giáo chỉ tìm cách rắc rối hóa mọi việc bằng những từ ngữ khó hiểu và không thông dụng để che giấu những mong muốn thật sự của họ: áp đặt những niềm tin cố định của họ trên các độc giả”. Cuốn sách giống như chuyện dã sử, kể chuyện đã xẩy ra hơn 25 thế kỷ trước. Nhưng ngoài chuyện dã sử, còn nhiều đoạn bàn về triết lý và tâm lý. Minh không biết rõ sự chính xác của những vấn đề đó, là do các tài liệu Phật để lại hay do các chi phái Tiểu Thừa hoặc Ðại Thừa viết ra về sau hay do tác giả viết thêm theo ý riêng. Mặc dầu Minh không tin tưởng nhiều điều trình bày trong cuốn sách, nhưng Minh nghĩ rằng khó có cuốn sách nào hướng dẫn về đường đi của Phật hay hơn:

- Quán chiếu thân thể để hiểu rõ những chuyển biến trong thân thể mình để có thể luôn luôn ý thức về sự sống của thân thể mình.

- Quán chiếu cảm giác để hiểu rõ quá trình sinh diệt của cảm giác, để hiểu được nguồn gốc của cảm giác, từ đó tìm ra nguyên nhân của khổ đau và tìm cách xóa bỏ sự khổ đau.

- Quán chiếu tâm hồn để tìm trí tuệ và giác ngộ đang ẩn sâu trong tâm hồn mình.

Các điều giới luật và các giáo pháp để đạt được giải thoát trình bày trong cuốn sách thì Minh nghĩ có thể rất tốt trong hoàn cảnh của Phật hồi 25 thế kỷ trước. Nhưng trong những điều kiện phát triển của loài người ngày nay thì không còn thích hợp nữa.

Về phương diện triết lý thì Minh nhận thấy Phật vô cùng sáng suốt và xứng đáng cho nhân loại noi gương, khi Minh đọc ở trang 198:

“Một khi đã bị kẹt vào một chủ thuyết rồi thì người ta mất hết tự do. Người ta trở nên độc đoán, cho rằng chỉ có chủ thuyết của mình mới là chân lý còn tất cả các chủ thuyết khác đều là tà đạo”.

Chân lý này không những đúng hồi 25 thế kỷ trước, không những đúng cho ngày nay, mà theo Minh, sẽ đúng cho mãi mãi mai sau. Ngay trong một số tổ chức Phật giáo, cũng có một số người biến các giới luật và giáo pháp thành những chủ thuyết, đi ngược lại triết lý của Phật. Mặc dù không ở trong một tổ chức nào của Phật giáo, nhưng Minh có cảm giác là việc mình đang thực hiện một cuộc sống không còn “lo âu, sợ hãi, phiền não” chính là mình đang:

Chập chững đi theo bước chân Phật.

Tháng giêng năm 2002,
Phó Thường Dân

 
Trang bìa
Ðầu trang