Chập
chững đi theo bước chân Phật
1. Xung đột văn hóa.
Minh sinh ra trong lúc chiến
tranh thế giới thứ hai sắp chấm
dứt, tại một làng miền đồng
bằng phía bắc nước Việt
Nam. Chưa được mười tuổi,
Minh đã phải vĩnh biệt quê hương,
theo cha mẹ vào miền nam nước
Việt. Sống trong một gia đình còn
mang nặng nền đạo đức cổ
truyền, Minh lớn lên trong nền giáo
dục chỉ có bổn phận và trách
nhiệm, một nền văn hóa còn mang
nặng ảnh hưởng của Trung Hoa, lấy
“trung hiếu” làm đầu. Chữ “trung”
có nghĩa là trung thành với
vua thì đã bắt đầu phai lạt
dần sau khi Bảo Ðại bị truất
phế. Chữ “hiếu” thì Minh vẫn
còn được cha dùng cuốn
sách “nhị thập tứ hiếu” để
giảng dạy. Trong sách đó có
một chuyện rất đau thương: có
một đứa bé bị cha mẹ giết
đi để có đủ cơm nuôi
mẹ của họ! Và cái nền văn
hóa thời đó tuyên dương
“anh hùng!” cho kẻ sát nhân, với
mục đích làm “gương sáng!”
cho ngàn đời con cháu mai sau!
Minh được giáo
dục để sống như một đứa
trẻ sinh ra trong một gia đình “gia giáo”,
phải kính trọng cha mẹ, anh chị, thầy
cô giáo và tất cả những
người lớn tuổi hơn, không
cần phân biệt phải hay trái, đúng
hay sai. Và để thực hiện muôn
ngàn bổn phận và trách nhiệm
đó thì Minh có những điều
kiện:
- Về vật chất: ăn
uống thiếu dinh dưỡng trầm trọng,
quần áo, giầy dép giống như
khất sĩ.
- Về tinh thần: cấm đọc
báo, cấm nghe truyền thanh, cấm sống
vui vẻ như những người bình
thường, cấm cười nói
ồn ào v.v...
Lớn lên trong một
hoàn cảnh vật chất và tinh thần
bệnh hoạn, Minh chỉ nhìn thấy một
con đường duy nhất là “học
gạo” để thoát cảnh nghèo hèn.
Sự học được quan niệm một
cách sai lầm trầm trọng, không phải
là để mở mang kiến thức,
không phải là để gia tăng năng
suất lao động, mà chỉ là cái
“cần câu cơm”, học để hy vọng
“làm quan” (theo quan điểm của những
người chống chính quyền thì
“quan là cướp ngày”), được
xã hội và luân lý xã hội
thời đó ca ngợi!
Nhưng trong cái phúc luôn
luôn ẩn tàng cái họa, và trong
cái họa thì lại có sự hiện
diện của cái phúc; trong cái sai lại
có phần thuận lợi. Xuất phát
từ quan điểm sai lầm nhưng sự
“học gạo” đã đem lại cho Minh sự
hiểu biết về khoa học để phân
biệt đâu là đúng, đâu
là sai. Sự thành công trong việc
học đã giúp Minh thoát ra khỏi
giai cấp nghèo hèn. Vừa ngoi lên
khỏi vũng bùn sau mười mấy
năm “học gạo”, biến cố tháng
tư năm 1975 ở miền nam Việt Nam
lại đưa Minh trở lại vực
thẳm: Minh thuộc thành phần trí thức
trong xã hội cũ cần phải được
“đào tận gốc, trốc tận rễ”,
cần đưa vào trại cải tạo
(đại học máu), một cái tên
mỹ miều cho những nhà tù mà
tù nhân không phải là thường
phạm, và thời hạn tù thì
không biết đến bao giờ!
Thế là từ nền
văn hóa ở miền nam Việt Nam trước
năm 1975, một nền văn hóa chịu
ảnh hưởng của ba nền văn
hóa: văn hóa cổ của Trung Quốc
(tượng trưng bằng cuốn sách
“nhị thập tứ hiếu”), văn hóa
thuộc địa của thực dân Pháp,
văn hóa thực dụng của Mỹ;
bây giờ Minh cũng như mọi người
dân ở miền nam nước Việt
bị áp đặt một nền văn
hóa mới: “trung với đảng,
hiếu với dân”.
Nhưng trong cái họa nào
mà không ẩn tàng cái phúc.
Trong cái nền văn hóa mới
bị áp đặt, Minh có dịp tìm
hiểu thêm về triết học của Các
Mác, một thứ quốc cấm trước
năm 1975 ở miền nam. Theo sự học
hỏi của Minh thì duy vật biện chứng
là một vũ khí lý luận vô
cùng sắc bén, với sự vận
dụng hai quy luật căn bản của mọi
diễn tiến về vạn vật trong thiên
nhiên: “phủ định của phủ định”
và “những thay đổi về lượng
dẫn đến những thay đổi
về chất”. Theo sự tìm hiểu của
Minh thì quy luật “phủ định của
phủ định” cũng tương tự
như nhận định “sắc sắc không
không” của Phật giáo, nhưng có
tính cách khoa học hơn, chủ động
hơn. Minh cũng có cảm giác lờ
mờ về sự bế tắc của
lý luận “duy vật lịch sử” của
Các Mác. Sự tìm hiểu về
triết lý làm Minh nhớ lại kỷ
niệm hồi năm 1960, khi theo học lớp
đệ nhất (tương đương
lớp 12 sau này) ở trường
Chu Văn An tại Sàigòn, giáo sư
dậy về triết học của Minh là
một linh mục. Học sinh trong lớp chẳng
ai hiểu nổi giáo sư nói gì, chỉ
nhớ láng máng giáo sư phê
bình mọi tôn giáo và ca tụng
Thiên Chúa giáo, biến giờ
học triết thành giờ truyền
đạo. Vì không thể nào hiểu
nổi giáo sư môn triết của trường
Chu Văn An giảng gì, Minh phải ghi tên
học tư môn triết học của giáo
sư Trần Bích Lan tức thi sĩ Nguyên
Sa. Lớp học đông nghẹt hàng
trăm học sinh im phăng phắc, chăm chú
nghe giáo sư giảng. Lâu lâu giáo
sư pha trò, cả lớp cười
vang như sấm, mọi học sinh đều
phấn khởi vì hiểu được
những bài vỡ lòng về
triết lý. Sau năm 1975, khi tự nghiên
cứu triết lý Các Mác, Minh
rất thích thú khi đọc được
sự khám phá của Mác: đa
số các hệ thống triết lý,
tôn giáo chỉ tìm cách rắc rối
hóa mọi việc bằng những từ
ngữ khó hiểu và không thông
dụng để che giấu những mong muốn
thật sự của họ: áp đặt
những niềm tin cố định của
họ trên các độc giả!
Thực tế cuộc sống
của nhân dân miền nam sau tháng tư
1975 là con đường đi xuống
vực thẳm thật dài và thật
đau thương. Vài năm sau, Minh đi
theo lớp người vượt biên
tìm cách thoát khỏi quê hương
yêu dấu. Trước năm 1975, Minh
đã từng xuất ngoại trong các
chương trình du hành quan sát, Minh chưa
bao giờ nghĩ đến việc ở
lại nước ngoài, luôn luôn
mong ngày trở về quê hương;
nhưng bây giờ đối với
nhân dân, quê hương lại trở
thành nhà tù khổng lồ nên
hàng triệu người đã phải
chấp nhận tất cả để ra đi
vĩnh biệt quê hương, giống như
nàng Kiều buông trôi cho định
mạng:
Cũng liều nhắm
mắt đưa chân
Thử xem con tạo xoay vần
đến đâu.
Minh còn nhớ khuôn
mặt hớn hở của anh Tư, hàng
xóm của Minh, khi nghe tin quân Trung Cộng,
vừa là đồng chí, vừa
là anh em của các “đỉnh cao trí
tuệ”, tràn qua tấn công các tỉnh
ở miền bắc Việt Nam:
- Thấy các “người
vừa là đồng chí vừa
là anh em” chém giết nhau tôi mừng
quá anh Minh ơi, Tư vừa nói vừa
nhìn quanh để phòng hờ bóng
dáng công an khu vực. Hồi Trung Cộng
tấn công Trường Sa trước
năm 1975, tôi căm thù bọn xâm
lược, tôi xin tình nguyện ra chiến
trường để tiêu diệt bọn
xâm lăng, vậy mà bây giờ
tôi lại mừng khi có quân xâm
lăng.
- Nhưng khổ nỗi chỉ
những người dân lương
thiện lại bị hy sinh cho cuộc chiến phi
lý, Minh từ tốn đáp lời.
Số Minh còn đắm
chìm trong vực thẳm, sau nhiều lần
bị bọn lưu manh lừa gạt, Minh lại
rơi vào “địa ngục của trần
gian”. Khi ra khỏi địa ngục, Minh không
còn con đường nào khác,
tiếp tục đi vào cõi chết.
Nhưng khi đã tới đường
cùng: chiếc thuyền vượt biên
bé cỏn con trong đó có Minh, chỉ
dài chừng mười thước,
không còn la bàn, lạc lõng giữa
Thái Bình Dương, vun vút lao vào
cơn bão lớn; thì Minh lại được
tầu chở hàng của Á Căn
Ðình vớt. Người thuyền
trưởng Á Căn Ðình, mặc
dầu nhiều trở ngại khó khăn
về tài chánh khi vớt người
tỵ nạn, đã quyết định
vớt đám người khốn
khổ đang đi vào cõi chết.
Minh nhớ mãi cái tình nhân
loại bao la của người thuyền trưởng.
Minh được đi định
cư ở Canada. Còn mang nặng ảnh hưởng
của nền văn hóa trọng bằng
cấp, Minh lại tiếp tục nghề “học
gạo” để vươn lên. Nhưng Canada
là một xứ kỹ nghệ hóa
cao nên nghề “học gạo” của Minh không
có đất dụng võ, chỉ giúp
Minh có một việc làm ổn định
với đồng lương “ba cọc ba
đồng”.
Sự khác biệt về
văn hóa làm cho cuộc sống tinh thần
của Minh cũng gặp nhiều sóng gió.
Xuân, con Minh, lớn lên ở Canada,
được giáo dục ở trường
ngược lại với sự giáo
dục trong gia đình. Khi Xuân học lớp
ba bậc tiểu học được cô
giáo dậy dỗ là không được
nói dối.
- Hôm nay cô giáo dậy
con không được nói dối bố
ạ, Xuân khoe bố về kiến thức
của mình.
- Ðối với người
lương thiện thì mình không được
nói dối, nhưng đối với
kẻ nói dối mình thì mình phải
nói dối, chứ không thì mình
là kẻ ngu con ạ, Minh giảng giải cho
con với một sự tự tin tuyệt
đối vào bản lãnh của cá
nhân mình.
- Nhưng cô giáo bảo
là “Thượng Ðế” bảo vậy,
và tất cả mọi người phải
tuân theo.
- Bây giờ con còn
nhỏ, bố mới chính là thượng
đế của con, ai nói dối con, bố
cho phép con nói dối lại.
- Nhưng bố nói vậy
là ngược lại lời dậy
của cô giáo con, Xuân phản đối.
- Cô giáo con chỉ có
nền văn hóa ở đây, bố
được hấp thụ nhiều nền
văn hóa. Ngay với nền văn hóa
ở đây, cô giáo của con
cũng chỉ là người dậy trẻ
con ở tiểu học, trong khi đó bố
lại đang dậy những người
lớn ở đại học, thì
thử hỏi ai đúng, ai sai.
Xuân đuối lý, nhưng
trong lòng vẫn không phục mà lại
cho bố là người kiêu căng,
vô lối, dám tự cho mình là
“Thượng Ðế”, sợ cãi
cù nhầy có thể bị phạt, nên
đành im lặng.
Minh cư ngụ tại một thành
phố rất ít người Việt,
bạn bè của Xuân toàn là người
Pháp. Sự ảnh hưởng của
bạn bè, trường học, môi trường
sống càng ngày càng làm Xuân
mất dần ảnh hưởng của cha
mẹ. Cuộc sống ở Canada, trẻ con
được quá nuông chiều nên
đa số chỉ thích hưởng thụ,
không cần biết gì đến cha
mẹ, bà con , họ hàng; không cần
kính trọng ai, nể vì ai. Càng chịu
ảnh hưởng của bạn bè chung
quanh thì Xuân càng cảm thấy xa cách
bố, càng tận dụng sự nương
chiều của mẹ để hưởng
thụ, để sống một cách ích
kỷ hơn.
Minh đã chấp nhận
tất cả để ra đi cho con mình
được sống trong tự do, để
con mình có tương lai; nhưng Xuân
càng lớn thì Minh càng có
cảm giác là mình mất tất
cả: con mình chỉ có bề ngoài
là người Việt, còn tâm
hồn thì hoàn toàn xa lạ, chỉ
biết sống hưởng thụ như những
đứa trẻ khác người
bản xứ. Minh càng cố gắng giáo
dục thì chỉ thấy con mình càng
thù oán mình hơn! Có lúc Minh
nhớ lại đã từng nghe ở
Việt Nam các cụ ngày xưa có nói:
“Con hư tại mẹ, cháu
hư tại bà”.
Cái quan điểm sai lầm
đó chỉ làm cho mối quan hệ của
vợ chồng Minh khó khăn hơn, và
con Minh càng xa cách Minh hơn nữa.
Nhiều lúc Minh tự
than tiếc cho thân phận mình, lúc bé
thì sống trong xã hội đàn áp
trẻ con, lớn lên thì chiến tranh,
tù đầy, tủi nhục, lúc về
già thì lại sống trong xã hội
coi rẻ người già.
Nhưng trong cái họa nào
cũng có ẩn tàng cái phúc.
2. Tìm đường
giải thoát.
Bị dồn vào đường
cùng, Minh tự nhủ mình đã
đau khổ nhiều rồi và phải
chấm dứt ngay những đau khổ
dằn vặt vì gia đình, Minh nghĩ
đến chuyện đức Phật ngày
xưa đã gạt bỏ được
mọi cảm xúc tiêu cực như: thù
hận, giận hờn, buồn bã, lo âu,
sợ hãi và Minh nghĩ đến
những người xuống tóc đi
tu để rũ bỏ mọi phiền muộn
trong cuộc sống!
Nhưng Minh không phải là
một Phật tử. Lúc còn bé,
Minh được mẹ dẫn đi chùa
một vài lần. Cha Minh tự nhận là
người theo đạo Khổng nên
thường công kích, phê phán
các nhà sư cũng như thuyết luân
hồi. Kiến thức của Minh về
kinh kệ của Phật giáo là một con
số không. Nhưng là người
Việt Nam, Minh có cảm giác triết lý
của Phật giáo đã thấm nhuần
vào văn hóa của mình. Khi chính
quyền Ngô Ðình Diệm đàn
áp Phật giáo, Minh có cảm giác
như bản thân mình bị đàn
áp, nên hăng say tham gia biểu tình
chống đối. Thời gian đó,
Minh nghĩ rằng:
Vấn đề kiếp luân
hồi, không nên bàn đến và
nghĩ đến, vì cuộc sống hiện
tại mình chưa giải quyết xong, tại
sao lại nghĩ đến những chuyện
ở ngoài tầm tay.
- Luật nhân quả chính
là khoa học, là sự tìm kiếm
các nguyên nhân thật sự của
mọi hiện tượng thiên nhiên và
xã hội.
- Những tiếng cầu
kinh có thể làm dịu bớt những
niềm đau quá sức chịu đựng
của con người.
Nhưng Minh cũng chẳng có
dịp may để học hỏi thêm về
đạo Phật, vài vị “Sư” mà
Minh biết hồi trước 1975 lại là
những người đi tu để
trốn quân dịch. Khi còn bé, mẹ
Minh bảo Minh đọc kinh cho mẹ nghe thì
Minh chỉ thấy toàn những lời
vô nghĩa. Khi đã trưởng
thành, Minh cũng có đọc vài
cuốn sách viết về đạo Phật,
nhưng Minh chỉ thấy là các tác
giả thiếu trình độ văn hóa,
viết bậy bạ, thiếu khoa học, đi
ngược lại những gì mà
Minh hiểu về đạo Phật. Nhưng Minh
vẫn tin là có những cao tăng,
có thể tự xóa bỏ những
cảm xúc tiêu cực: thù hận,
giận hờn, buồn bã, lo âu, sợ
hãi, để sống một cuộc sống
đại hùng, đại trí, đại
từ bi. Và Minh cho rằng mình chưa
có cơ duyên gặp gỡ những
vị cao tăng.
Minh cũng được
nghe kể chuyện về nhiều vị sư
có tiếng tăm mà lại phạm rất
nhiều giới luật của Phật giáo,
lại sống thiếu đạo đức
hơn cả những người dân
thường lương thiện. Minh nghĩ
đến các vị mục sư của đạo
Tin Lành, vẫn có gia đình như
người thường, mà vẫn
có thể là những nhà lãnh
đạo tinh thần đáng kính. Minh
tự nhủ: đường hướng
của đạo Phật là tìm cách
tự giải thoát khỏi sự đau
khổ chứ đâu phải là chịu
đau khổ vì sự kiêng khem, nếu
các nhà sư cũng lập gia đình
như các mục sư Tin Lành thì vẫn
có thể đắc đạo chứ
sao.
Có lần Minh đọc
được ở một truyện ngắn,
một mẫu đối thoại giữa
một chú tiểu và một cao tăng
về bộ tranh mười bức vẽ
mục đồng chăn trâu,
- Ðây là thập mục
ngưu đồ, cũng là quá trình
tu học của một con người. Trâu
không là trâu mà chính là
cái tâm ta đó; vị cao tăng
giảng giải cho một chú tiểu.
- Bạch thầy, con xem bức
vẽ cuối cùng, không còn trâu
chẳng còn người, chỉ còn
trăng soi. Vậy cớ gì phải sống
trong dây trói. Ngày xưa Tuệ Trung Thượng
Sĩ là bậc ngộ đạo mà không
kiêng rượu thịt, vì chay mặn
chỉ là hình tướng bên ngoài,
không can hệ đến sự giác
ngộ bên trong; chú tiểu kính cẩn
hỏi sư phụ.
- Ðúng con ạ, với
bậc đắc đạo là thế. Nhưng
khi ta còn là một người phàm,
thì cũng như con trâu kia, phải có
sợi dây buộc, có người
chăn dắt. Ðến khi cái tâm
vững rồi, sáng rồi mới
có thể như trâu đen thành trâu
trắng, không ràng, không buộc, chẳng
những nhởn nhơ trên cỏ xanh
mà còn bay lên đến chín tầng
mây.
Minh cảm thấy như chính
mình được vị cao tăng giáo
huấn. Nhưng đối với bản
thân mình thì Minh cho rằng mọi sự
kiêng khem, giữ gìn giới luật
là không những không thích hợp,
mà còn có thể là lãng phí
hạnh phúc của đời mình.
Con Minh càng lớn thì
càng xa cách Minh hơn, hố sâu cách
biệt về tâm tư tình cảm cũng
như cách suy nghĩ, lý luận càng
ngày càng xa thăm thẳm. Ðối
với bà con thân thuộc và bạn
bè Minh cũng cảm thấy mình càng
cố gắng cư xử tử tế,
tình nghĩa với mọi người
thì càng bị mọi người hiểu
lầm, càng bị mọi người
lợi dụng lòng tốt của Minh. Niềm
tin sắt đá trong tâm hồn Minh: “ở
hiền gặp lành” bắt đầu bị
bật rễ!
Có lần Minh bảo lãnh
thân nhân từ Việt Nam sang Canada, Minh
phải đi vay tiền ở nhà băng
với lãi suất 14% (năm 1991 lãi
suất rất cao) để mua vé máy
bay cho thân nhân. Minh lo lắng chu đáo
vấn đề ăn ở cho thân
nhân vì Minh đã khốn khổ nhiều
trong lúc đầu bỡ ngỡ
nơi đất khách quê người.
Ngày đón thân nhân ở
phi trường Minh bị bệnh gút (số
lượng acid urique quá cao trong máu) hành,
ngón chân cái của chân phải
quá đau không đạp ga xe được,
Minh phải dùng gót chân để
đạp ga xe, lái xe một mình khoảng
ba trăm cây số để đi đón
thân nhân. Minh tự nghĩ mình phải
cố gắng hết sức mình để
giảm những khó khăn bước
đầu của thân nhân nơi miền
đất lạnh. Tất cả mọi cố
gắng hết sức mình của Minh chỉ
đem lại sự thù hận của thân
nhân, làm cho Minh hoàn toàn tuyệt
vọng, chỉ còn biết tự an ủi
bằng một câu nói của người
xưa: “cứu vật vật trả ơn, cứu
nhơn, nhơn trả oán”
Nhân dịp tham dự một
cuộc hội thảo về sức khỏe
tinh thần ở văn phòng Minh làm
việc, một chuyên viên tâm lý thuyết
trình về những phương pháp
để sống phù hợp với
những hoàn cảnh đang thay đổi
trong xã hội. Có ba phương pháp
làm Minh vô cùng thích thú:
- Thay đổi những niềm
tin cố định vì đó chính
là những nguyên nhân gây ra những
cảm xúc tiêu cực.
- Thay đổi diễn biến
trong tư duy (cinéma intérieur) vì đó
là nguyên nhân gây ra những âu
lo vô ích có hại cho sức khỏe
vật chất và tinh thần của bản
thân mình.
Sử dụng những
vận động sinh lý chẳng hạn như
ca một bản nhạc hùng để làm
thay đổi tình trạng tâm lý âu
sầu thành phấn khởi của bản
thân mình. Phương pháp này thì
Minh đã tự áp dụng cho bản
thân mình từ lâu, mỗi khi chùn
lòng trước những khó khăn,
Minh thường ngâm nga “đường
đi khó không khó vì ngăn sông
cách núi, nhưng khó vì lòng
người ngại núi e sông” của
nhà cách mạng Nguyễn Bá Học.
Minh vô cùng phấn khởi
về những kiến thức mới
thu thập được. Những mâu
thuẫn trong tâm hồn Minh càng ngày
càng gay gắt, đã đẩy Minh
đến một quyết định táo
bạo, một ngả rẽ trong cuộc đời
của Minh vào khoảng tháng tám năm
1999.
Mười mấy năm
trước đó, Minh đã quyết
định thôi hút thuốc lá, và
chỉ một lần quyết định Minh không
bao giờ hút thuốc lá nữa.
Bây giờ Minh quyết định cắt
đứt tất cả những cảm
xúc tiêu cực và Minh hy vọng rằng
mình sẽ thực hiện được.
Minh thông báo cho vợ con mình biết,
- Bố quyết định
từ nay cắt đứt mọi cảm
xúc tiêu cực: thù hận, giận
hờn, buồn bã, lo âu, sợ
hãi.
- Như vậy bố thành
Phật hay sao? Linh, con út của Minh, nêu câu
hỏi.
- Hễ trong nhà ai thấy
bố nổi giận hay lo âu sợ hãi
thì bố cho một đồng, Minh hứa
hẹn.
- Con có nhớ một
câu chuyện, Quang, con trai Minh, tham gia ý kiến.
Trong câu chuyện đó, người
bố trong gia đình quyết định
tìm cách chấm dứt những
tiếng chửi thề. Mỗi lần chửi
thề, ông ta bỏ một viên kẹo vào
trong một cái hũ trống. Chỉ ít
tháng sau mấy cái hũ đã
đầy, và ông ta tiếp tục chửi
thề.
- Rồi các con thấy, Minh
tự tin trả lời, mỗi lần
bố vi phạm thì ai được lãnh
tiền ghi lại để xem trong một năm
bố vi phạm bao nhiêu lần.
Mấy tuần sau, vợ
chồng Tuyến tới thăm vợ
chồng Minh,
- Anh Tuyến có biết không,
tôi bây giờ tu rồi anh ạ, Minh
khoe bạn về quyết định của mình.
- Nghĩ đến tu là
dấu hiệu của sự già, Tuyến
trả lời.
- Nhưng tôi không tu như
các tu sĩ khác đâu, tôi vẫn
ăn mặn, uống rượu, chơi xì
phé còm với bè bạn. Tú
Xương ngày trước thì chừa
rượu với chừa trà,
chứ tôi thì chủ trương chẳng
chừa gì mấy thứ đó.
Còn thứ mà Tú Xương chừa
không nổi thì tôi thấy không
những không nên chừa mà
còn cần tăng cường thêm
hoạt động vì tôi nghĩ những
hoạt động đó có lợi
cho sức khỏe thể chất và tinh
thần. Tôi tu là tôi cắt đứt
những cảm xúc tiêu cực, tạm
gọi là chủ nghĩa “năm không”:
không thù, không giận, không buồn,
không lo, không sợ.
- Tôi mà có quyền
trong tay thì tôi bắt tất cả những
người chủ trương “năm không”
đó sắp hàng rồi cho bắn
chết hết cho bớt những ký
sinh trùng của xã hội, Tuyến phát
biểu ý kiến cá nhân một cách
tàn bạo lạnh lùng.
Minh cười thật lớn,
để lấn át thái độ điên
khùng thù nghịch của Tuyến và
để tự trấn an bản thân mình.
- Anh nói không giận, không
buồn nữa nên tôi nói vậy
để thử nghiệm, Tuyến ngập
ngừng chữa thẹn trước
những cái nhìn tò mò của
vợ Minh và vợ Tuyến.
Nhưng cảm xúc là
một hiện tượng thiên nhiên của
con người. Cắt đứt cảm
xúc chỉ có thể thực hiện
được khi con người cắt
đứt mọi hoạt động xã
hội của mình, chẳng hạn như những
tu sĩ hoàn toàn xa lánh chuyện trần
gian. Trong khi đó Minh vẫn còn phải
đi làm nuôi vợ con, còn phải
đấu tranh với đời thì
làm sao Minh làm nổi! Và ngay cả
những quan hệ với vợ con hàng
ngày cũng gặp nhiều khó khăn:
- Một đứa trẻ
bị ngã đau, sẽ chờ đợi
ở người cha những cảm
xúc đặc biệt, khó có thể
chấp nhận một người cha trơ
như gỗ đá, không biết giận
biết buồn!
- Xu hướng bình thường
là trẻ con thích chơi hơn thích
học, nếu người cha mà không
còn xúc động thì làm sao dậy
dỗ con cái cho có nề nếp được.
Và những diễn biến
trong nội tâm của Minh lại càng hỗn
loạn hơn, cảm xúc cũng giống
như những bóng ma, chặt chỗ này
thì xuất hiện ở chỗ khác,
muôn hình muôn vẻ, càng đè
nén thì càng có nguy cơ bị
nổ tung, càng phủ nhận thì lại
càng thấy nó hiển hiện ngay trước
mắt!
Trước hoàn cảnh
hoàn toàn bế tắc, Minh thay đổi
chiến lược để có thể
tồn tại. Thay vì cắt đứt
mọi cảm xúc tiêu cực, Minh tìm
cách để hóa giải chúng. Loay
hoay tìm kiếm hết biện pháp này
đến biện pháp khác để
hóa giải các cảm xúc tiêu
cực của bản thân mình, Minh bắt
đầu viết ra những ý nghĩ
của mình để giúp trí nhớ.
Minh cũng đưa cho vợ con xem những
gì mình đã viết ra để
mọi người bình luận. Mọi người
đều tìm cách lảng tránh, không
muốn trả lời trực tiếp
là không muốn đọc những
gì Minh viết.
- Buồn hay giận thì là
chuyện bình thường, việc gì
bố phải bỏ, Quang , con trai Minh, khuyên
bố trở lại cuộc sống bình
thường như mọi người.
Nhưng Xuân, con gái lớn
của Minh thì bực mình vì phải
nghe những chuyện Minh nói về cách
hóa giải các cảm xúc tiêu
cực:
- Những chuyện bố
viết, con đã đọc trong các
sách cách đây mấy năm rồi,
Xuân phê bình gay gắt.
Minh nghe lời gay gắt của
Xuân như những tiếng chửi,
tiếng sỉ nhục về sự điên
rồ dại dột của mình. Nhưng đã
hứa không giận không buồn nên
Minh chỉ còn cách cười lớn
để tự trấn tĩnh rồi ra
khỏi nhà đi bách bộ cho dịu
bớt những đau đớn
tinh thần.
Minh cũng thông báo bằng
internet cho các bạn cũ ở xa về
việc sống một cuộc sống mới
không còn các cảm xúc tiêu
cực. Mọi người đều cho
rằng Minh nói chuyện tào lao, có
người gọi đùa Minh là “hòa
thượng bất cai” trong truyện chưởng
của Kim Dung, Minh cũng thầm nghĩ rằng
thế nào cũng có đứa
gọi Minh là “sư hổ mang!”.
Nhưng Minh vẫn tiếp tục
tìm mọi phương sách để hóa
giải các cảm xúc tiêu cực.
Mấy tháng sau, Minh thấy mình tiến
bộ khá nhiều, có chuyện gì buồn
thì đã rút ngắn được
thời gian buồn bã đến 50%,
Minh càng tự tin hơn và tiếp tục
thực hành mọi phương pháp hóa
giải.
Một trong những phương
pháp hóa giải là vận động
thể chất để tạo những cảm
súc tích cực nên Minh ghi tên học
“thái cực quyền”. Minh ít năng
khiếu về học võ nên lúc đầu
cũng có khó khăn. Cười
lớn đối với Minh cũng
là một cách để hóa giải
tức thời các cảm xúc.
Hát to một vài câu hát cũng
làm Minh hóa giải mau chóng một cảm
xúc tiêu cực. Nhưng trong cái phúc
nào cũng ẩn tàng cái họa,
mỗi lần Minh cười lớn
hay hát to là mọi người chung
quanh lại hiểu lầm tưởng là
Minh đang giận dỗi!
Có lần Xuân nói:
- Trong gia đình, ai cũng
cảm thấy khó chịu khi bố hát,
mọi người không dám nói
ra vì thiếu can đảm nên con phải
nói cho bố biết để bố sửa
đổi!
Minh tự nhủ: “Thật là
quá quắt! mình nhịn ăn nhịn
tiêu để lo lắng cho gia đình,
càng cố gắng lo lắng dậy dỗ
con cái thì càng thấy bị oán
hận. Có chuyện bực mình thì
người khác la lối chửi bới,
còn Minh thì chỉ ca hát để tự
hóa giải mà cũng vẫn bị kết
tội!” Có người chê Minh là
ngu, không biết dậy dỗ con, nên khổ
là đáng đời!. Minh thầm
nghĩ đến chuyện ngày xưa: “Thị
Kính phải giả trai để đi tu,
bị Thị Mầu tán tỉnh vì sắc
đẹp. Vì thất bại trong sự
chiếm đoạt Thị Kính, Thị Mầu
thù Thị Kính và khai man với
làng nước rằng Thị Kính
là cha của con Thị Mầu. Chấp nhận
tất cả mọi oan khiên, Thi Kính lặng
lẽ nuôi đứa bé, không
một lời ta thán trước búa
rìu dư luận”. Câu chuyện thật thương
tâm nhưng ngày nay cũng có kẻ
lại phê bình là Thị Kính sai
lầm vì không chịu nói lên sự
thật!
Minh cương quyết đi
theo con đường đã chọn,
luôn luôn hóa giải mọi cảm xúc
tiêu cực. Tới cuối năm 2000
thì Minh tự cảm thấy mình đã
có khả năng hóa giải được
những cảm xúc tiêu cực khá
hữu hiệu, thu ngắn được
những khoảng thời gian đau đớn
tinh thần một cách kỳ diệu, chẳng
hạn như cùng một hiện tượng
thiên nhiên hay xã hội mà trước
kia Minh cảm thấy đau đớn, bực
tức hàng giờ, hàng ngày,
thì bây giờ Minh chỉ cần cười
thật to là đã trở lại vui
vẻ ngay được. Minh lại cảm
thấy một sự biến đổi kỳ
diệu trong tâm hồn mình, thấy biến
hết những mặc cảm ám ảnh
từ mấy chục năm, thấy biến
luôn cả sự lười biếng.
Minh vô cùng phấn khởi, Minh có
cảm giác mình đã phá vỡ
được bức tường
vô hình giam hãm tâm hồn mình
trước kia.
3. Học tập để sống
phù hợp với sự tiến
hóa của thiên nhiên và xã
hội chung quanh.
Một trong những biện
pháp hóa giải của Minh là học
tập để sống phù hợp với
sự tiến hóa của thiên nhiên
và xã hội chung quanh (tu thân). Minh bắt
đầu tìm tòi các tài liệu
viết về tâm lý vì vấn đề
hóa giải các cảm xúc tiêu
cực chính là một vấn đề
tâm lý.
Cuốn sách tâm lý
đầu tiên làm Minh chú ý là
cuốn “Pouvoir illimité” của Anthony Robbins. Mặc
dầu có nhiều điểm Minh không
đồng ý với tác giả,
nhất là những điểm mà
tác giả khẳng định một cách
chủ quan, nhưng Minh cũng rút tỉa được
một số bài học hữu ích:
- Sự hiện hữu của
tác dụng hỗ tương giữa “cảm
xúc” và những “hoạt động
tinh thần và thể chất”. Những
hoạt động tinh thần là những
diễn biến trong tư duy, là sự đối
thoại với chính nội tâm mình,
là sự giải thích những hiện
tượng khách quan ở trong nội
tâm mình. Những hoạt động
thể chất bao gồm những vận động
sinh lý chẳng hạn như ca hát, khóc,
cười, đứng ngồi v.v... Nếu
chúng ta làm chủ được những
hoạt động tinh thần và thể chất
của bản thân mình, thì là chúng
ta có thể làm chủ được
cảm xúc của chính mình.
- Niềm tin tạo nên sức
mạnh và chúng ta có thể xây
dựng những niềm tin sống động
để tăng cường sức
mạnh tinh thần cho chính mình, chẳng
hạn như niềm tin “sống là vận
động” có thể xóa bỏ tính
lười biếng trong tâm hồn.
- Những sinh hoạt hàng
ngày (ăn, uống, thở, v.v...) có
ảnh hưởng trực tiếp tới
sức mạnh thể chất và chúng
ta có thể áp dụng các sinh hoạt
thích hợp với bản thân để
tăng cường sức mạnh.
- Một điểm tựa
tâm lý có thể thay đổi ngay
lập tức trạng thái tâm lý
của con người, tương tự
như trong thí nghiệm của Pavlov, mỗi lần
nghe tiếng chuông rung, con chó bị chảy
nước miếng. Chúng ta có thể
tạo những điểm tựa tâm
lý cho chính bản thân mình để
thay đổi tức thời tình
trạng tâm lý và lấy lại sức
mạnh tinh thần.
Những bài học đó
khuyến khích Minh tìm hiểu cuốn sách
thứ hai của cùng tác giả (L'éveil
de votre puissance intérieure - awaken the giant within). Cũng
như cuốn thứ nhất, có nhiều
điểm Minh không đồng ý với
tác giả, nhưng Minh cũng rút tỉa
được vài bài học hữu
ích:
- Tất cả mọi hành
động của con người đều
bị chi phối bởi hai động cơ:
tìm kiếm khoái lạc và tránh
né sự đau đớn. Nhờ
bài học này, Minh thấy rõ hơn
những hành động đạo đức
giả của người khác ẩn tàng
dưới những chiếc mũ đạo
đức, lý tưởng, tôn
giáo, yêu nước, thương dân
v.v...
- Những phương pháp
để xây dựng những niềm
tin sống động mới và bồi
dưỡng những niềm tin sẵn
có.
- Sự xuất hiện những
cảm xúc và sự thúc đẩy
hành động của con người
do tác dụng hỗ tương giữa
năm thành phần trong mỗi cá nhân:
các loại khoái lạc, các loại
đau khổ, các niềm tin, các nguồn
tham khảo, tình trạng tâm lý. Sự
thay đổi một thành phần có
thể kéo theo sự thay đổi các
thành phần khác.
- Ai cũng có thể làm
chủ những cảm xúc của bản
thân mình, gạt bỏ tất cả ảnh
hưởng của những người
chung quanh trên cảm xúc của bản thân.
- Những nguyên tắc
và quan điểm về giá trị trong
cuộc sống của một cá nhân có
ảnh hưởng vô cùng lớn
lao trên đời sống của cá
nhân đó. Sự xét lại những
vấn đề đó có thể thay
đổi hẳn cuộc sống của một
cá nhân.
Trong những bài học
đó thì Minh thích nhất bài
học liên quan đến vấn đề
làm chủ những cảm xúc cá
nhân của mình. Nếu thực hiện
được việc đó thì chúng
ta có thể luôn luôn sống trong an
lạc, không một hiện tượng thiên
nhiên hay xã hội khách quan nào có
thể gây cho chúng ta phiền não, lo
âu.
Hoàn cảnh thiên nhiên
và xã hội chung quanh chúng ta luôn
luôn biến đổi không ngừng,
Minh tự nhủ: cuộc sống an lạc không
phải là một thường tại bất
biến mà là một cuộc sống luôn
luôn vận động phù hợp với
những thay đổi không ngừng
đó, nên muốn sống an lạc thì
chúng ta luôn luôn cần thấu hiểu
môi trường chung quanh ta.
4. Cơ duyên.
Nhân dịp đọc một
lá thư của các bạn cũ, Minh được
biết rằng có một giáo sư đại
học Mỹ đã xuống tóc đi
tu sau khi đọc cuốn “Ðường
Xưa Mây Trắng” của Thích Nhất
Hạnh, Minh vội vàng tìm đọc để
xem có rút tỉa được bài
học nào chăng. Nhưng ngay sau đó,
lại thấy báo chí trên internet tố
cáo nhà sư là một người
thân Cộng nên Minh thôi không tìm
kiếm cuốn sách đó nữa.
Vài tuần sau, Bình, một người
quen biết Minh, đưa cho Minh một cuốn
sách dầy hơn 600 trang.
- Tôi đã kiếm được
cuốn sách anh đang tìm đọc đây,
Bình vừa nói vừa đưa
cuốn “Ðường Xưa Mây Trắng”
cho Minh.
- Tôi thấy báo chí
nói tác giả thân Cộng, nên tôi
không có hứng đọc nữa,
Minh trả lời.
- Ðọc sách đâu
phải là mình theo chính kiến của
tác giả, mà là mình tìm hiểu
những cái hay trong sách, Bình khuyến
khích Minh.
Mặc dầu không còn
cái hào hứng lúc đầu,
Minh cũng thử đọc cuốn “Ðường
Xưa Mây Trắng”.
Vì không có sự
háo hức của sự đi tìm
chân lý nên Minh áp dụng phương
pháp “đọc nhanh” để “thanh toán”
cuốn sách dầy hơn 600 trang.
Tới trang 93, khi đọc:
“Có khi ông (Phật khi chưa
đắc đạo) chỉ ăn một miếng
phân bò khô trên bờ ruộng”.
Minh rất bất mãn, và
nói với vợ:
- Tác giả viết kỳ
cục quá. Phật là người thông
minh sáng suốt đời nào lại
làm chuyện như vậy.
- Tại anh có thành kiến
trước với tác giả là
người thân Cộng.
Minh thấy chuyện “giấy
trắng mực đen” như vậy mà
mình cũng không thuyết phục được
người khác, thôi đành
cười lớn để quên
chuyện đời. Minh tự nhủ, cuốn
sách nổi tiếng, chắc chắn phải
có những điểm hay, mình phải
bỏ qua những cái dở và
học tập những cái hay, bực
mình vì cái dở của người
khác quả là dại dột, và Minh
tiếp tục tìm hiểu cái hay trong cuốn
sách.
Cuốn sách kể chuyện
của hơn 25 thế kỷ trước,
khi Phật đi tìm đường tự
giải thoát. Chuyện xẩy ra khi loài
người còn rất nhiều khó
khăn trong vấn đề chữ viết
thì chắc chắn không thể nào
giống như những chuyện ghi lại sự
việc xẩy ra ngày nay. Minh ít chú ý
đến những đoạn mô tả
cuộc sống của ngày xưa mà sự
ghi chép còn thiếu phần chính xác,
và khi đọc lướt qua những
câu chuyện có tính cách dã
sử nói về kiếp trước
Minh nghĩ rằng đó chỉ là những
quan điểm chủ quan của những người
ghi chép lại. Khi đọc qua những
phần tâm lý và triết học thì
Minh vô cùng ngạc nhiên vì nội
dung cuốn sách đó khác hẳn
với các cuốn sách viết về
đạo Phật mà Minh đã đọc
và đã nhận định rằng
các tác giả vừa thiếu kiến
thức, vừa mê tín dị đoan.
Minh phải ghi lại số trang để đọc
lại lần thứ hai những đoạn
đó.
Tới trang 109, khi đọc
lý luận của Phật :
“Tham đắm, giận hờn,
kiêu căng, nghi ngờ, sợ hãi
v.v... những tâm niệm ấy đều
phát sinh từ gốc vô minh. Nếu
mỗi người biết tìm cách
tĩnh tâm để nhìn lại, để
quán chiếu sâu sắc vào lòng
sự vật thì ai cũng có thể
đạt tới sự hiểu biết,
và sự hiểu biết này sẽ
làm tiêu tán được mọi
phiền não và làm phát sinh được
sự chấp nhận và niềm tin yêu”.
Minh thấy lý luận đó
cũng giống như việc Minh đang tìm
kiếm các biện pháp để hóa
giải các cảm xúc tiêu cực,
chỉ có khác là Minh đã được
thừa hưởng sự tiến bộ
của loài người trong 25 thế kỷ
vừa qua. Minh nghĩ rằng Phật là
một nhà tâm lý đại tài
nên hơn 25 thế kỷ trước
đã nghĩ đến những vấn
đề đó.
Tới trang 111, khi đọc:
“Lạ thay, tất cả mọi
chúng sanh đều có sẵn hạt giống
của trí tuệ giác ngộ trong lòng.
Vậy mà trong ngàn muôn ức kiếp
cứ để cho tự mình lặn
ngụp trong biển sinh tử khổ đau.
Thật là đáng thương.”
Minh thấy ý niệm đó
cũng tương tự như ý niệm
của Anthony Robbins muốn đánh thức
khả năng vô hạn ẩn tàng trong
mỗi chúng ta (awaken the giant within), chỉ có
khác là Anthony đã được
thừa hưởng sự tiến bộ
của loài người trong 25 thế kỷ
vừa qua.
Tới trang 118 khi đọc:
“Sống tính thức là
sống trong giờ phút hiện tại,
và biết được những
gì đang xẩy ra trong bản thân mình
và hoàn cảnh mình. Sống như
thế ta tiếp xúc được với
sự sống, và nếu tiếp tục
sống tinh cần như thế ta có thể
hiểu biết được bản thân
ta và hoàn cảnh ta một cách sâu
sắc”.
Minh thấy quan niệm vui sống
của mình cũng tương tự như
quan niệm “sống tính thức”, chỉ
có khác là Minh đã được
thừa hưởng sự tiến bộ
của loài người trong 25 thế kỷ
vừa qua và Minh đang được
sống ở một xứ sở mà
đời sống người dân
được xếp hạng là một
trong những đời sống cao nhất
thế giới.
Tới trang 134, khi đọc:
“Có hai thái cực mà
người tu đạo nên tránh:
một là lao mình vào khoái lạc
nhục thể, hai là hành hạ thân
xác cho hao mòn. Cả hai con đường
đều đưa tới sự phá
sản của thân tâm”.
Minh thấy rằng chủ trương
không kiêng khem của mình, trong khi tìm
cách tự giải thoát khỏi những
lo âu phiền não, cũng không có
gì là quá đáng.
Tới trang 135, khi đọc
về bốn sự thật: khổ đau,
nguyên nhân của khổ đau, sự
chấm dứt khổ đau, con đường
diệt khổ, Minh thấy việc mình tìm
các biện pháp để hóa giải
các cảm xúc tiêu cực cũng
tương tự như con đường
diệt khổ của Phật, nhưng ngày nay,
Minh có thể sử dụng những
tiến bộ, mà ngày xưa loài người
chưa biết, vào việc diệt khổ.
Tới trang 172, khi đọc:
“Mỗi người trong chúng
ta đều có tính Phật trong lòng,
và vì vậy ai cũng có thể trở
thành người tính thức như
Phật. Tính Phật này là khả năng
tính thức, khả năng vượt
thoát ảo vọng”.
Minh thấy việc mình tìm
các biện pháp để hóa giải
các cảm xúc tiêu cực là
một việc làm thực tế, không
phải là một việc viển vông.
Tới trang 198, khi đọc
sự phê phán các chủ thuyết
của Phật:
“Một khi đã bị kẹt
vào một chủ thuyết rồi thì
người ta mất hết tự do. Người
ta trở nên độc đoán, cho
rằng chỉ có chủ thuyết của
mình mới là chân lý còn
tất cả các chủ thuyết khác
đều là tà đạo”.
Minh vô cùng thích thú
và thán phục triết lý của
Phật. Minh nhớ lại cuộc chiến tranh
ý thức hệ thế giới đã
giết hại ba triệu người Việt
Nam vô tội chỉ vì một số người
bị kẹt vào một chủ thuyết sai
lầm!
Khi người ta hỏi rằng
giáo pháp của Phật có phải
là một chủ thuyết không thì
Phật trả lời (trang 200):
“Không, giáo pháp tôi
dạy không phải là một chủ thuyết
xây dựng trên trí năng. Ðó
là kinh nghiệm thực chứng. Những
gì tôi nói ra đều đã
thực chứng, và ông bạn cũng
có thể kiểm điểm bằng kinh
nghiệm thực chứng của ông bạn.
Tôi nói vạn vật vô thường
và không có tự ngã. Ðiều
này tôi đã chứng nghiệm
và các bạn cũng có thể chứng
nghiệm. Tôi nói vạn vật nương
vào nhau mà sinh khởi, tồn tại
và hoại diệt, chứ không xuất
phát từ một nguyên nhân đầu
tiên nào hết.”
Minh nghĩ Phật là một
nhà đại hùng biện và khoa học
của hơn 25 thế kỷ về trước,
đã nhìn thấy được
quy luật sinh khởi, tồn tại và
hoại diệt của vạn vật. Với
sự phát triển vượt bực
của khoa học ngày nay, chúng ta có
thể dễ dàng nhìn thấy những
quy luật thiên nhiên và xã hội
chung quanh ta. Nhất là từ khi Pavlov tìm
ra quy luật về phản ứng có điều
kiện của cơ thể động vật,
con người càng hiểu rõ hơn
về cơ thể của mình. Ngày nay,
dựa trên những quy luật đã
được kiểm nghiệm thực chứng,
chúng ta có thể điều kiện hóa
cả cảm xúc của mình. Nói một
cách khác đường hướng
thực nghiệm mà Phật đã nhìn
thấy từ 25 thế kỷ trước
chính là đường hướng
phát triển của lịch sử loài
người.
Tới trang 201, khi đọc:
“Quán chiếu để
có thể thấy được bản
chất và nguồn gốc của các
cảm thọ. Thấy được nguồn
gốc của các cảm thọ rồi, ta
sẽ thấy bản chất của cảm thọ,
ta sẽ thấy cảm thọ cũng có
tánh vô thường và vô ngã
như tất cả các pháp khác. Sự
sinh diệt của chúng dần dần sẽ
không động được tới
ta. Hầu hết các cảm thọ của
ta đều bắt nguồn từ nhận
thức sai lầm về thực tại.
Nhổ bật gốc rễ của những
sai lầm ấy lên thì khổ thọ không
còn”.
Minh cảm thấy khả năng
xét đoán về tâm lý của
Phật thật siêu phàm. Hai mươi lăm
thế kỷ sau, đa số loài người
vẫn chưa đạt được khả
năng đó mặc dầu đã được
thừa hưởng biết bao nhiêu
là tiến bộ khoa học. Người
ta còn cứ bám chặt vào những
niềm tin cố định, vào những
chủ nghĩa giáo điều để
biến chúng thành những bức
tường vô hình giam hãm chính
tâm hồn mình. Minh càng cảm thấy
tự tin hơn trong việc tìm kiếm các
biện pháp để hóa giải các
cảm xúc tiêu cực. Minh thấy biện
pháp quán chiếu của Phật là
một biện pháp hay nhưng tốn nhiều
thời giờ tu luyện và đòi
hỏi một ý chí mạnh, trong khi đó
ngày nay người ta có thể vận
dụng những quy luật chẳng hạn như
quy luật “hành động tạo cảm xúc
mới” và những phương pháp
phân tích khoa học để đạt
được kết quả đó một
cách mau chóng hơn. Hơn nữa, trong
khi mất quá nhiều thì giờ
để tu luyện, con người có
thể bị xa rời thực tại luôn
luôn biến động với những
tiến bộ hàng ngày của loài
người.
Tới trang 206, khi đọc:
“Ðối với những
người đã quán chiếu và
đạt đạo, cái đẹp vẫn
là cái đẹp, nhưng vì đã
đạt tới giải thoát và
tự do, họ không còn bị cái
đẹp hay cái xấu khống chế
nữa. Không phải là họ dửng
dưng không thấy cái đẹp, sự
thực là họ không bị nô lệ
cho cái đẹp. Nhìn vào cái đẹp,
họ thấy được cái không
đẹp đã góp phần làm
ra cái đẹp. Nhìn vào cái xấu,
họ thấy những cái không xấu
đã góp phần làm ra cái xấu.
Họ thấy được tính cách
vô thường của vạn pháp,
đẹp cũng như xấu, vì vậy
họ không bị cái xấu làm cho
chán nản cũng như không bị cái
đẹp làm cho đam mê.”
Minh vô cùng thích thú
về quan niệm về đẹp và xấu
của Phật. Minh thầm nghĩ quan niệm đó
đã bồi dưỡng thêm quan
niệm sẵn có của Minh về đẹp
và xấu. Minh quan niệm rằng trong cái
đẹp nào cũng có một phần
xấu và trong cái xấu nào chẳng
có điểm đẹp và Minh luôn
luôn tìm cách thưởng thức
những điểm đẹp của cái
xấu và dùng những phần xấu
của những cái đẹp để
ngăn chặn sự đam mê. Minh ngắm
nhìn những người con gái
trẻ đẹp cũng giống như ngắm
nhìn những bông hoa rực rỡ,
cũng giống như ngắm nhìn cái
đẹp của bầu trời khi rạng
đông hay lúc hoàng hôn. Mỗi
lần có bão tuyết, Minh say sưa ngắm
nhìn tuyết quấn theo gió lốc từ
dưới đất bay lên mái nhà.
Nhìn ra vườn phía sau nhà phủ
đầy tuyết trong mùa đông,
Minh có cảm giác như đứng
trước rừng kim cương rực
rỡ phản chiếu ánh sáng mặt
trời hay ánh sáng của ngọn đèn
đường. Minh tìm thấy quê
hương trên những websites, ở
đó con người có sự
tự do tuyệt đối.
Tới trang 210, khi đọc:
“Thưa phụ vương, đi
khất thực là một phép tu nhằm
thực hiện tinh thần khiêm cung và
bình đẳng. Khi con nhận một củ
khoai của một gia đình nghèo khổ,
con cũng có thái độ cung kính
như khi con nhận một món ăn sang trọng
do một vị đế vương cúng
dường. Thái độ cung kính
này chứng tỏ rằng con đã
có thể vượt ra khỏi sự
phân biệt sang hèn, và cũng chứng
tỏ rằng bất cứ ai dù nghèo
hèn đến mấy cũng có nhân
phẩm và cũng có thể đạt
tới giải thoát và giác ngộ.”
Minh rất thán phục sự
khiêm tốn và quan điểm bình
đẳng của Phật. Hai mươi lăm
thế kỷ sau mà đa số nhân loại
còn chưa đạt được quan
điểm bình đẳng giữa người
với người, còn cứ
cố bám vào những niềm tin
cố định, những chủ thuyết
lầm lạc để chém giết lẫn
nhau. Minh rất thích quan điểm khiêm
tốn của Phật vì Minh thấy chính
nhờ sự khiêm tốn đã
đem lại cho Minh sự sáng suốt trong
việc hóa giải mọi cảm xúc tiêu
cực. Minh tự nhủ: “Ði khất
thực có thể là một biện pháp
cần thiết để thực hiện tinh
thần khiêm cung và bình đẳng
trong hoàn cảnh thời gian và không
gian của Phật”. Nhưng với hoàn
cảnh ngày nay thì Minh nghĩ chỉ có
sự làm việc mới thực
hiện được tinh thần khiêm
tốn và bình đẳng, chỉ có
sự làm việc mới là sự
sống thực. Mặc dầu chính Minh đã
bất đắc dĩ trở thành
“ăn mày quốc tế” trên Thái
Bình Dương khi năn nỉ các tầu
buôn vớt chiếc thuyền vượt
biên trong đó có Minh đang lao đầu
vào bão tố, nhưng Minh cho rằng việc
sử dụng thành quả lao động
của người khác không phải
là việc từ bi bác ái, chỉ
có sự làm việc mới thực
sự tạo cơ hội cho chúng ta có
dịp làm những việc từ bi
bác ái (dĩ nhiên cảm hóa được
một người cũng là một việc
làm vô cùng lớn lao).
Tới trang 221, khi đọc:
“Sự sống còn có
một mặt khác: đó là sự
có mặt của những mầu nhiệm
trong cuộc đời, và nếu con người
được tiếp xúc với
những mầu nhiệm ấy, con người
sẽ có niềm vui và sự an lạc.
Khi tâm ta được giải thoát
ta tiếp xúc ngay được với
những mầu nhiệm ấy. Phá được
vô minh rồi, ta sẽ thênh thang trong thế
giới của an lạc, của giải thoát,
của niết bàn. Niết bàn là
sự chấm dứt của vô minh,
của tham đắm và giận hờn.
Niết bàn cũng là sự hiển
lộ của niềm an lạc và giải thoát”.
Minh vô cùng thích thú,
vì sau hai năm áp dụng các biện
pháp hóa giải các cảm xúc
tiêu cực, Minh nhận định được
cuộc sống của chính mình là
một phép nhiệm mầu huyền diệu
của thiên nhiên và Minh tự hứa
“tìm mọi cách để sống tươi
vui, hữu ích cho mình, cho người
khác; để làm tăng sự huyền
diệu của thiên nhiên trong sự sáng
tạo ra bản thân mình”. Thế mà
Phật đã biết đến sự
huyền diệu ấy từ hơn hai mươi
lăm thế kỷ trước, càng
suy nghĩ, Minh càng cảm thấy thán
phục triết lý sâu sắc của Phật.
Tới trang 264, khi đọc:
“Tình thương mà người
đời thường nói tới
là tình thương giữa cha mẹ
và con cái, giữa vợ và
chồng, giữa những người
trong cùng họ hàng, cùng thân tộc,
cùng giai cấp hay cùng quốc gia. Vì
tình thương ấy dựa vào ý
niệm 'tôi' và 'của tôi' cho nên
bản chất của nó là vướng
mắc là phân biệt. Vướng
mắc cho nên lo lắng về những
bất trắc có thể xẩy đến
dù chúng chưa xẩy đến, vướng
mắc cho nên phải gánh chịu sầu
đau và thất vọng mỗi khi những
bất trắc xẩy đến. Phân biệt
cho nên có thái độ kỳ thị,
hờ hững và ghét bỏ đối
với những người mình
không thương. Vướng mắc và
kỳ thị đều là những
nguyên nhân của khổ đau, khổ
đau cho mình và cho người”.
Minh cảm thấy sự phân
tích của Phật thực là sâu
sắc. Minh cũng thường phân biệt
hai loại tình thương: tình thương
mù quáng thường do tính ích
kỷ và sự chiếm hữu thúc
đẩy và tình thương có lý
trí soi sáng, không có điều
kiện, không bắt buộc và không
đòi hỏi bất cứ một sự
đền đáp nào, luôn luôn
hòa hợp với lòng bác
ái, đức từ bi. Loại thứ
nhất thì thường gây ra đau
khổ, phiền não, còn loại thứ
hai thì đem lại nguồn sống cho tâm
hồn. Phân tích của Phật tuy sâu
sắc, nhưng cũng có thể làm
cho những người bình thường
chúng ta tự hỏi: nếu xóa bỏ
vướng mắc và phân biệt,
phải chăng chúng ta sẽ mất hết
bà con, thân thuộc, mất hết xóm
làng, quê hương? Khi thuyền vượt
biên trong đó có Minh được
cứu vớt trên Thái Bình
Dương, Minh đã cảm nhận được
tình nhân loại, một loại tình thương
không có vướng mắc và
kỳ thị. Minh thiết nghĩ nếu bỏ
vướng mắc và kỳ thị,
chúng ta vẫn còn bà con, thân thuộc,
xóm làng, quê hương vì đó
chính là môi trường sống
của chúng ta, là những người
mà chúng ta thường xuyên có
những liên hệ, thường xuyên
tạo cho chúng ta những cảm xúc
tích cực hay tiêu cực. Nếu
chúng ta hóa giải được các
cảm xúc tiêu cực tình thương
của chúng ta sẽ dần dần biến
dạng để xóa dần những
vướng mắc và kỳ thị.
Một thí dụ cụ thể: tình thương
của một người con đã trưởng
thành đối với người
mẹ mắc bệnh cờ bạc ở
Casino. Nếu người con chưa nhận định
được hai yếu tố vướng
mắc và kỳ thị của tình thương
thì có thể sẽ vô cùng xấu
hổ, đau khổ, nhức nhối vì
chuyện cờ bạc của người
mẹ. Với tình thương không
vướng mắc và kỳ thị,
người con sẽ sáng suốt hơn
trong những biện pháp đối phó
với bệnh của mẹ (chứ không
phải đối với mẹ), vẫn
có thể săn sóc mẹ tận tình
như những người con có hiếu,
chẳng hạn như tìm cách chữa
bệnh cho mẹ bằng những lời
khuyên, bằng sự phân tích, sự
khuyến khích, bằng những phương
tiện xã hội (khuyến khích mẹ tham
gia hội nạn nhân của cờ bạc),
bằng những chuyên gia tâm lý
v.v... Như vậy bệnh cờ bạc của
người mẹ không thể làm cho
người con đau khổ, mà lại
là dịp báo hiếu của người
con để giúp mẹ thoát ra khỏi
vòng nghiện ngập. Người mẹ
có khỏi bệnh hay không vẫn không
ảnh hưởng gì đến hạnh
phúc của người con vì hành
động sáng suốt đã mang lại
sự an lạc trong tâm hồn của người
con.
Nhưng đối với
những nạn nhân khác của cờ
bạc thì sao?
Nếu gặp dịp thì người
con cũng có hành động tương
tự, chỉ có khác là trong cuộc
sống của người con, sự gặp
gỡ mẹ thì thường xuyên,
còn sự gặp gỡ các nạn
nhân khác thì hiếm hoi.
Tới trang 267, khi đọc:
“Ta phải biết quan sát
để thấy được bản chất
của tình thương của chúng ta. Tình
thương theo lẽ phải thì phải làm
cho người được thương
yêu có an lạc và hạnh phúc.
Nhưng nếu chỉ là đam mê, chỉ
là ích kỷ, là ý chí chiếm
hữu, thì tình thương này
không thực sự là tình thương,
tình thương này không làm cho
người được thương
có an lạc và hạnh phúc. Trái
lại nó làm cho kẻ kia cảm thấy
tù túng, lệ thuộc, mất hết
tự do, mất hết phẩm cách của
một con người có tự do. Tình
thương trong trường hợp này
chỉ là một tù ngục. Nếu người
được thương không có
hạnh phúc, nếu người ấy
tìm cách để phục hồi lại
tự do mình, nói một cách khác,
nếu người ấy không chấp
nhận cái nhà tù của sự
chiếm hữu thì tình thương
kia sẽ dần dần biến thành sự
ghét bỏ và hận thù”.
Minh nhận thấy nhận xét
của Phật về tình thương rất
rõ ràng và chính xác. Nhưng
trong cuộc sống bình thường ngày
nay, tình yêu giữa hai người
thường bao gồm cả sự đam
mê, sự ích kỷ, ý chí chiếm
hữu với ý mong muốn người
mình yêu được hạnh phúc
và người đang yêu thường
bị lẫn lộn không biết đâu
là giới hạn giữa những
yếu tố đó. Tình yêu đó
lại là nhu cầu của cuộc sống
của cả hai người yêu nhau nên
lúc đầu thường mang lại
hạnh phúc tràn trề. Khi sự đam
mê, sự ích kỷ, ý chí chiếm
hữu của một người vượt
quá giới hạn mà người
kia chấp nhận thì tình yêu mới
đổ vỡ, mới đem lại
đau khổ. Tình yêu đó có
thể hiếm hoi đối với nhân
loại hai mươi lăm thế kỷ về
trước. Trong loại tình yêu này,
nếu loại bỏ một số yếu tố
như đam mê, ích kỷ, chiếm hữu
thì tình yêu cũng biến mất
và hạnh phúc lứa đôi khó
mà tồn tại. Hy sinh hạnh phúc để
tránh đau khổ là cái giá
quá đắt và không ai chấp
nhận, nhưng biết trước những
nguyên nhân gây ra đau khổ thì
con người có thể dễ dàng
bảo vệ hạnh phúc của mình. Nói
một cách khác, sự hạn chế
tính ích kỷ và tính chiếm hữu
có thể tạo ra tình yêu đôi
lứa hạnh phúc lâu dài.
Về những loại tình
thương khác tình yêu đôi
lứa thì con người có thể
loại bỏ những yếu tố đam
mê, ích kỷ, chiếm hữu để
hưởng thụ những thành quả
hạnh phúc do tình thương mang lại.
Chẳng hạn như tình thương của
cha mẹ đối với con cái trong
các nước có nền kinh tế
phát triển cao và tổ chức xã
hội văn minh (thiên đàng xã
hội chủ nghĩa thực sự)ï,
cha mẹ thường không cần mong đợi
ở sự báo hiếu của con cái
nên tình thương vô điều
kiện dễ thực hiện hơn.
Nhưng khi con người còn
phải đấu tranh gay gắt với
thiên nhiên và xã hội để
tồn tại thì tình thương không
điều kiện là một thứ quá
xa xỉ, thông thường dành riêng
cho những kẻ có đặc quyền
đặc lợi hoặc những kẻ
ăn bám trên thành quả lao động
của người khác và tình
thương hai chiều nghĩa là có
điều kiện có thể tượng
trưng cho sự công bằng và bình
đẳng giữa người với
người.
Tới trang 268, khi đọc:
“Muốn cho một người
nào có hạnh phúc, mình phải
tìm hiểu cho được những
ước vọng và những khổ
đau của người ấy. Hiểu
được rồi mình mới
có thể làm mọi cách để
cho người ấy bớt khổ đau
và có hạnh phúc. Như vậy mới
gọi là có tình thương chân
thật”.
Minh thấy phương pháp
của Phật để làm cho người
khác có hạnh phúc thật là tuyệt
vời. Nhưng khi bàn luận với
bạn bè về quan điểm đó,
Minh đã lúng túng trước
vấn đề:
Nếu bản thân mình
không có hạnh phúc thì làm
sao mình có hơi sức và thời
giờ để tìm hiểu ước
vọng và khổ đau của người
khác, lo hạnh phúc cho bản thân chưa
xong mà đòi lo cho thiên hạ thì
phải chăng là đang mơ ngủ! Giả
thử như có người nói
sẵn sàng hy sinh bản thân để
lo cho hạnh phúc của người khác,
thì chưa chắc người đó
có đủ sáng suốt để
tìm hiểu được những
ước vọng và khổ đau của
người khác.
Từ quan điểm của
Phật, Minh nghĩ rằng khi mình thương
ai thì mình cần phải xem tình thương
đó có mang lại hạnh phúc cho
người đó không. Nếu không
thì nên trước hết hãy
lo cho hạnh phúc của bản thân mình,
không nên ôm đồm những
chuyện ngoài khả năng mình. Nếu
mình chỉ có thể hạnh phúc khi
kẻ đó hạnh phúc, thì khi đó
phải áp dụng quan điểm của Phật
bằng cách tìm hiểu ước
vọng và khổ đau của người
ấy; hoặc nếu mình đã hoàn
toàn hạnh phúc nhờ giác ngộ,
thì áp dụng quan điểm của Phật
sẽ càng làm cho mình hạnh phúc
hơn.
Tới trang 269, khi đọc:
“Thứ tình thương
có bản chất đam mê và vướng
mắc, vì được nuôi dưỡng
trong tham đắm và si mê nên chỉ
có thể đem lại những phiền
não và khổ đau làm tàn phá
con người, trong khi từ bi chỉ nuôi
dưỡng xót thương làm chất
liệu cho hành động cứu khổ.”
Minh thấy quan niệm này
rất hay nhưng trong cuộc sống bình thường,
tình yêu nào mà không có đam
mê và vướng mắc; và tình
yêu nào cũng đem đến những
thời gian hạnh phúc tuyệt vời.
Nếu vì sợ phiền não mà
chối bỏ tình yêu thì phải chăng
chúng ta chối bỏ cái hạnh phúc
nhiệm mầu đó của cuộc sống;
cớ sao chúng ta không tìm cách
tối thiểu hóa những phiền não
và tối đa hóa hạnh phúc bằng
những phương pháp tâm lý
hiện đại mà hai mươi lăm thế
kỷ trước loài người
chưa tìm được.
Minh cũng nhận thấy quan
niệm về từ bi để xót thương,
để cứu khổ chỉ phù hợp
với những người may mắn,
dư thừa phương tiện. Những
hành động bác ái mà dựa
trên sự lạm dụng thành quả
lao động của người khác
thì đối với Minh chẳng qua
chỉ là hành động đạo đức
giả, hành động ăn cắp. Từ
bi đem lại cho chúng ta sự an lạc
của tâm hồn, nhưng nếu không
dựa trên thành quả lao động
của bản thân mình thì chỉ có
từ bi giả hiệu, chỉ có an lạc
giả hiệu mà thôi. Dĩ nhiên dù
nghèo đói đến đâu chúng
ta vẫn có thể làm việc từ
bi bằng cách giúp đỡ những
người khó khăn hơn, nhưng
chúng ta phải dùng đôi bàn
tay và khối óc của chúng ta để
giúp đỡ, chứ không phải
bằng phương tiện của kẻ khác.
Tới trang 270, khi đọc:
“Không biết xót thương
thì con người không thể là
con người, vì vậy những khổ
đau do lòng xót thương đem lại
là những khổ đau cần thiết
và có ích lợi lớn”
Minh nhận xét không có
khổ đau nào là cần thiết
cả, trước sự khổ đau
của người khác thì Minh hành
động trong vòng khả năng của
mình để xoa dịu khổ đau cho người
khác. Với Minh, chỉ có hành
động mới đáng kể, sự
thương vay khóc mướn chẳng
qua chỉ là sự bệnh hoạn của
tâm hồn.
Tới trang 280, sau khi Phật
thuyết phục được Nanda (em Phật)
tiếp tục cuộc đời khất
sĩ, Phật nói:
“Em phải thực tập trở
lại phép quán niệm hơi thở
cho chuyên cần mỗi ngày. Rồi em
sẽ tập quán chiếu thân thể,
quán chiếu cảm giác, quán chiếu
tâm ý và cuối cùng quán
chiếu các pháp. Các pháp chính
là đối tượng của tâm
ý. Phải quán để thấy cho được
quá trình sinh khởi, tồn tại
và hoại diệt của mọi hiện tượng,
từ thân thể qua cảm giác đến
tâm tư và các pháp.”
Minh nghĩ rằng những
phương pháp quán chiếu có thể
có lợi trong thời đó.
Ngày nay với sự tiến bộ
của khoa học, đa số trong chúng ta
đều có thể thấy được
quá trình sinh khởi, tồn tại
và hoại diệt của mọi hiện tượng
mà không cần dùng phương pháp
quán chiếu đó. Sự quán
chiếu có thể làm chúng ta thấy
rõ hơn, nhưng cũng có thể dẫn
chúng ta đến việc xa rời thực
tại, luẩn quẩn trong suy tư cá nhân,
lãng phí thời gian. Ngày nay, sự
quán chiếu sẽ hữu ích khi gắn
liền với hành động để
đạt được những kết
quả cụ thể, có thể đo lường
được. Một thí dụ cụ thể,
dùng sự quán chiếu các cảm
xúc để làm chủ cảm xúc
của bản thân mình, để thay đổi
trạng thái tâm lý của bản thân
mình.
Tới trang 330, khi đọc:
“Quán chiếu sự sống
trong hiện tại, không tìm về quá
khứ, không tưởng tới
tương lai, vì quá khứ không
còn mà tương lai thì chưa tới.
Sự sống chỉ có mặt trong giờ
phút hiện tại. Nếu ta bỏ giờ
phút hiện tại, ta đánh mất sự
sống”.
Minh thấy quan niệm của
Phật rất hiện sinh, không xa vời
hão huyền về bên kia thế giới.
Ngay trong thế giới hiện tại mà
ta cũng không nên tìm về quá
khứ, không nên tưởng đến
tương lai. Nhưng ngày nay, với sự
phát triển của khoa học, người
ta có thể dự đoán tương
lai một cách khá chính xác, bằng
cách dựa trên những gì xẩy
ra trong quá khứ và những điều
kiện vật chất hiện tại. Trong xã
hội người ta dự trù hàng
chục năm trước, trong đời
sống cá nhân người ta có
ngân sách hàng năm, ngân sách
để về hưu sau mấy chục năm
làm việc v.v... Vì vậy theo Minh, quan điểm
hiện sinh của Phật là để ngăn
chặn những ảnh hưởng xấu
của quá khứ cũng như tương
lai trên cuộc sống hiện tại. Dù
quá khứ đau đớn, dù
tương lai mờ mịt, chúng ta vẫn
có thể sống vui với những
gì mình đang có trong tay.
Tới trang 347, khi đọc:
“Người hành giả
quán niệm về những cảm giác
đang phát sinh, tồn tại hoặc tàn
hoại nơi mình. Những cảm thọ
ấy có thể có nguồn gốc tâm
lý hay sinh lý”.
Minh thấy phương pháp
tâm lý đó phù hợp với
phương pháp nhận thức những
cảm xúc của ngành tâm lý học
hiện đại. Ngày nay, để hóa
giải các cảm xúc tiêu cực,
việc đầu tiên là người
ta phải nhận thức sự hiện diện
của các cảm xúc đó, tránh
sự phủ nhận các cảm xúc
tạo nên do tập tục, do văn hóa,
do niềm tin gây ra. Thế mà 25 thế
kỷ trước, Phật đã đi
xa hơn về phương diện này, không
những nhận thức sự hiện
diện mà còn theo dõi sự phát
sinh, sự tồn tại và sự tàn
hoại của những cảm xúc đó
để tìm ra nguồn gốc. Minh có
cảm giác Phật là một thiên tài
về tâm lý loài người.
Tới trang 395, khi đọc:
“Số người thấy
được cái cao siêu mầu nhiệm
nhất của giáo pháp mà đem
lời ca ngợi thì ít lắm.
Tôi muốn nói đến trí tuệ
thực chứng của đạo giác
ngộ. Trí tuệ này siêu việt, mỹ
diệu, mầu nhiệm, vượt khỏi
tầm tư duy và ngôn ngữ của
người thường. Thấy được,
hiểu được và chứng
được trí tuệ ấy mới
có thể biết và thấy được
giá trị thật của đạo giải
thoát.”
Minh cho rằng “trí tuệ thực
chứng của đạo giác ngộ”
chính là triết lý của Phật.
Nhưng triết lý này không giống
như các loại triết lý khác “tìm
cách rắc rối hóa mọi việc bằng
những từ ngữ khó hiểu
và không thông dụng để che giấu
những mong muốn thật sự của
họ: áp đặt những niềm tin
cố định của họ trên các
độc giả”. Triết lý này không
tìm cách mô tả thế giới
mà cũng không tìm cách cải
tạo thế giới như Các Mác.
Triết lý này chỉ vạch ra cách
giải thoát cho mỗi cá nhân khỏi
nhà tù vô hình của chính tâm
hồn cá nhân đó tạo ra. Nhà
tù đó làm cho con người
sống như trong cơn mê, vì vậy đại
đa số loài người không
thấy được giá trị thật
của đạo giải thoát, kể cả
những Phật tử và những
nhà sư, chỉ mong được giải
thoát bằng cầu nguyện và phép
lạ.
Tới trang 432, khi đọc:
“Nhờ trí tuệ, nhờ
hiểu biết, con người có học,
có tu và có giác ngộ không
làm cho cái khổ gia tăng nơi mình
và nơi người khác. Khi có
một khổ thọ, dù là một khổ
thọ về thân xác hay khổ thọ về
tâm ý, người có trí không
sầu muộn, không than van khóc lóc,
không đập ngực bứt tóc,
không đầy đọa thân thể
và tâm hồn, không ngã lăn
ra bất tỉnh. Người ấy bình
tĩnh quán chiếu và biết khổ
thọ chỉ là một cảm thọ. Người
ấy biết người ấy không
phải là cảm thọ, không kẹt vào
cảm thọ. Cảm thọ không còn trói
buộc được người ấy.
Khổ đau không trói buộc được
người ấy. Khi có một khổ
thọ thân thể, người ấy biết
có một khổ thọ về thân thể.
Người ấy không hoảng hốt
lo sợ, không trách cứ, không
u sầu, vì vậy khổ thọ ấy chỉ
là một khổ thọ về thân thể,
mà không trở nên một khổ
thọ lớn lao có thể làm chìm
đắm tự thân”.
Minh cảm thấy thích thú
và vô cùng ngạc nhiên, thích
thú vì Minh đang thực hiện việc
đó cho chính bản thân mình,
ngạc nhiên vì Phật đã làm
việc đó cách đây 25 thế
kỷ, ngạc nhiên vì Minh sinh ra và lớn
lên trong môi trường Phật giáo
mà đến bây giờ sau hơn
hai mươi năm sống ở Canada mới
được biết quan điểm này
của Phật. Minh còn nhớ trong đám
tang của mẹ gần ba mươi năm về
trước. Mẹ Minh là người
mà Minh mến phục nhất trên đời,
khi mẹ mất, ban đêm nước
mắt Minh tuôn trào nhưng ban ngày Minh
luôn luôn bình tĩnh để lo đám
táng cho mẹ được chu đáo.
Khi người ta liệm xác mẹ, bà
con Minh kêu Minh đi ra ngoài vì sợ
trùng tuổi, Minh im lặng đứng
lại để nhìn mặt mẹ lần cuối
và cũng để kiểm soát việc
liệm xác một cách trang trọng. Có
người đề nghị Minh cho tiền
cho đám thợ kèn để họ
khóc mướn, Minh không những
cương quyết từ chối mà
còn cấm đoán người khác
làm chuyện đó, nhưng khi đưa
linh cữu mẹ về nơi an nghỉ cuối
cùng thì Minh chi tiêu rộng rãi cho
những người khiêng linh cữu
để tất cả tỏ lòng tôn
kính đối với người
quá cố.
Tới trang 437, khi đọc:
“Cái mà tôi (Phật)
gọi là không trong vạn pháp đó
là cái ngã, nghĩa là cái
tính chất thường tại và
bất biến. Vạn pháp không có
nghĩa là vạn pháp không có
ngã, nghĩa là không có tính
chất thường tại và bất
biến. Nghĩa căn bản của không
là như thế. Các vị đã
chấp nhận và đã biết rằng
vạn pháp đều có tính chất
biến chuyển và hoại diệt. Chính
vì vạn pháp có tính biến chuyển
và hoại diệt ấy cho nên vạn pháp
không có ngã, không hàm chứa
một cái ngã. Vì vô thường
nên vạn pháp cũng là vô ngã”.
Minh nhận thấy đối
với nhân loại ngày nay đa số
còn chưa nhận định được
quy luật thiên nhiên về tính chất
biến chuyển và hoại diệt của
vạn vật, thế mà hai mươi lăm
thế kỷ trước Phật đã
nhận thức được quy luật
này. Vì không nhận thức được
quy luật này nên nhiều kẻ cầm
quyền đã ngăn cản sự tiến
bộ của khoa học, ngăn cản sự
tiến bộ của loài người,
làm những việc đi ngược
lại sự vận động của thiên
nhiên và xã hội, rồi lại dùng
bạo lực để kết tội người
khác phản động! mà không ý
thức được rằng chính
mình đang phản động, đang đi
ngược lại sự vận động
không ngừng của vạn vật! Minh nhận
thấy tinh thần đa văn hóa ở
Canada rất phù hợp với quy luật
về sự vận động không ngừng
của vạn vật, xóa bỏ được
cái ngã trong mỗi nền văn hóa
cổ truyền riêng biệt để thấy
được sự mầu nhiệm của
thiên nhiên ẩn tàng trong mỗi nền
văn hóa.
Tới trang 442, khi đọc:
“Chấp có là nhận
thức vạn sự vạn vật như
những gì thường tại và
có tự thể riêng biệt. Chấp
không là nhận thức vạn sự
vạn vật như một màn ảo thuật
của thần linh. Kẹt vào tà kiến
nào trong hai tà kiến ấy thì cũng
không có cơ hội thấy được
sự thật”.
Minh nghĩ rằng “chấp có”
là tượng trưng cho chủ nghĩa
“duy vật”, “chấp không” là tượng
trưng cho chủ nghĩa “duy tâm”. Trong cuộc
chiến tranh ý thức hệ vừa
qua, phe cộng sản thường nhân danh
chủ nghĩa “duy vật” và phe tư bản
thường nhân danh chủ nghĩa “duy
tâm”. Trong thâm tâm, Minh nghĩ rằng
cả hai chủ nghĩa đều có những
cái giáo điều cứng nhắc,
nên khi đọc ý kiến nhận xét
của Phật, Minh vô cùng thích thú.
Minh đọc tiếp:
“Chấp có là một
thái cực, chấp không cũng là
một thái cực khác. Nhận thức
duyên
sinh vượt ra ngoài hai thái cực
đó và an trú ở trung đạo”.
Minh tự nhủ, nhận thức
rằng cả hai chủ nghĩa đều có
tính cách giáo điều thì tương
đối không khó khăn lắm, nhưng
muốn an trú ở trung đạo thì
cũng chẳng phải chuyện lý thuyết
suông mà là quá trình thực
nghiệm vô tận của loài người,
từ giả thuyết đến kiểm
chứng thực nghiệm rồi đến
giả thuyết tân tiến hơn, kiểm
chứng tân tiến hơn để phù
hợp với những điều
kiện mới của thiên nhiên và
xã hội.
Tới trang 444, khi đọc:
“Thực tại bất sinh bất
diệt có thể đem so sánh với
nước trong đại dương, và
thế giới sinh diệt có thể đem
so sánh với những đợt
sóng lô nhô trên mặt biển..Sóng
thì có cao có thấp, có lớn
có bé, có sinh có diệt, nhưng
nước trong đại dương thì
không cao không thấp, không lớn
không bé, không sinh không diệt. Nếu
không có nước thì làm
sao có sóng? và sóng đi về
đâu nếu không là trở
về với nước ”.
Minh thấy sự so sánh
rất hay, và phải chăng những
cố gắng để thoát khỏi thế
giới sinh diệt cũng giống như:
Dã tràng xe cát
biển đông
Nhọc nhằn mà chẳng
nên công cán gì
Vì đằng nào rồi
sóng chẳng trở về với
nước. Minh nghĩ rằng quan niệm
thế giới sinh diệt là khổ đau
chẳng qua chỉ là những ý niệm
của nhận thức mà thôi, và
vì ý niệm đó nhiều người
đã tìm cách để thoát
khỏi thế giới sinh diệt. Riêng
Minh thì quan niệm thế giới sinh diệt
là phép nhiệm mầu của thiên
nhiên mà con người đang được
hưởng. Minh so sánh những sợ
hãi, lo âu như những đợt
sóng của đại dương và người
giác ngộ giống như kẻ đang vui
đùa với sóng, mỗi đợt
sóng đem lại một khoái lạc. Trong
khi đó, những kẻ u mê bị
sóng xô ngã hay nhấn chìm xuống
đáy biển đời. Tìm cách
để vượt thoát những
“sợ hãi, lo âu, khổ đau” là
đúng nhưng vượt thoát thế
giới sinh diệt là không cần
thiết.
Tới các trang 460, 461,
462, khi đọc về ba cánh cửa giải
thoát:
- Cánh cửa thứ
nhất: vô ngã. “Không có một
tự ngã riêng biệt, không có
một sự tồn tại riêng biệt.
Vạn pháp nương vào nhau mà có
mặt, không có pháp nào có
thể phát sinh và tồn tại một
cách độc lập. Các pháp sinh
khởi và tồn tại trong liên hệ
nhân duyên chằng chịt, cái này
có vì cái kia có, cái này
không vì cái kia không, cái này
sinh vì cái kia sinh, cái này diệt
vì cái kia diệt.”
- Cánh cửa thứ
hai: vô tướng. “Vô tướng
tức là vượt thoát những
khuôn khổ của tri giác và của
nhận thức phân biệt. Các tướng
trạng như có, không, sinh, diệt, một,
nhiều, còn, mất, tới, đi,
dơ, sạch, thêm, bớt... đều
là những tướng trạng mà
tri giác và nhận thức phân biệt
úp chụp vào thực tại. Quán
chiếu để làm tan rã những
ý niệm có, không, sinh, diệt, một,
nhiều, còn, mất, tới, đi,
dơ, sạch, thêm, bớt... các vị
sẽ đạt tới giải thoát.”
- Cánh cửa thứ
ba: vô nguyện. “Vô nguyện là không
theo đuổi bất cứ một cái
gì. Giải thoát và giác ngộ
không phải là những pháp có
mặt ở ngoài ta. Chỉ cần mở
mắt ra chiêm nghiệm, thì ta thấy được
ta chính là bản thân của giải
thoát và giác ngộ.”
Minh vô cùng ngạc nhiên,
làm sao mà hơn 25 thế kỷ trước
mà Phật lại thấy được
sự liên hệ của vạn vật, thấy
được những sự thiếu
sót và sai lầm của tri giác và
của nhận thức của con người,
mà sau biết bao nhiêu tiến bộ khoa
học, đa số loài người còn
chưa thấy được. Minh thấy
cách giải thích về ba cánh cửa
giải thoát của tác giả tuy rất
hay nhưng vẫn có thể dẫn dắt
người muốn tu luyện để giải
thoát bị rơi vào cảnh “tầu
hỏa nhập ma”, vì mỗi cánh cửa
đều ẩn tàng hai yếu tố sinh
và diệt, nghĩa là người
tu luyện có thể chuyển hóa lên
một trạng thái tâm lý rất cao
hoặc bị đẩy vào tình trạng
tâm lý hôn mê. Tuy chưa diễn
tả được ba cánh cửa
giải thoát theo tầm hiểu biết của
mình, nhưng Minh cảm thấy mình tiếp
thu trọn vẹn được ba món võ
“tuyệt chiêu” của Phật để áp
dụng vào cuộc sống hàng ngày
của bản thân mình, để lướt
trên các làn sóng “sợ hãi,
lo âu, phiền não” mà đi, để
tiếp tục một cách tự tin hơn
cuộc sống mà Minh đã chọn:
Sống vui trong chốn
phong trần,
Tiếp tay con tạo xoay vần
thế gian.
Ngày nay, để thoát
khỏi “lo âu, sợ hãi” các chuyên
viên tâm lý thường nói
đến “thay đổi cách suy tư”, “thay
đổi niềm tin”, nhưng nói là
một chuyện, thực hiện được
hay không lại là chuyện khác. Với
Minh, ba món “võ tuyệt chiêu” của Phật
có thể giúp chúng ta thay đổi
được cách suy tư cũng như
những niềm tin cố định. Khi
tư duy bị bế tắc, chẳng hạn như
một người không thể nào
kìm hãm được tư duy của
bản thân luôn luôn nghĩ đến
chuyện trả thù, không cần biết
là suy nghĩ của bản thân có
còn sáng suốt, có tôn trọng
sự thật hay không, thì ba món võ
tuyệt chiêu đó có tác dụng
như một phép nhiệm mầu để
khai thông bế tắc. Tư duy “vô ngã,
vô tướng, vô nguyện” có
thể đưa tâm hồn bay bổng lên
trời cao, bay xuyên qua mọi chướng
ngại hữu hình hay vô hình.
Tới trang 514, khi đọc:
“Người có hạnh
phúc biết quý những gì mầu
nhiệm đang xẩy ra trong hiện tại: một
làn gió mát, một buổi sáng
đẹp trời, một bông hoa vàng,
một cây trúc tím, một nụ cười
của trẻ thơ, một bữa cơm ngon.
Người có hạnh phúc biết
thưởng thức những thứ
ấy nhưng không bị ràng buộc vào
những thứ ấy. Thấy được
vạn pháp là vô thường và
vô ngã, người ấy không
nhận thức các pháp như những
gì có thường và có ngã,
do đó người ấy không bị
ràng buộc bởi các pháp kia,
không bị tham đắm vào các
pháp kia. Không bị ràng buộc, không
bị tham đắm, người ấy
sống thảnh thơi, không lo âu, không
sợ hãi. Biết rằng một bông
hoa có thể sớm nở tối
tàn, người ấy thấy được
tự tính sinh diệt vô thường
của các pháp cho nên không vì
sự sinh diệt của vạn pháp mà
sầu khổ và lo âu. Cũng vì
thế nên hạnh phúc của người
ấy là hạnh phúc chân thật. Người
ấy không âu lo và sợ hãi
ngay về sự sinh diệt của chính mình”.
Minh thấy quan niệm của
Phật về sự thưởng thức
những hiện tượng thiên nhiên
nhiệm mầu đang xẩy ra trong hiện tại
là một sự hưởng thụ thanh
tao mà tất cả mọi người
đều có thể được hưởng
mà không cần phải bon chen, tranh đấu.
Những hiện tượng này lại
vô cùng phong phú chung quanh ta nên nếu
biết thưởng thức thì kho
tàng hạnh phúc trở thành vô
tận.
Nhưng những cám dỗ
vật chất, hình thức siêu hình
của những nhu cầu sinh lý, vật
chất và tâm lý thường
ngăn cản một cách hữu hiệu
khả năng thưởng thức đó
của con người và đẩy họ
chìm đắm trong những lớp
sóng vô tận của “lo âu, sợ
hãi, phiền não”. Khi những nhu cầu
biến chất, mang hình thức siêu
hình (ghiền), con người thường
có cảm giác như “ma đưa lối
quỷ đưa đường” nên
thường “cũng đành nhắm
mắt đưa chân, thử xem con tạo
xoay vần đến đâu”. Thông thường
khi bị dồn đến chân tường
(quá đau đớn) thì con người
dễ tỉnh mộng để tìm cách
thoát khỏi vòng kiềm tỏa vô
hình đó.
Nhiều khi không phải là
những cám dỗ vật chất mà
là những niềm tin cố định
cũng ngăn cản con người nhìn
thấy kho tàng hạnh phúc vô tận
đó. Những niềm tin đó
thường trở thành những
bức tường vô hình giam hãm
chúng ta, chẳng hạn như bức tường
lễ giáo:
Ai đem lễ giáo giam em
(TTKH).
Và cũng chẳng khác
gì những cám dỗ vật chất,
những niềm tin đó nhấn chìm
con người trong lớp sóng vô
tận của “lo âu, sợ hãi, phiền
não”. Minh tự nhủ chắc là mình
đã bị dồn đến chân
tường nên mới tỉnh mộng,
tâm hồn Minh vùng lên đạp đổ
tất cả mọi ràng buộc bởi
các nền văn hóa bệnh hoạn, đạp
đổ mọi trách nhiệm do các nền
văn hóa bệnh hoạn đó ăn
sâu vào đầu óc Minh. Khi bức
tường vô hình sụp đổ,
Minh mới thấy được kho tàng
hạnh phúc vô tận, mới hưởng
thụ được những cái đẹp
của mùa đông, những cái
vui của mùa hè, những cái nhiệm
mầu của bốn mùa, Minh mới
xây dựng lại được niềm
tin yêu của gia đình, xây dựng
lại được mùa xuân của
cuộc đời.
5. Ðường đi
của Phật.
Ðọc xong cuốn sách
“Ðường Xưa Mây Trắng” của
Thích Nhất Hạnh, Minh thấy cuốn sách
không nằm trong “đa số các hệ
thống triết lý, tôn giáo chỉ
tìm cách rắc rối hóa mọi việc
bằng những từ ngữ khó
hiểu và không thông dụng để
che giấu những mong muốn thật sự
của họ: áp đặt những niềm
tin cố định của họ trên các
độc giả”. Cuốn sách giống như
chuyện dã sử, kể chuyện đã
xẩy ra hơn 25 thế kỷ trước.
Nhưng ngoài chuyện dã sử, còn
nhiều đoạn bàn về triết lý
và tâm lý. Minh không biết rõ
sự chính xác của những vấn
đề đó, là do các tài
liệu Phật để lại hay do các chi
phái Tiểu Thừa hoặc Ðại
Thừa viết ra về sau hay do tác giả
viết thêm theo ý riêng. Mặc dầu
Minh không tin tưởng nhiều điều
trình bày trong cuốn sách, nhưng Minh
nghĩ rằng khó có cuốn sách
nào hướng dẫn về đường
đi của Phật hay hơn:
- Quán chiếu thân thể
để hiểu rõ những chuyển
biến trong thân thể mình để
có thể luôn luôn ý thức
về sự sống của thân thể
mình.
- Quán chiếu cảm giác
để hiểu rõ quá trình sinh diệt
của cảm giác, để hiểu được
nguồn gốc của cảm giác, từ
đó tìm ra nguyên nhân của khổ
đau và tìm cách xóa bỏ sự
khổ đau.
- Quán chiếu tâm hồn
để tìm trí tuệ và giác
ngộ đang ẩn sâu trong tâm hồn
mình.
Các điều giới
luật và các giáo pháp để
đạt được giải thoát
trình bày trong cuốn sách thì Minh
nghĩ có thể rất tốt trong hoàn
cảnh của Phật hồi 25 thế kỷ
trước. Nhưng trong những điều
kiện phát triển của loài người
ngày nay thì không còn thích hợp
nữa.
Về phương diện triết
lý thì Minh nhận thấy Phật vô
cùng sáng suốt và xứng đáng
cho nhân loại noi gương, khi Minh đọc
ở trang 198:
“Một khi đã bị kẹt
vào một chủ thuyết rồi thì
người ta mất hết tự do. Người
ta trở nên độc đoán, cho
rằng chỉ có chủ thuyết của
mình mới là chân lý còn
tất cả các chủ thuyết khác
đều là tà đạo”.
Chân lý này không
những đúng hồi 25 thế kỷ
trước, không những đúng
cho ngày nay, mà theo Minh, sẽ đúng
cho mãi mãi mai sau. Ngay trong một số tổ
chức Phật giáo, cũng có một
số người biến các giới
luật và giáo pháp thành những
chủ thuyết, đi ngược lại triết
lý của Phật. Mặc dù không ở
trong một tổ chức nào của Phật
giáo, nhưng Minh có cảm giác là
việc mình đang thực hiện một
cuộc sống không còn “lo âu, sợ
hãi, phiền não” chính là mình
đang:
Chập chững đi theo
bước chân Phật.
Tháng giêng năm 2002,
Phó Thường Dân |