Ba
"cánh cửa giải thoát" của tâm
hồn
Từ
ngàn xưa, con người luôn luôn
tìm cách để hạnh phúc hóa
cuộc đời, bằng cách thỏa
mãn những nhu cầu sinh lý, vật
chất và tâm lý. Hạnh phúc
thường biến thành ảo ảnh
cho con người chạy theo, nhưng càng
chạy theo thì càng thấy hạnh phúc
xa vời, và có khi tuyệt vọng
không chạy theo nữa thì lại thấy
hạnh phúc ẩn hiện ngay ở trong
nội tâm mình, ở trong tư duy của
chính mình. Phải chăng chúng ta nên
tìm kiếm hạnh phúc ngay trong tư duy
của bản thân mình?
1. Diễn biến trong tư
duy.
Diễn biến trong tư duy là
cuốn phim vô tận trong mỗi cá nhân
do sự vận động của trí tưởng
tượng của cá nhân đó.
Sự vận động đó tùy
thuộc vào những yếu tố cá
nhân như trạng thái sức khỏe
và tâm lý, khả năng trí tuệ,
phản ứng hỗ tương đối
với những người thân
thuộc, những người có liên
hệ về sản xuất ; và những
yếu tố khách quan như các hiện
tượng thiên nhiên và xã
hội xảy ra chung quanh. Riêng một yếu
tố tâm lý cá nhân cũng đã
vô cùng rộng rãi, bao gồm cả
niềm tin, phong tục, văn hóa v.v... Vì
vậy sự vận động đó vô
cùng phức tạp, thường ở
ngoài tầm tay của người trong
cuộc.
Diễn biến trong tư duy chính
là hoạt động của tâm hồn
của con người. Lao động trí
não cũng là một hình thức
của diễn biến trong tư duy. Những
thành quả về hội họa, về âm
nhạc, về văn chương, về triết
học, về tâm lý v.v.... cũng đều
là những kết qủa của diễn
biến trong tư duy của các tác giả.
Diễn biến tư duy tượng
trưng cho sức mạnh tinh thần của
mỗi cá nhân. Nhờ có diễn
biến trong tư duy con người mới
có thể lao động trí óc, mới
có thể sáng tạo, mới có
thể kiềm chế được những
cảm xúc, mới có thể kiềm
chế được những hành
động thiếu văn minh, mới có
thể tạo ra được ý chí,
nghị lực để vượt qua được
những khó khăn, trở ngại
v.v....
Hai yếu tố chính của
diễn biến trong tư duy là: thiên phú
và sự luyện tập. Vì tượng
trưng cho sức mạnh tinh thần của
mỗi cá nhân nên diễn biến
trong tư duy cũng giống như trí thông
minh luôn luôn có hai yếu tố chính
đó. Phần "thiên phú" bao gồm
những sự di truyền và những
sự ngẫu nhiên khi con người
mới ra đời. Sự di truyền
mang tính khoa học và sự ngẫu nhiên
mang tính xác suất. Phần luyện tập
bao gồm sự học tập, sự rèn
luyện cá nhân trong những điều
kiện thiên nhiên và xã hội chung
quanh, trong những tác dụng hỗ tương
giữa những cảm xúc và
những diễn biến trong tư duy.
2. Ảnh hưởng của
diễn biến tư duy trên sức khỏe
vật chất và tinh thần.
Một thí dụ đơn
giản của diễn biến trong tư duy là
trong cuộc sống hàng ngày chúng ta
thường có những việc phải
lo âu, suy nghĩ để tìm ra giải
pháp thích hợp. Trong những suy
tư thường xuyên đó, chúng
ta thường tưởng tượng
ra những hoàn cảnh có thể xẩy
ra để chúng ta chuẩn bị sẵn sàng
những biện pháp đối phó
thích hợp.
Những suy tư đó
có những mặt tích cực như:
- hiểu thấu các vấn
đề phải đối phó
- có thể tìm được
giải pháp có lợi nhất
- chuẩn bị kỹ các
biện pháp đối phó
- khi gặp việc thì bình
tĩnh vì đã nắm vững tình
hình
Ngược lại, những
suy tư đó có những mặt tiêu
cực như:
- những cảm giác
tiêu cực: lo âu, sợ hãi, giận
hờn
- những tác hại của
những cảm xúc tiêu cực trên
sức khỏe vật chất cũng như
tinh thần.
Trong những mặt tiêu
cực, ảnh hưởng của những
hoàn cảnh tưởng tượng
trên bộ não của chúng ta cũng
giống như những hoàn cảnh thực
và có khi còn tai hại hơn nhiều.
Hoàn cảnh thực luôn luôn tuân
theo những quy luật khách quan, nhưng hoàn
cảnh tưởng tượng thì lại
vô giới hạn. Vì vậy tác
hại của hoàn cảnh tưởng tượng
có thể làm chúng ta hoàn toàn
tê liệt, không ăn không ngủ được.
Một người sợ ma có thể
bị ngất xỉu vì thấy một hình
ảnh nào đó xuất hiện bất
ngờ. Sự ám ảnh có thể
trở thành một tâm bệnh khá
nguy hiểm v.v... Người càng thông
minh thì trí tưởng tượng
càng dồi dào, tác hại của
trí tưởng tượng càng
khốc liệt.
3. Thay đổi diễn biến
trong tư duy.
Những diễn biến
trong tư duy thường có tính cách
tự phát và thường vượt
khỏi tầm tay của người trong cuộc.
Nhưng nếu chúng ta có thể thay đổi
được diễn biến trong tư duy
thì chúng ta không những có
thể làm dịu bớt những
tác động tai hại mà còn có
thể làm tăng cường sức
mạnh về vật chất cũng như về
tinh thần của mình.
Mặc dầu chúng ta không
thay đổi được yếu tố
"thiên phú" của diễn biến trong tư
duy, nhưng trong tuyệt đại đa số
chúng ta đều có thể thay thế
diễn biến trong tư duy bằng sự
luyện tập. Chúng ta thử tìm hiểu
các phương pháp để thay đổi
tư duy:
3.1 Phương pháp hoạch
định khoa học.
Những hiện tượng
thiên nhiên và xã hội chung quanh chúng
ta thường tạo nên những lo
âu, áy náy do những hoạt cảnh
tưởng tượng trong tư duy. Sự
hoạch định một cách khoa học có
thể giúp chúng ta thoát khỏi những
cảm xúc tiêu cực đó:
- Phân biệt rõ rệt
giữa "sự hoạch định công
việc một cách khoa học" với "sự
lo âu". Với sự thực tập
thường xuyên, ta có thể thay thế
sự lo âu chung chung bằng sự hoạch
định có phương pháp khoa học,
có dự trù thời gian và
phương tiện để thực hiện.
Khi hoạch định, chúng ta đứng
ngoài công việc, không coi công việc
là một phần tử của bản
thân mình. Trái lại, khi lo âu, chúng
ta lẫn lộn bản thân với công
việc: đó chính là lý do mà
sự lo âu có thể có những
tác hại vô hình trên tinh thần
và thể chất một người.
Sự hoạch định làm tăng cường
sự tự tin trong khi sự lo âu làm
tiêu hao năng lực.
- Phân chia công việc ra
nhiều phần nhỏ với một thời
khóa biểu phù hợp với
năng lực của mình, chúng ta có
thể tránh những cảm xúc lo âu
do khối lượng công việc cần
giải quyết trước mắt. Một
thí dụ cụ thể như ngày thứ
hai thấy số lượng công việc
phải thực hiện trong tuần, có người
tự nhiên cảm thấy mệt mỏi,
chán nản; nhưng sau khi phân chia công
việc ra nhiều phần nhỏ để thực
hiện từ thứ hai đến thứ
sáu thì người đó như
lấy lại được năng lực
nên cảm thấy yêu đời
phấn khởi.
- Lập chương thời
khóa biểu chi tiết cho cuộc sống hàng
ngày để không còn những
khoảng thời gian "rỗng", không biết
làm gì và suy nghĩ vẩn vơ.
Phương pháp hoạch định
khoa học có thể hữu hiệu trong
việc thay đổi diễn biến trong tư
duy, nhưng thường đòi hỏi
một ý chí mạnh nên nhiều người
không áp dụng được.
3.2 Phương pháp vận
động thể chất.
Sự vận động của
thiên nhiên và xã hội chung quanh tác
động trên diễn biến trong tư duy
của con người. Nhưng cùng một
hiện tượng thiên nhiên hay xã
hội, những phản ứng trong diễn
biến trong tư duy của hai người
có thể hoàn toàn trái ngược
đối với nhau. Sự trái ngược
đó là do những yếu tố
cá nhân chẳng hạn như niềm tin,
văn hóa, phong tục, tình trạng phát
triển tâm lý v.v...
Sự vận động về
thể chất cũng có ảnh hưởng
lớn lao trên tư duy, có thể tạo
ra những xúc cảm mới. Sự
vận động của thiên nhiên và
xã hội ở ngoài tầm tay chúng
ta, nhưng sự vận động của bản
thân ta thì lại do chính ta quyết định.
Nói một cách khác chúng ta có
thể sử dụng loại vận động
này để thay đổi diễn biến
trong tư duy của chính mình.
Tất cả mọi hình thức
vận động thể chất về thể
thao, âm nhạc, nghệ thuật v.v.... đều
có những ảnh hưởng trực
tiếp trên diễn biến trong tư duy. Cường
độ của những ảnh hưởng
này tùy thuộc ở hoàn cảnh
của từng cá nhân. Những
khẩu hiệu quyết chiến có thể
xóa bỏ sự sợ chết trong tư
duy người lính chiến, những
bài ca yêu nước có thể
làm người lính chiến quên
đi những khó khăn của ngăn
sông cách núi v.v...
Có người chủ
trương rằng những diễn biến
trong não bộ chúng ta đều thể
hiện ra những vận động thể
chất chẳng hạn như cách đi, cách
đứng, cách ngồi, hoặc những
chuyển động của các bắp thịt
trên mặt v.v....; và ngược lại
nếu chúng ta thay đổi những
loại vận động đó thì những
diễn biến trong não bộ cũng thay
đổi theo. Nói một cách khác,
thay đổi những vận động đó
có ảnh hưởng trực tiếp
trên diễn biến trong tư duy.
Có người lại
chủ trương rằng sống chính là
vận động và giá trị của
cuộc sống chính là giá trị
của những vận động trong đời
sống. Ðối với họ, các
diễn biến trong tư duy hoàn toàn lệ
thuộc vào các vận động thể
chất.
Tất cả những hoạt
động như khóc, cười, than
thở, ca hát v.v... đều là những
vận động thể chất. Những
hoạt động này do những diễn
biến trong tư duy tạo ra. Nhưng sau đó
lại tác dụng ngược trở
lại diễn biến trong tư duy, chẳng hạn
như sự cười đùa tạo
ra tình trạng thoải mái trong tư duy,
sự than thở tạo ra cảm giác
mệt mỏi trong tư duy. Thông thường
thì những hoạt động đó
có tính cách tự phát tùy
theo những hiện tượng thiên
nhiên và xã hội chung quanh tác động
trên hoàn cảnh cá nhân của
mỗi người. Nhưng nếu chúng
ta có thể vận động một cách
tự giác thì chúng ta có thể
thay đổi được diễn biến
trong tư duy của mình. Chẳng hạn như
khi bị người khác tấn công
bằng lời nói, người thường
hay sa sầm nét mặt, tìm cách phản
công, nếu không phản công được
thì đau đớn uất hận; nhưng
kẻ có khả năng vận động
tự giác thì có thể cười
lớn, giảm ngay được cảm
xúc tiêu cực, làm hoang mang đối
thủ, tư duy lại sáng suốt hơn để
chọn giải pháp thích hợp.
Sự tụng kinh cũng là
một hình thức vận động thể
chất. Loại vận động này hiện
diện trong mọi tôn giáo. Ðứng
trên quan điểm khoa học thì chúng
ta nhận thấy sự tụng kinh có thể
mang lại sự an lạc tức thời
cho tâm hồn của người trong cuộc.
Những diễn biến trong tư duy thường
được hướng về một
mục đích tôn giáo khi tín đồ
tụng kinh nên những cảm xúc tiêu
cực được tạm thời
xoa dịu. Vì mang tính tôn giáo nên
sự tụng kinh thường không phải
là một loại vận động tự
giác; do đó tác động của
sự tụng kinh trên diễn biến trong
tư duy thường chỉ mang lại sự
xoa dịu các cảm xúc tiêu cực
và ít khi tạo ra được các
cảm xúc tích cực.
Nói tóm lại phương
pháp vận động thể chất để
thay đổi diễn biến trong tư duy là
dùng những vận động tự
giác để có những tác
động tích cực trên bộ não
và đồng thời loại bỏ
những diễn biến tiêu cực
trong tư duy. Phương pháp này thường
đem lại những hiệu quả tốt
rất mau chóng. Tiếc thay, hiệu quả
đó lại ngắn ngủi và sau đó
những cơn sóng lớn của
cảm xúc tiêu cực lại có
thể nhấn chìm chúng ta, nhất là
khi sức khỏe thể chất bị hạn
chế.
Muốn thoát hẳn ra khỏi
những cơn sóng lớn đó,
chúng ta thử tìm hiểu "ba cánh
cửa giải thoát" của đức
Phật.
4. "Ba cánh cửa giải
thoát" của đức Phật.
Ba cánh cửa giải thoát
của đức Phật gồm có:
- Cánh cửa thứ
nhất: vô ngã. "Không có một
tự ngã riêng biệt, không có
một sự tồn tại riêng biệt.
Vạn pháp nương vào nhau mà có
mặt, không có pháp nào có
thể phát sinh và tồn tại một
cách độc lập. Các pháp sinh
khởi và tồn tại trong liên hệ
nhân duyên chằng chịt, cái này
có vì cái kia có, cái này
không vì cái kia không, cái này
sinh vì cái kia sinh, cái này diệt
vì cái kia diệt."
- Cánh cửa thứ
hai: vô tướng. "Vô tướng
tức là vượt thoát những
khuôn khổ của tri giác và của
nhận thức phân biệt... Các tướng
trạng như có, không, sinh, diệt, một,
nhiều, còn, mất, tới, đi,
dơ, sạch, thêm, bớt... đều
là những tướng trạng mà
tri giác và nhận thức phân biệt
úp chụp vào thực tại... Quán
chiếu để làm tan rã những
ý niệm có, không, sinh, diệt, một,
nhiều, còn, mất, tới, đi,
dơ, sạch, thêm, bớt... các vị
sẽ đạt tới giải thoát."
- Cánh cửa thứ
ba: vô nguyện. "Vô nguyện là không
theo đuổi bất cứ một cái
gì... Giải thoát và giác ngộ
không phải là những pháp có
mặt ở ngoài ta. Chỉ cần mở
mắt ra chiêm nghiệm, thì ta thấy được
ta chính là bản thân của giải
thoát và giác ngộ."
(trích từ tác phẩm
"Ðường Xưa Mây Trắng" của
Thích Nhất Hạnh, trang 460, 461, 462).
Nếu chúng ta luyện tập
để đạt được một
tư duy vô ngã, vô tướng và
vô nguyện thì chắc chắn chúng
ta có thể thay đổi diễn biến
trong tư duy bất cứ lúc nào chúng
ta muốn để có thể bay bổng
lên trời cao, vượt qua mọi
chướng ngại hữu hình hay vô
hình.
Nhưng làm thế nào
để luyện được "ba món
võ tuyệt chiêu đó?
Theo Thích Nhất Hạnh thì:
"Nhờ an trú tinh cần
trong giới luật và chánh niệm
mà có định tâm, lấy định
tâm ấy mà quán chiếu vạn pháp
trên thế gian".
(trích từ tác phẩm
"Ðường Xưa Mây Trắng" của
Thích Nhất Hạnh, trang 533).
Nhưng "giới luật và
chánh niệm" lại mang tính cách "chủ
thuyết", và
"Một khi đã bị kẹt
vào một chủ thuyết rồi thì
người ta mất hết tự do. Người
ta trở nên độc đoán, cho
rằng chỉ có chủ thuyết của
mình mới là chân lý còn
tất cả các chủ thuyết khác
đều là tà đạo".
(trích từ tác phẩm
"Ðường Xưa Mây Trắng" của
Thích Nhất Hạnh, trang 198).
Giả sử như "giới
luật và chánh niệm" đem lại sự
định tâm thì sự quán chiếu
vẫn có thể đưa chúng ta đến
"tầu hỏa nhập ma" vì không có
cơ sở thực nghiệm. Ðứng
trên phương diện khoa học thì chúng
ta thấy sự quán chiếu cũng giống
như những diễn biến trong tư duy.
Nếu chúng ta tự tạo được
một tư duy vô ngã, vô tướng,
vô nguyện thì chúng ta làm chủ
được diễn biến trong tư duy
nghĩa là giải thoát được
tâm hồn mình.
Chúng ta thử tìm hiểu
từng "môn võ tuyệt chiêu".
4.1 Tư duy vô ngã.
Hơn hai mươi lăm thế
kỷ trước, đức Phật
đã nhìn thấy những liên
hệ nhân duyên của vạn vật, và
không có vật nào trong thiên nhiên
lại hoàn toàn độc lập. Ngày
nay, sự tiến bộ của khoa học cho
phép chúng ta nhìn thấy dễ dàng
hơn những liên hệ nhân duyên
đó nên nhân loại đang cố
gắng để bảo vệ môi trường
sống. Sự tiến bộ của nhân
loại đã và đang hủy diệt
dần dần chính môi trường
sống của mình, chẳng hạn như lớp
ô zôn bao bọc quanh trái đất
để che chở cho chúng ta đã
bắt đầu bị rách. Chạy theo
sự tiến bộ một cách mù quáng
thì tất yếu đẻ ra chiến tranh
vì sự mâu thuẫn giữa nhóm
tiến bộ và phần nhân loại còn
lại sẽ càng gay gắt hơn. Nhân
loại đã bắt đầu nghĩ
đến giải pháp duy nhất để
loại trừ khủng bố là xóa
bỏ sự nghèo khổ, là giảm
thiểu sự cách biệt giữa người
với người.
Nhưng từ nhận định
những liên hệ nhân duyên của
vạn vật đến tạo được
tư duy vô ngã chúng ta còn phải
vượt qua nhiều giai đoạn cần
thiết:
4.1.1 Quan điểm khách quan
khoa học
Những hiện tượng
thiên nhiên và xã hội thường
đưa đẩy chúng ta có những
phản ứng cá nhân để tồn
tại, để tự vệ. Sự ngây
thơ của một cá nhân nhiều khi
bị kẻ khác sử dụng cho những
mưu đồ đen tối. Phản ứng
tự vệ dần dần tạo ra tư duy
chủ quan, nói theo danh từ của Phật
giáo là cái "ngã". Vì vậy
quan điểm "vô ngã" có thể làm
cho nhiều người chới với,
không dám suy luận tiếp.
Sự tiến bộ của
khoa học có thể giúp cho chúng ta
dùng "quan điểm khách quan khoa học"
thay thế cho tư duy chủ quan. Trong tất cả
các cuộc nghiên cứu khoa học, người
ta chỉ dùng tư duy để phân tích,
để tổng hợp các sự
kiện; để đưa ra các giả
thuyết rồi tổ chức thí nghiệm
để kiểm chứng độ chính
xác của giả thuyết. Vì vậy "quan
điểm khách quan khoa học" có tính
chất tư duy "vô ngã".
Một thí dụ cụ thể
của tư duy chủ quan:
Áo nàng vàng
anh về thương hoa cúc
Áo nàng xanh anh mến
lá sân trường
(thơ Nguyên Sa)
Nói một cách khác,
khi thương ai thì cái gì của người
ấy ta cũng thấy đẹp, thấy
quý; và tư duy chủ quan chính là
phản ứng tự nhiên của con
người.
"Tư duy chủ quan" thường
ngăn cản sự phát minh, sự tiến
bộ. Trong khi đó nhờ "quan điểm
khoa học khách quan", nhân loại đã
đạt được những tiến
bộ khổng lồ. Ðối với
một cá nhân thì "quan điểm khoa
học khách quan" góp phần đẩy
cái "ngã" ra khỏi tư duy, góp phần
tạo ra "tư duy vô ngã".
4.1.2 Quan điểm đa văn
hóa.
Nếu văn hóa đem
lại cho chúng ta những giây phút
khoái lạc thần tiên thì đồng
thời nó cũng đem lại những
thành kiến, những tập tục cá
biệt để tạo nên những hàng
rào vô hình bao bọc chung quanh tâm
hồn chúng ta. Ðôi khi hàng rào
đó trở thành những bức
tường của nhà tù vô hình:
Ai đem lễ giáo
giam em
(TTKH)
Trên màn ảnh truyền
hình chúng ta thấy những người
đàn bà A Phú Hãn, sau khi được
giải phóng, vẫn chưa bỏ được
thói quen che kín mặt mũi!
Cuộc khủng bố ngày
11 tháng chín năm 2001 tại Hoa Kỳ đã
giết hại hàng ngàn người
dân vô tội, chết chẳng toàn
thây. Cả thế giới xúc động,
cả tỷ người lên án bọn
khủng bố, nhưng cũng có hàng
triệu người lại coi chúng như
những thánh tử vì đạo,
như những anh hùng dám hy sinh tính
mạng mình để bảo vệ những
người yếu thế. Chính tư
duy chủ quan hay "cái ngã" đã đưa
đến những quan điểm hoàn
toàn trái ngược đối với
cùng một hiện tượng thiên nhiên
hay xã hội.
May thay, nhờ sự phát
triển của nhân loại, ngày nay chúng
ta có thể sống trong "đa văn hóa".
Từ quan điểm của một nền
văn hóa, chúng ta có thể thấy
những văn hóa khác mang đủ
mọi cái xấu, cái sai; nhưng từ
quan điểm đa văn hóa thì chúng
ta có thể thấy được những
mặt tích cực của mỗi nền
văn hóa, thấy những cái lố
lăng của nền văn hóa gốc của
bản thân mình, thấy cái sai của
cái "ngã" v.v...
Tìm hiểu những mặt
tích cực của những nền văn
hóa khác, xét lại những sai
lầm của nền văn hóa gốc của
bản thân mình, chúng ta dần dần
sẽ mở rộng tầm mắt, sẽ
loại được cái "ngã" trong
các nền văn hóa, góp phần
tạo ra tư duy "vô ngã".
4.1.3 Thay đổi cái "ngã"
bằng trị liệu tâm lý.
Ngày nay, ngành tâm lý
học có thể sử dụng những
phương tiện vật chất và tâm
lý để thay đổi hẳn niềm
tin của người khác. Ðối
với những thói hư tật xấu
chẳng hạn như nghiện rượu, người
ta có thể tác động trên tư
duy của người nghiện để tạo
những nối kết giữa rượu
với những hình ảnh đau
đớn do rượu mang lại (tan vỡ
gia đình, tự khinh mình, bị xã
hội đào thải, v.v...)
Những phương pháp
trị liệu đó chứng tỏ những
tai hại của cái "ngã" trong tư duy và
cũng chứng tỏ rằng cái "ngã"
đó chẳng qua chỉ là thành
quả của những điều kiện
thiên nhiên và xã hội ở
chung quanh mà chúng ta có thể thay đổi
được chứ chẳng phải
là cái gì thường tại bất
biến.
Những phương pháp
đó đã sử dụng sức
mạnh của tư duy một người (mặc
dầu có sự giúp đỡ
của các bác sĩ tâm lý) để
biến đổi cái "ngã". Người
bệnh (tâm lý) không tự chữa
một mình được vì tư duy
mang tính "ngã", bác sĩ tâm lý
đã giúp người đó
sử dụng tạm thời tư duy "vô
ngã" để chữa bệnh.
Những phương pháp
đó cũng chứng minh sự hiện
hữu cũng như sức mạnh của
tư duy "vô ngã", giúp chúng ta thấy
rằng chúng ta có thể tách khỏi
cái "ngã" trong tư duy của chúng ta.
4.1.4 Sự xây dựng
tư duy "vô ngã".
Quan điểm tư duy "vô
ngã" không phải là sự phủ
nhận đơn thuần tư duy có "ngã"
mà là một sự thăng hoa biến
chất của tư duy có "ngã". Sự
phủ nhận đơn thuần tư duy có
"ngã" là một sự sai lầm lớn
có thể dẫn đến tình trạng
tư duy bị thoái hóa, xa lánh chuyện
đời sống thực tế, tự
cô lập với xã hội chung quanh,
tự hủy hoại cuộc sống của
bản thân mình, một phép nhiệm
mầu của thiên nhiên.
Quan điểm tư duy "vô
ngã" phải là sự tổng hợp
của muôn ngàn "ngã" để biến
chất theo đúng quy luật của thiên
nhiên "những biến đổi về
lượng dẫn đến những
biến đổi về chất". Một thí
dụ cụ thể: giả sử tư duy "vô
ngã" là nước ở thể
lỏng, sau khi đun nước tới
100 độ thì nước sôi biến
chất từ thể lỏng ra thể hơi,
sau sự tổng hợp của nhiều
"ngã" thì tư duy có "ngã" biến
chất từ thể "ngã" ra "vô ngã".
Nói một cách khác,
tư duy "vô ngã" chỉ có thể xây
dựng từ những tư duy có
"ngã" mà thôi, cũng giống như
hơi nước chính là nước
ở thể hơi, cũng giống như
một xã hội nhân bản chỉ có
thể xây dựng từ những
thành quả của xã hội tư bản.
Luyện được tư
duy "vô ngã" cũng giống như luyện
được một môn võ tuyệt
chiêu để mở cánh cửa
giải thoát tâm hồn, không còn
những quan niệm hẹp hòi kỳ thị,
không còn những u mê trong đêm
dài của sự ngu dốt. Ngược
lại sự luyện tập tư duy "vô ngã"
cũng có thể đưa đến "tầu
hỏa nhập ma", tư duy thoái hóa ; không
những không thể nào thấy được
cánh cửa giải thoát tâm hồn
mà còn rơi vào vòng u mê,
chỉ còn biết lấy cầu nguyện
làm cứu cánh.
4.2 Tư duy vô tướng.
Hơn hai mươi lăm thế
kỷ trước, đức Phật
đã vượt thoát được
những khuôn khổ của tri giác
và thấy được thực tại.
Ngày nay, nhờ những tiến bộ
khoa học chúng ta biết được
sự hiện hữu của những
làn sóng âm thanh, hình ảnh chung
quanh chúng ta, truyền tới từ
những vệ tinh nhân tạo, các chuyên
viên có thể chụp hình phổi, hình
tim của chúng ta, có thể biết những
sinh hoạt của những vi trùng trong cơ
thể của chúng ta v.v... Sự tiến
bộ của khoa học giúp chúng ta thấy
được sự nhỏ hẹp của
những nhận thức của ngũ
giác của chúng ta, thấy được
tính chất vô tướng của
vạn vật một cách dễ dàng hơn.
Nhận thức của tri giác
của con người dẫn đến
tư duy có "tướng", nghĩa là
nhận thấy vạn vật dưới những
dạng phân biệt; vì vậy tư duy ấy
biến thành bức tường vô
hình ngăn cản con người thấy
được thực tại; chỉ khi nào
phá bỏ được bức tường
đó thì con người mới
đạt được tư duy "vô tướng".
Một thí dụ phổ biến
mà đa số chúng ta đều biết:
Bốn người mù
sờ con voi rồi tranh cãi nhau về
con voi, người sờ chân voi thì
quả quyết là con voi giống cái cột
nhà, người sờ tai voi thì
thấy voi là cái quạt v.v... Nói một
cách khác vì thiếu thị giác
nên cả bốn người đều
không thể thấy hình dạng thật
của con voi, nên thấy cái "tướng"
của con voi khác nhau.
Một thí dụ khác có
thể giúp chúng ta thấy sự khác
biệt của tư duy có "tướng"
và tư duy "vô tướng":
Một người con gái
đẹp tuyệt trần, ai nhìn thấy
cũng tự thấy đam mê. Nhận
thức của tri giác tạo ra đam mê,
vướng mắc cho mọi người.
Tư duy "vô tướng"
thì thấy được ý nghĩ
đen tối của người con gái
đẹp, muốn dùng sắc đẹp
của mình để gây khổ sở
phiền não cho người khác; thấy
được sự vận chuyển của
máu trong thân thể người đó
cũng chẳng khác gì người
khác, thấy được cả những
gì hôi thối trong cơ thể người
đó. Vì vậy người có
tư duy "vô tướng" có thể
dừng lại ở bề ngoài để
thưởng thức cái đẹp,
có thể tiến sâu hơn để
xóa bỏ đam mê vướng mắc
v.v...
Sự luyện tập để
có tư duy vô "tướng" cũng
tương tự như sự luyện tập
để có tư duy vô "ngã", nghĩa
là không phải sự phủ nhận
đơn thuần tư duy có "tướng",
mà phải xây dựng từ tư
duy có "tướng" rồi biến chất
thăng hoa để trở thành "vô
tướng" theo đúng quy luật của
thiên nhiên "những biến đổi
về lượng dẫn đến những
biến đổi về chất".
Luyện được tư
duy "vô tướng" cũng giống như
luyện được một môn võ
tuyệt chiêu để mở cánh
cửa giải thoát tâm hồn, không
còn bị giới hạn bởi các
dạng của vật chất, không còn
những u mê trong đêm dài của
sự ngu dốt. Ngược lại sự
luyện tập tư duy "vô tướng"
cũng có thể đưa đến "tầu
hỏa nhập ma", tư duy thoái hóa; không
những không thể nào thấy được
cánh cửa giải thoát tâm hồn
mà còn rơi vào vòng u mê,
chỉ còn biết lấy cầu nguyện
làm cứu cánh.
4.3 Tư duy vô nguyện.
Vô nguyện là không
theo đuổi bất cứ một cái
gì, không còn mong muốn gì nữa.
Phải chăng tư duy của những kẻ
chán đời, không còn muốn
sống nữa cũng là tư duy "vô
nguyện"?
Muốn học tập "cánh
cửa giải thoát" thứ ba của
đức Phật để biến thành
một môn võ tuyệt chiêu "tư duy vô
nguyện" quả thật là nguy hiểm và
có thể dễ dàng bị tầu hỏa
nhập ma.
"Chỉ cần mở mắt
để chiêm nghiệm, thì ta thấy
được ta chính là bản thân
của giải thoát và giác ngộ"
(trang 462, "Ðường Xưa Mây Trắng"
của Thích Nhất Hạnh).
Không biết đây có
đúng là lời dậy của đức
Phật hay là do đời sau viết
thêm! Nhưng với quan điểm khoa
học ngày nay thì chắc chắn "mở
mắt để chiêm nghiệm" không đủ!
Ngày nay, theo các nhà
tâm lý học thì sự mong muốn
làm một việc gì là yếu tố
cần thiết cho sự thành công,
cho hạnh phúc cá nhân; không những
cần theo đuổi mà còn cần
hoạch định những chương trình
chi tiết để thực hiện những
điều mong muốn đó. Phải chăng
sự cần thiết đó đi ngược
lại quan điểm "vô nguyện"?
Nếu chúng ta kiểm điểm
lại những việc đã qua trong đời
mình thì chúng ta thấy ngay nhiều
khi sự mong muốn trở thành một
ám ảnh khi vượt quá một cường
độ nào đó sẽ trở
thành một màng sương mù che kín
trí tuệ ta, không cho ta thấy được
thực tại. Sự mong muốn quá
độ làm cho chúng ta quên đi
cuộc sống hiện tại, đánh mất
cuộc sống hiện tại và đôi
khi đánh mất cả cuộc sống tương
lai nữa. Ngay cả sự mong muốn được
giải thoát cũng vậy, sự mong muốn
giải thoát tâm hồn khi đạt tới
một mức độ nào đó,
có thể biến thành một bức
tường vô hình giam hãm tâm
hồn chúng ta.
Trong đời sống hàng
ngày, nhiều vấn đề chúng
ta càng cố quên thì chúng ta lại
càng nhớ thêm và khi ta không
cố quên nữa thì tự nhiên
chúng ta lại quên. Phải chăng đó
chính là do liều thuốc "vô nguyện"
! Nhưng sự "vô nguyện" đó là
do kết quả của sự tuyệt vọng
chứ không phải là do tư duy "vô
nguyện".
Sự luyện tập để
có tư duy vô "nguyện" cũng tương
tự như sự luyện tập để
có tư duy vô "ngã", nghĩa là
không phải sự phủ nhận đơn
thuần những nguyện vọng của bản
thân mình, mà phải xây dựng
từ những nguyện vọng đó
rồi biến chất thăng hoa để
trở thành "vô nguyện". Chính nhờ
những nguyện vọng mà chúng ta
có thể tìm thấy sức mạnh
tinh thần và vật chất của bản
thân mình để thực hiện những
ước vọng đó (đúng
như quan điểm của các nhà tâm
lý học hiện nay). Nhưng chính sức
mạnh đó sẽ biến thành những
thứ độc dược tàn phá
chúng ta khi những ước vọng
của chúng ta không phù hợp với
những điều kiện thiên nhiên
và xã hội chung quanh.
Tư duy "vô nguyện" là
tư duy có khả năng loại trừ
được những nguyện vọng
không phù hợp với những
điều kiện thiên nhiên và xã
hội chung quanh, và tận dụng được
những sức mạnh tinh thần và
vật chất do những ước vọng
phù hợp để giúp mình,
giúp người sống tươi vui
hạnh phúc hơn.
Luyện được tư
duy " vô nguyện " cũng giống như luyện
được một môn võ tuyệt
chiêu để mở cánh cửa
giải thoát tâm hồn, không còn
bị mê hoặc bởi những ước
vọng lầm lẫn bệnh hoạn, không
còn những u mê trong đêm dài
của sự ngu dốt. Ngược lại
sự luyện tập tư duy "vô nguyện"
cũng có thể đưa đến "tầu
hỏa nhập ma", tư duy thoái hóa ; không
những không thể nào thấy được
cánh cửa giải thoát tâm hồn
mà còn rơi vào đêm tối
của u mê và lạc hậu.
1. 5. Vô chiêu thắng hữu
chiêu.
Những nhà tâm lý
học ngày nay thường nghiên cứu
các tính chất của tư duy rồi
đưa ra những biện pháp để
thay đổi tư duy chẳng hạn như "vận
động thể chất để thay đổi
diễn biến trong tư duy". Tư duy đó
phải mang ba tính chất:
- tư duy của bản thân
mình (có ngã),
- tư duy căn cứ trên
các sự kiện khoa học, các sự
kiện đo lường được
(có tướng),
- tư duy phải có ước
nguyện, để hoạch định kế
hoạch cần thiết thực hiện các
ước nguyện của mình (có
nguyện và có ngã).
Tư duy có đủ ba tính
chất đó đã thúc đẩy
khoa học, nâng cao năng suất lao động,
tạo ra những xã hội nhân bản,
tạo ra hạnh phúc cho loài người.
Như vậy, phải chăng
tư duy "vô ngã, vô tướng,
vô nguyện" hoàn toàn phản khoa học,
hoàn toàn đi ngược lại văn
minh của loài người? Phải chăng
việc tu luyện để có một tư
duy "vô ngã, vô tướng, vô
nguyện" là hoàn toàn không tưởng,
là đi ngược lại trào lưu
tiến hóa của loài người?
Thực ra tư duy "có ngã,
có tướng, có nguyện" là
rất cần thiết cho cá nhân và
cho xã hội loài người, để
ngăn chặn mọi hành động vô
trách nhiệm, để xóa bỏ sự
nghèo nàn lạc hậu, để tận
dụng khả năng thiên phú của con
người trong việc tạo hạnh phúc
cá nhân cũng như xây dựng
một xã hội nhân bản. Nhưng đó
là những món võ "hữu
chiêu".
Vì tính cách "hữu
chiêu" nên những món võ đó
đều bị giới hạn bởi
chính những chiêu thức của
nó. Nói một cách khác, khi tư
duy "có ngã, có tướng, có
nguyện" vượt qua một ranh giới
nào đó thì biến chất để
trở thành nguồn gốc của đau
khổ của cá nhân mang tư duy đó.
Và khi đó thì cá nhân đó
cần có món võ "vô chiêu"
để hóa giải. Ba "cánh cửa
giải thoát" đó không những
có khả năng hóa giải các đau
khổ của cá nhân đó, mà
còn đưa tư duy đó vượt
mọi ranh giới để đem lại
hạnh phúc cho cá nhân đó. Tư
duy đó cũng có thể đem lại
hạnh phúc cho nhiều kẻ khác cũng
như góp phần tích cực trong việc
xây dựng một xã hội nhân bản
nữa.
Nhưng ngược lại khi
tư duy "có ngã, có tướng,
có nguyện" chưa phát triển cao thì
sự tu luyện tư duy "vô ngã, vô
tướng, vô nguyện" không những
là chuyện bất khả kháng mà
còn đưa đến tình trạng
tầu hỏa nhập ma, đánh mất ngay
cuộc sống hiện tại để ảo
tưởng về tương lai, đánh
mất sự sáng suốt trí tuệ
để rơi vào u mê.
Phó Thường Dân
Tháng ba năm 2002
|