Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone+Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Trương Minh Hoàng - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Hữu Phúc - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Dương Thái Sơn - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Nguyễn Thanh Hoàng
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài  Mới  Nhất
CON VỊT



Tác giả Trần Gia Phụng.
In lần thứ 2 - 28CAN$/22US$


Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh - Tái bản lần 2.
35CAN$/25US$ *


Tác giả Bùi Ngọc Tấn.
25CAN$/20US$
(Ở Mỹ bán 35US$).

* Giá bán kể cả cước phí.
Liên lạc: NS Việt-Nam.




Các tập thơ chiến đấu của 
Lê Khắc Anh Hào 
(và Ý Yên, Trần Thúc Vũ).

Sáng Tác Của Phó Thường Dân

Ba "cánh cửa giải thoát" của tâm hồn

Từ ngàn xưa, con người luôn luôn tìm cách để hạnh phúc hóa cuộc đời, bằng cách thỏa mãn những nhu cầu sinh lý, vật chất và tâm lý. Hạnh phúc thường biến thành ảo ảnh cho con người chạy theo, nhưng càng chạy theo thì càng thấy hạnh phúc xa vời, và có khi tuyệt vọng không chạy theo nữa thì lại thấy hạnh phúc ẩn hiện ngay ở trong nội tâm mình, ở trong tư duy của chính mình. Phải chăng chúng ta nên tìm kiếm hạnh phúc ngay trong tư duy của bản thân mình?

1. Diễn biến trong tư duy.

Diễn biến trong tư duy là cuốn phim vô tận trong mỗi cá nhân do sự vận động của trí tưởng tượng của cá nhân đó. Sự vận động đó tùy thuộc vào những yếu tố cá nhân như trạng thái sức khỏe và tâm lý, khả năng trí tuệ, phản ứng hỗ tương đối với những người thân thuộc, những người có liên hệ về sản xuất ; và những yếu tố khách quan như các hiện tượng thiên nhiên và xã hội xảy ra chung quanh. Riêng một yếu tố tâm lý cá nhân cũng đã vô cùng rộng rãi, bao gồm cả niềm tin, phong tục, văn hóa v.v... Vì vậy sự vận động đó vô cùng phức tạp, thường ở ngoài tầm tay của người trong cuộc.

Diễn biến trong tư duy chính là hoạt động của tâm hồn của con người. Lao động trí não cũng là một hình thức của diễn biến trong tư duy. Những thành quả về hội họa, về âm nhạc, về văn chương, về triết học, về tâm lý v.v.... cũng đều là những kết qủa của diễn biến trong tư duy của các tác giả.

Diễn biến tư duy tượng trưng cho sức mạnh tinh thần của mỗi cá nhân. Nhờ có diễn biến trong tư duy con người mới có thể lao động trí óc, mới có thể sáng tạo, mới có thể kiềm chế được những cảm xúc, mới có thể kiềm chế được những hành động thiếu văn minh, mới có thể tạo ra được ý chí, nghị lực để vượt qua được những khó khăn, trở ngại v.v....

Hai yếu tố chính của diễn biến trong tư duy là: thiên phú và sự luyện tập. Vì tượng trưng cho sức mạnh tinh thần của mỗi cá nhân nên diễn biến trong tư duy cũng giống như trí thông minh luôn luôn có hai yếu tố chính đó. Phần "thiên phú" bao gồm những sự di truyền và những sự ngẫu nhiên khi con người mới ra đời. Sự di truyền mang tính khoa học và sự ngẫu nhiên mang tính xác suất. Phần luyện tập bao gồm sự học tập, sự rèn luyện cá nhân trong những điều kiện thiên nhiên và xã hội chung quanh, trong những tác dụng hỗ tương giữa những cảm xúc và những diễn biến trong tư duy.

2. Ảnh hưởng của diễn biến tư duy trên sức khỏe vật chất và tinh thần.

Một thí dụ đơn giản của diễn biến trong tư duy là trong cuộc sống hàng ngày chúng ta thường có những việc phải lo âu, suy nghĩ để tìm ra giải pháp thích hợp. Trong những suy tư thường xuyên đó, chúng ta thường tưởng tượng ra những hoàn cảnh có thể xẩy ra để chúng ta chuẩn bị sẵn sàng những biện pháp đối phó thích hợp.

Những suy tư đó có những mặt tích cực như:

- hiểu thấu các vấn đề phải đối phó

- có thể tìm được giải pháp có lợi nhất

- chuẩn bị kỹ các biện pháp đối phó

- khi gặp việc thì bình tĩnh vì đã nắm vững tình hình

Ngược lại, những suy tư đó có những mặt tiêu cực như:

- những cảm giác tiêu cực: lo âu, sợ hãi, giận hờn

- những tác hại của những cảm xúc tiêu cực trên sức khỏe vật chất cũng như tinh thần.

Trong những mặt tiêu cực, ảnh hưởng của những hoàn cảnh tưởng tượng trên bộ não của chúng ta cũng giống như những hoàn cảnh thực và có khi còn tai hại hơn nhiều. Hoàn cảnh thực luôn luôn tuân theo những quy luật khách quan, nhưng hoàn cảnh tưởng tượng thì lại vô giới hạn. Vì vậy tác hại của hoàn cảnh tưởng tượng có thể làm chúng ta hoàn toàn tê liệt, không ăn không ngủ được. Một người sợ ma có thể bị ngất xỉu vì thấy một hình ảnh nào đó xuất hiện bất ngờ. Sự ám ảnh có thể trở thành một tâm bệnh khá nguy hiểm v.v... Người càng thông minh thì trí tưởng tượng càng dồi dào, tác hại của trí tưởng tượng càng khốc liệt.

3. Thay đổi diễn biến trong tư duy.

Những diễn biến trong tư duy thường có tính cách tự phát và thường vượt khỏi tầm tay của người trong cuộc. Nhưng nếu chúng ta có thể thay đổi được diễn biến trong tư duy thì chúng ta không những có thể làm dịu bớt những tác động tai hại mà còn có thể làm tăng cường sức mạnh về vật chất cũng như về tinh thần của mình.

Mặc dầu chúng ta không thay đổi được yếu tố "thiên phú" của diễn biến trong tư duy, nhưng trong tuyệt đại đa số chúng ta đều có thể thay thế diễn biến trong tư duy bằng sự luyện tập. Chúng ta thử tìm hiểu các phương pháp để thay đổi tư duy:

3.1 Phương pháp hoạch định khoa học.

Những hiện tượng thiên nhiên và xã hội chung quanh chúng ta thường tạo nên những lo âu, áy náy do những hoạt cảnh tưởng tượng trong tư duy. Sự hoạch định một cách khoa học có thể giúp chúng ta thoát khỏi những cảm xúc tiêu cực đó:

- Phân biệt rõ rệt giữa "sự hoạch định công việc một cách khoa học" với "sự lo âu". Với sự thực tập thường xuyên, ta có thể thay thế sự lo âu chung chung bằng sự hoạch định có phương pháp khoa học, có dự trù thời gian và phương tiện để thực hiện. Khi hoạch định, chúng ta đứng ngoài công việc, không coi công việc là một phần tử của bản thân mình. Trái lại, khi lo âu, chúng ta lẫn lộn bản thân với công việc: đó chính là lý do mà sự lo âu có thể có những tác hại vô hình trên tinh thần và thể chất một người. Sự hoạch định làm tăng cường sự tự tin trong khi sự lo âu làm tiêu hao năng lực.

- Phân chia công việc ra nhiều phần nhỏ với một thời khóa biểu phù hợp với năng lực của mình, chúng ta có thể tránh những cảm xúc lo âu do khối lượng công việc cần giải quyết trước mắt. Một thí dụ cụ thể như ngày thứ hai thấy số lượng công việc phải thực hiện trong tuần, có người tự nhiên cảm thấy mệt mỏi, chán nản; nhưng sau khi phân chia công việc ra nhiều phần nhỏ để thực hiện từ thứ hai đến thứ sáu thì người đó như lấy lại được năng lực nên cảm thấy yêu đời phấn khởi.

- Lập chương thời khóa biểu chi tiết cho cuộc sống hàng ngày để không còn những khoảng thời gian "rỗng", không biết làm gì và suy nghĩ vẩn vơ.

Phương pháp hoạch định khoa học có thể hữu hiệu trong việc thay đổi diễn biến trong tư duy, nhưng thường đòi hỏi một ý chí mạnh nên nhiều người không áp dụng được.

3.2 Phương pháp vận động thể chất.

Sự vận động của thiên nhiên và xã hội chung quanh tác động trên diễn biến trong tư duy của con người. Nhưng cùng một hiện tượng thiên nhiên hay xã hội, những phản ứng trong diễn biến trong tư duy của hai người có thể hoàn toàn trái ngược đối với nhau. Sự trái ngược đó là do những yếu tố cá nhân chẳng hạn như niềm tin, văn hóa, phong tục, tình trạng phát triển tâm lý v.v...

Sự vận động về thể chất cũng có ảnh hưởng lớn lao trên tư duy, có thể tạo ra những xúc cảm mới. Sự vận động của thiên nhiên và xã hội ở ngoài tầm tay chúng ta, nhưng sự vận động của bản thân ta thì lại do chính ta quyết định. Nói một cách khác chúng ta có thể sử dụng loại vận động này để thay đổi diễn biến trong tư duy của chính mình.

Tất cả mọi hình thức vận động thể chất về thể thao, âm nhạc, nghệ thuật v.v.... đều có những ảnh hưởng trực tiếp trên diễn biến trong tư duy. Cường độ của những ảnh hưởng này tùy thuộc ở hoàn cảnh của từng cá nhân. Những khẩu hiệu quyết chiến có thể xóa bỏ sự sợ chết trong tư duy người lính chiến, những bài ca yêu nước có thể làm người lính chiến quên đi những khó khăn của ngăn sông cách núi v.v...

Có người chủ trương rằng những diễn biến trong não bộ chúng ta đều thể hiện ra những vận động thể chất chẳng hạn như cách đi, cách đứng, cách ngồi, hoặc những chuyển động của các bắp thịt trên mặt v.v....; và ngược lại nếu chúng ta thay đổi những loại vận động đó thì những diễn biến trong não bộ cũng thay đổi theo. Nói một cách khác, thay đổi những vận động đó có ảnh hưởng trực tiếp trên diễn biến trong tư duy.

Có người lại chủ trương rằng sống chính là vận động và giá trị của cuộc sống chính là giá trị của những vận động trong đời sống. Ðối với họ, các diễn biến trong tư duy hoàn toàn lệ thuộc vào các vận động thể chất.

Tất cả những hoạt động như khóc, cười, than thở, ca hát v.v... đều là những vận động thể chất. Những hoạt động này do những diễn biến trong tư duy tạo ra. Nhưng sau đó lại tác dụng ngược trở lại diễn biến trong tư duy, chẳng hạn như sự cười đùa tạo ra tình trạng thoải mái trong tư duy, sự than thở tạo ra cảm giác mệt mỏi trong tư duy. Thông thường thì những hoạt động đó có tính cách tự phát tùy theo những hiện tượng thiên nhiên và xã hội chung quanh tác động trên hoàn cảnh cá nhân của mỗi người. Nhưng nếu chúng ta có thể vận động một cách tự giác thì chúng ta có thể thay đổi được diễn biến trong tư duy của mình. Chẳng hạn như khi bị người khác tấn công bằng lời nói, người thường hay sa sầm nét mặt, tìm cách phản công, nếu không phản công được thì đau đớn uất hận; nhưng kẻ có khả năng vận động tự giác thì có thể cười lớn, giảm ngay được cảm xúc tiêu cực, làm hoang mang đối thủ, tư duy lại sáng suốt hơn để chọn giải pháp thích hợp.

Sự tụng kinh cũng là một hình thức vận động thể chất. Loại vận động này hiện diện trong mọi tôn giáo. Ðứng trên quan điểm khoa học thì chúng ta nhận thấy sự tụng kinh có thể mang lại sự an lạc tức thời cho tâm hồn của người trong cuộc. Những diễn biến trong tư duy thường được hướng về một mục đích tôn giáo khi tín đồ tụng kinh nên những cảm xúc tiêu cực được tạm thời xoa dịu. Vì mang tính tôn giáo nên sự tụng kinh thường không phải là một loại vận động tự giác; do đó tác động của sự tụng kinh trên diễn biến trong tư duy thường chỉ mang lại sự xoa dịu các cảm xúc tiêu cực và ít khi tạo ra được các cảm xúc tích cực.

Nói tóm lại phương pháp vận động thể chất để thay đổi diễn biến trong tư duy là dùng những vận động tự giác để có những tác động tích cực trên bộ não và đồng thời loại bỏ những diễn biến tiêu cực trong tư duy. Phương pháp này thường đem lại những hiệu quả tốt rất mau chóng. Tiếc thay, hiệu quả đó lại ngắn ngủi và sau đó những cơn sóng lớn của cảm xúc tiêu cực lại có thể nhấn chìm chúng ta, nhất là khi sức khỏe thể chất bị hạn chế.

Muốn thoát hẳn ra khỏi những cơn sóng lớn đó, chúng ta thử tìm hiểu "ba cánh cửa giải thoát" của đức Phật.

4. "Ba cánh cửa giải thoát" của đức Phật.

Ba cánh cửa giải thoát của đức Phật gồm có:

- Cánh cửa thứ nhất: vô ngã. "Không có một tự ngã riêng biệt, không có một sự tồn tại riêng biệt. Vạn pháp nương vào nhau mà có mặt, không có pháp nào có thể phát sinh và tồn tại một cách độc lập. Các pháp sinh khởi và tồn tại trong liên hệ nhân duyên chằng chịt, cái này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia không, cái này sinh vì cái kia sinh, cái này diệt vì cái kia diệt."

- Cánh cửa thứ hai: vô tướng. "Vô tướng tức là vượt thoát những khuôn khổ của tri giác và của nhận thức phân biệt... Các tướng trạng như có, không, sinh, diệt, một, nhiều, còn, mất, tới, đi, dơ, sạch, thêm, bớt... đều là những tướng trạng mà tri giác và nhận thức phân biệt úp chụp vào thực tại... Quán chiếu để làm tan rã những ý niệm có, không, sinh, diệt, một, nhiều, còn, mất, tới, đi, dơ, sạch, thêm, bớt... các vị sẽ đạt tới giải thoát."

- Cánh cửa thứ ba: vô nguyện. "Vô nguyện là không theo đuổi bất cứ một cái gì... Giải thoát và giác ngộ không phải là những pháp có mặt ở ngoài ta. Chỉ cần mở mắt ra chiêm nghiệm, thì ta thấy được ta chính là bản thân của giải thoát và giác ngộ."

(trích từ tác phẩm "Ðường Xưa Mây Trắng" của Thích Nhất Hạnh, trang 460, 461, 462).

Nếu chúng ta luyện tập để đạt được một tư duy vô ngã, vô tướng và vô nguyện thì chắc chắn chúng ta có thể thay đổi diễn biến trong tư duy bất cứ lúc nào chúng ta muốn để có thể bay bổng lên trời cao, vượt qua mọi chướng ngại hữu hình hay vô hình.

Nhưng làm thế nào để luyện được "ba món võ tuyệt chiêu đó?

Theo Thích Nhất Hạnh thì:

"Nhờ an trú tinh cần trong giới luật và chánh niệm mà có định tâm, lấy định tâm ấy mà quán chiếu vạn pháp trên thế gian".

(trích từ tác phẩm "Ðường Xưa Mây Trắng" của Thích Nhất Hạnh, trang 533).

Nhưng "giới luật và chánh niệm" lại mang tính cách "chủ thuyết", và

"Một khi đã bị kẹt vào một chủ thuyết rồi thì người ta mất hết tự do. Người ta trở nên độc đoán, cho rằng chỉ có chủ thuyết của mình mới là chân lý còn tất cả các chủ thuyết khác đều là tà đạo".

(trích từ tác phẩm "Ðường Xưa Mây Trắng" của Thích Nhất Hạnh, trang 198).

Giả sử như "giới luật và chánh niệm" đem lại sự định tâm thì sự quán chiếu vẫn có thể đưa chúng ta đến "tầu hỏa nhập ma" vì không có cơ sở thực nghiệm. Ðứng trên phương diện khoa học thì chúng ta thấy sự quán chiếu cũng giống như những diễn biến trong tư duy. Nếu chúng ta tự tạo được một tư duy vô ngã, vô tướng, vô nguyện thì chúng ta làm chủ được diễn biến trong tư duy nghĩa là giải thoát được tâm hồn mình.

Chúng ta thử tìm hiểu từng "môn võ tuyệt chiêu".

4.1 Tư duy vô ngã.

Hơn hai mươi lăm thế kỷ trước, đức Phật đã nhìn thấy những liên hệ nhân duyên của vạn vật, và không có vật nào trong thiên nhiên lại hoàn toàn độc lập. Ngày nay, sự tiến bộ của khoa học cho phép chúng ta nhìn thấy dễ dàng hơn những liên hệ nhân duyên đó nên nhân loại đang cố gắng để bảo vệ môi trường sống. Sự tiến bộ của nhân loại đã và đang hủy diệt dần dần chính môi trường sống của mình, chẳng hạn như lớp ô zôn bao bọc quanh trái đất để che chở cho chúng ta đã bắt đầu bị rách. Chạy theo sự tiến bộ một cách mù quáng thì tất yếu đẻ ra chiến tranh vì sự mâu thuẫn giữa nhóm tiến bộ và phần nhân loại còn lại sẽ càng gay gắt hơn. Nhân loại đã bắt đầu nghĩ đến giải pháp duy nhất để loại trừ khủng bố là xóa bỏ sự nghèo khổ, là giảm thiểu sự cách biệt giữa người với người.

Nhưng từ nhận định những liên hệ nhân duyên của vạn vật đến tạo được tư duy vô ngã chúng ta còn phải vượt qua nhiều giai đoạn cần thiết:

4.1.1 Quan điểm khách quan khoa học

Những hiện tượng thiên nhiên và xã hội thường đưa đẩy chúng ta có những phản ứng cá nhân để tồn tại, để tự vệ. Sự ngây thơ của một cá nhân nhiều khi bị kẻ khác sử dụng cho những mưu đồ đen tối. Phản ứng tự vệ dần dần tạo ra tư duy chủ quan, nói theo danh từ của Phật giáo là cái "ngã". Vì vậy quan điểm "vô ngã" có thể làm cho nhiều người chới với, không dám suy luận tiếp.

Sự tiến bộ của khoa học có thể giúp cho chúng ta dùng "quan điểm khách quan khoa học" thay thế cho tư duy chủ quan. Trong tất cả các cuộc nghiên cứu khoa học, người ta chỉ dùng tư duy để phân tích, để tổng hợp các sự kiện; để đưa ra các giả thuyết rồi tổ chức thí nghiệm để kiểm chứng độ chính xác của giả thuyết. Vì vậy "quan điểm khách quan khoa học" có tính chất tư duy "vô ngã".

Một thí dụ cụ thể của tư duy chủ quan:

Áo nàng vàng anh về thương hoa cúc
Áo nàng xanh anh mến lá sân trường
(thơ Nguyên Sa)
Nói một cách khác, khi thương ai thì cái gì của người ấy ta cũng thấy đẹp, thấy quý; và tư duy chủ quan chính là phản ứng tự nhiên của con người.

"Tư duy chủ quan" thường ngăn cản sự phát minh, sự tiến bộ. Trong khi đó nhờ "quan điểm khoa học khách quan", nhân loại đã đạt được những tiến bộ khổng lồ. Ðối với một cá nhân thì "quan điểm khoa học khách quan" góp phần đẩy cái "ngã" ra khỏi tư duy, góp phần tạo ra "tư duy vô ngã".

4.1.2 Quan điểm đa văn hóa.

Nếu văn hóa đem lại cho chúng ta những giây phút khoái lạc thần tiên thì đồng thời nó cũng đem lại những thành kiến, những tập tục cá biệt để tạo nên những hàng rào vô hình bao bọc chung quanh tâm hồn chúng ta. Ðôi khi hàng rào đó trở thành những bức tường của nhà tù vô hình:

Ai đem lễ giáo giam em
(TTKH)
Trên màn ảnh truyền hình chúng ta thấy những người đàn bà A Phú Hãn, sau khi được giải phóng, vẫn chưa bỏ được thói quen che kín mặt mũi!

Cuộc khủng bố ngày 11 tháng chín năm 2001 tại Hoa Kỳ đã giết hại hàng ngàn người dân vô tội, chết chẳng toàn thây. Cả thế giới xúc động, cả tỷ người lên án bọn khủng bố, nhưng cũng có hàng triệu người lại coi chúng như những thánh tử vì đạo, như những anh hùng dám hy sinh tính mạng mình để bảo vệ những người yếu thế. Chính tư duy chủ quan hay "cái ngã" đã đưa đến những quan điểm hoàn toàn trái ngược đối với cùng một hiện tượng thiên nhiên hay xã hội.

May thay, nhờ sự phát triển của nhân loại, ngày nay chúng ta có thể sống trong "đa văn hóa". Từ quan điểm của một nền văn hóa, chúng ta có thể thấy những văn hóa khác mang đủ mọi cái xấu, cái sai; nhưng từ quan điểm đa văn hóa thì chúng ta có thể thấy được những mặt tích cực của mỗi nền văn hóa, thấy những cái lố lăng của nền văn hóa gốc của bản thân mình, thấy cái sai của cái "ngã" v.v...

Tìm hiểu những mặt tích cực của những nền văn hóa khác, xét lại những sai lầm của nền văn hóa gốc của bản thân mình, chúng ta dần dần sẽ mở rộng tầm mắt, sẽ loại được cái "ngã" trong các nền văn hóa, góp phần tạo ra tư duy "vô ngã".

4.1.3 Thay đổi cái "ngã" bằng trị liệu tâm lý.

Ngày nay, ngành tâm lý học có thể sử dụng những phương tiện vật chất và tâm lý để thay đổi hẳn niềm tin của người khác. Ðối với những thói hư tật xấu chẳng hạn như nghiện rượu, người ta có thể tác động trên tư duy của người nghiện để tạo những nối kết giữa rượu với những hình ảnh đau đớn do rượu mang lại (tan vỡ gia đình, tự khinh mình, bị xã hội đào thải, v.v...)

Những phương pháp trị liệu đó chứng tỏ những tai hại của cái "ngã" trong tư duy và cũng chứng tỏ rằng cái "ngã" đó chẳng qua chỉ là thành quả của những điều kiện thiên nhiên và xã hội ở chung quanh mà chúng ta có thể thay đổi được chứ chẳng phải là cái gì thường tại bất biến.

Những phương pháp đó đã sử dụng sức mạnh của tư duy một người (mặc dầu có sự giúp đỡ của các bác sĩ tâm lý) để biến đổi cái "ngã". Người bệnh (tâm lý) không tự chữa một mình được vì tư duy mang tính "ngã", bác sĩ tâm lý đã giúp người đó sử dụng tạm thời tư duy "vô ngã" để chữa bệnh.

Những phương pháp đó cũng chứng minh sự hiện hữu cũng như sức mạnh của tư duy "vô ngã", giúp chúng ta thấy rằng chúng ta có thể tách khỏi cái "ngã" trong tư duy của chúng ta.

4.1.4 Sự xây dựng tư duy "vô ngã".

Quan điểm tư duy "vô ngã" không phải là sự phủ nhận đơn thuần tư duy có "ngã" mà là một sự thăng hoa biến chất của tư duy có "ngã". Sự phủ nhận đơn thuần tư duy có "ngã" là một sự sai lầm lớn có thể dẫn đến tình trạng tư duy bị thoái hóa, xa lánh chuyện đời sống thực tế, tự cô lập với xã hội chung quanh, tự hủy hoại cuộc sống của bản thân mình, một phép nhiệm mầu của thiên nhiên.

Quan điểm tư duy "vô ngã" phải là sự tổng hợp của muôn ngàn "ngã" để biến chất theo đúng quy luật của thiên nhiên "những biến đổi về lượng dẫn đến những biến đổi về chất". Một thí dụ cụ thể: giả sử tư duy "vô ngã" là nước ở thể lỏng, sau khi đun nước tới 100 độ thì nước sôi biến chất từ thể lỏng ra thể hơi, sau sự tổng hợp của nhiều "ngã" thì tư duy có "ngã" biến chất từ thể "ngã" ra "vô ngã".

Nói một cách khác, tư duy "vô ngã" chỉ có thể xây dựng từ những tư duy có "ngã" mà thôi, cũng giống như hơi nước chính là nước ở thể hơi, cũng giống như một xã hội nhân bản chỉ có thể xây dựng từ những thành quả của xã hội tư bản.

Luyện được tư duy "vô ngã" cũng giống như luyện được một môn võ tuyệt chiêu để mở cánh cửa giải thoát tâm hồn, không còn những quan niệm hẹp hòi kỳ thị, không còn những u mê trong đêm dài của sự ngu dốt. Ngược lại sự luyện tập tư duy "vô ngã" cũng có thể đưa đến "tầu hỏa nhập ma", tư duy thoái hóa ; không những không thể nào thấy được cánh cửa giải thoát tâm hồn mà còn rơi vào vòng u mê, chỉ còn biết lấy cầu nguyện làm cứu cánh.

4.2 Tư duy vô tướng.

Hơn hai mươi lăm thế kỷ trước, đức Phật đã vượt thoát được những khuôn khổ của tri giác và thấy được thực tại. Ngày nay, nhờ những tiến bộ khoa học chúng ta biết được sự hiện hữu của những làn sóng âm thanh, hình ảnh chung quanh chúng ta, truyền tới từ những vệ tinh nhân tạo, các chuyên viên có thể chụp hình phổi, hình tim của chúng ta, có thể biết những sinh hoạt của những vi trùng trong cơ thể của chúng ta v.v... Sự tiến bộ của khoa học giúp chúng ta thấy được sự nhỏ hẹp của những nhận thức của ngũ giác của chúng ta, thấy được tính chất vô tướng của vạn vật một cách dễ dàng hơn.

Nhận thức của tri giác của con người dẫn đến tư duy có "tướng", nghĩa là nhận thấy vạn vật dưới những dạng phân biệt; vì vậy tư duy ấy biến thành bức tường vô hình ngăn cản con người thấy được thực tại; chỉ khi nào phá bỏ được bức tường đó thì con người mới đạt được tư duy "vô tướng".

Một thí dụ phổ biến mà đa số chúng ta đều biết:

Bốn người mù sờ con voi rồi tranh cãi nhau về con voi, người sờ chân voi thì quả quyết là con voi giống cái cột nhà, người sờ tai voi thì thấy voi là cái quạt v.v... Nói một cách khác vì thiếu thị giác nên cả bốn người đều không thể thấy hình dạng thật của con voi, nên thấy cái "tướng" của con voi khác nhau.

Một thí dụ khác có thể giúp chúng ta thấy sự khác biệt của tư duy có "tướng" và tư duy "vô tướng":

Một người con gái đẹp tuyệt trần, ai nhìn thấy cũng tự thấy đam mê. Nhận thức của tri giác tạo ra đam mê, vướng mắc cho mọi người.

Tư duy "vô tướng" thì thấy được ý nghĩ đen tối của người con gái đẹp, muốn dùng sắc đẹp của mình để gây khổ sở phiền não cho người khác; thấy được sự vận chuyển của máu trong thân thể người đó cũng chẳng khác gì người khác, thấy được cả những gì hôi thối trong cơ thể người đó. Vì vậy người có tư duy "vô tướng" có thể dừng lại ở bề ngoài để thưởng thức cái đẹp, có thể tiến sâu hơn để xóa bỏ đam mê vướng mắc v.v...

Sự luyện tập để có tư duy vô "tướng" cũng tương tự như sự luyện tập để có tư duy vô "ngã", nghĩa là không phải sự phủ nhận đơn thuần tư duy có "tướng", mà phải xây dựng từ tư duy có "tướng" rồi biến chất thăng hoa để trở thành "vô tướng" theo đúng quy luật của thiên nhiên "những biến đổi về lượng dẫn đến những biến đổi về chất".

Luyện được tư duy "vô tướng" cũng giống như luyện được một môn võ tuyệt chiêu để mở cánh cửa giải thoát tâm hồn, không còn bị giới hạn bởi các dạng của vật chất, không còn những u mê trong đêm dài của sự ngu dốt. Ngược lại sự luyện tập tư duy "vô tướng" cũng có thể đưa đến "tầu hỏa nhập ma", tư duy thoái hóa; không những không thể nào thấy được cánh cửa giải thoát tâm hồn mà còn rơi vào vòng u mê, chỉ còn biết lấy cầu nguyện làm cứu cánh.

4.3 Tư duy vô nguyện.

Vô nguyện là không theo đuổi bất cứ một cái gì, không còn mong muốn gì nữa. Phải chăng tư duy của những kẻ chán đời, không còn muốn sống nữa cũng là tư duy "vô nguyện"?

Muốn học tập "cánh cửa giải thoát" thứ ba của đức Phật để biến thành một môn võ tuyệt chiêu "tư duy vô nguyện" quả thật là nguy hiểm và có thể dễ dàng bị tầu hỏa nhập ma.

"Chỉ cần mở mắt để chiêm nghiệm, thì ta thấy được ta chính là bản thân của giải thoát và giác ngộ" (trang 462, "Ðường Xưa Mây Trắng" của Thích Nhất Hạnh).

Không biết đây có đúng là lời dậy của đức Phật hay là do đời sau viết thêm! Nhưng với quan điểm khoa học ngày nay thì chắc chắn "mở mắt để chiêm nghiệm" không đủ!

Ngày nay, theo các nhà tâm lý học thì sự mong muốn làm một việc gì là yếu tố cần thiết cho sự thành công, cho hạnh phúc cá nhân; không những cần theo đuổi mà còn cần hoạch định những chương trình chi tiết để thực hiện những điều mong muốn đó. Phải chăng sự cần thiết đó đi ngược lại quan điểm "vô nguyện"?

Nếu chúng ta kiểm điểm lại những việc đã qua trong đời mình thì chúng ta thấy ngay nhiều khi sự mong muốn trở thành một ám ảnh khi vượt quá một cường độ nào đó sẽ trở thành một màng sương mù che kín trí tuệ ta, không cho ta thấy được thực tại. Sự mong muốn quá độ làm cho chúng ta quên đi cuộc sống hiện tại, đánh mất cuộc sống hiện tại và đôi khi đánh mất cả cuộc sống tương lai nữa. Ngay cả sự mong muốn được giải thoát cũng vậy, sự mong muốn giải thoát tâm hồn khi đạt tới một mức độ nào đó, có thể biến thành một bức tường vô hình giam hãm tâm hồn chúng ta.

Trong đời sống hàng ngày, nhiều vấn đề chúng ta càng cố quên thì chúng ta lại càng nhớ thêm và khi ta không cố quên nữa thì tự nhiên chúng ta lại quên. Phải chăng đó chính là do liều thuốc "vô nguyện" ! Nhưng sự "vô nguyện" đó là do kết quả của sự tuyệt vọng chứ không phải là do tư duy "vô nguyện".

Sự luyện tập để có tư duy vô "nguyện" cũng tương tự như sự luyện tập để có tư duy vô "ngã", nghĩa là không phải sự phủ nhận đơn thuần những nguyện vọng của bản thân mình, mà phải xây dựng từ những nguyện vọng đó rồi biến chất thăng hoa để trở thành "vô nguyện". Chính nhờ những nguyện vọng mà chúng ta có thể tìm thấy sức mạnh tinh thần và vật chất của bản thân mình để thực hiện những ước vọng đó (đúng như quan điểm của các nhà tâm lý học hiện nay). Nhưng chính sức mạnh đó sẽ biến thành những thứ độc dược tàn phá chúng ta khi những ước vọng của chúng ta không phù hợp với những điều kiện thiên nhiên và xã hội chung quanh.

Tư duy "vô nguyện" là tư duy có khả năng loại trừ được những nguyện vọng không phù hợp với những điều kiện thiên nhiên và xã hội chung quanh, và tận dụng được những sức mạnh tinh thần và vật chất do những ước vọng phù hợp để giúp mình, giúp người sống tươi vui hạnh phúc hơn.

Luyện được tư duy " vô nguyện " cũng giống như luyện được một môn võ tuyệt chiêu để mở cánh cửa giải thoát tâm hồn, không còn bị mê hoặc bởi những ước vọng lầm lẫn bệnh hoạn, không còn những u mê trong đêm dài của sự ngu dốt. Ngược lại sự luyện tập tư duy "vô nguyện" cũng có thể đưa đến "tầu hỏa nhập ma", tư duy thoái hóa ; không những không thể nào thấy được cánh cửa giải thoát tâm hồn mà còn rơi vào đêm tối của u mê và lạc hậu.

1. 5. Vô chiêu thắng hữu chiêu.

Những nhà tâm lý học ngày nay thường nghiên cứu các tính chất của tư duy rồi đưa ra những biện pháp để thay đổi tư duy chẳng hạn như "vận động thể chất để thay đổi diễn biến trong tư duy". Tư duy đó phải mang ba tính chất:

- tư duy của bản thân mình (có ngã),

- tư duy căn cứ trên các sự kiện khoa học, các sự kiện đo lường được (có tướng),

- tư duy phải có ước nguyện, để hoạch định kế hoạch cần thiết thực hiện các ước nguyện của mình (có nguyện và có ngã).

Tư duy có đủ ba tính chất đó đã thúc đẩy khoa học, nâng cao năng suất lao động, tạo ra những xã hội nhân bản, tạo ra hạnh phúc cho loài người.

Như vậy, phải chăng tư duy "vô ngã, vô tướng, vô nguyện" hoàn toàn phản khoa học, hoàn toàn đi ngược lại văn minh của loài người? Phải chăng việc tu luyện để có một tư duy "vô ngã, vô tướng, vô nguyện" là hoàn toàn không tưởng, là đi ngược lại trào lưu tiến hóa của loài người?

Thực ra tư duy "có ngã, có tướng, có nguyện" là rất cần thiết cho cá nhân và cho xã hội loài người, để ngăn chặn mọi hành động vô trách nhiệm, để xóa bỏ sự nghèo nàn lạc hậu, để tận dụng khả năng thiên phú của con người trong việc tạo hạnh phúc cá nhân cũng như xây dựng một xã hội nhân bản. Nhưng đó là những món võ "hữu chiêu".

Vì tính cách "hữu chiêu" nên những món võ đó đều bị giới hạn bởi chính những chiêu thức của nó. Nói một cách khác, khi tư duy "có ngã, có tướng, có nguyện" vượt qua một ranh giới nào đó thì biến chất để trở thành nguồn gốc của đau khổ của cá nhân mang tư duy đó. Và khi đó thì cá nhân đó cần có món võ "vô chiêu" để hóa giải. Ba "cánh cửa giải thoát" đó không những có khả năng hóa giải các đau khổ của cá nhân đó, mà còn đưa tư duy đó vượt mọi ranh giới để đem lại hạnh phúc cho cá nhân đó. Tư duy đó cũng có thể đem lại hạnh phúc cho nhiều kẻ khác cũng như góp phần tích cực trong việc xây dựng một xã hội nhân bản nữa.

Nhưng ngược lại khi tư duy "có ngã, có tướng, có nguyện" chưa phát triển cao thì sự tu luyện tư duy "vô ngã, vô tướng, vô nguyện" không những là chuyện bất khả kháng mà còn đưa đến tình trạng tầu hỏa nhập ma, đánh mất ngay cuộc sống hiện tại để ảo tưởng về tương lai, đánh mất sự sáng suốt trí tuệ để rơi vào u mê.

Phó Thường Dân
Tháng ba năm 2002


Trang bìa 
Ðầu trang