Làm
thế nào mà việc nhận nhiệm sở ở hải ngoại lại trở
thành đại họa cho hai nhân viên cao cấp của hãng Qantas. Phóng
viên Matt Sullivan tường trình.
Họ
là hai giám đốc tài năng được gởi đến những nơi xa xôi
để nới rộng địa bàn làm ăn của Qantas. Công việc của
họ cũng đơn giản: vực dậy một công ty hàng không liên
doanh loại rẻ tiền với thương hiệu Jetstar, một trong những
mũi nhọn tiến vào thị trường Á Châu đầy triển vọng.
Bà Daniella Marsilli được gởi đến TP.HCM, một thành phố
năng động, vào năm 2007 cùng với chồng là ông John Brinkley
và đứa con gái 4 tuổi Amelia. Bà Marsilly là một trong những
giám đốc đầu tiên của Qantas làm việc tại Việt Nam, và
đã trở thành Phó tổng giám đốc điều hành của hãng hàng
không liên doanh mang tên Jetstar Pacific.
Một
năm sau, thì ông Tristan Freeman từ Melbourne, đến nhận nhiệm
sở tại đây với chức vụ Phó tổng giám đốc tài chính
của Jetstar Pacific. Ông cùng gia đình gồm vợ và hai con gái
nhỏ dọn vào căn chung cư sang trọng ở Quận Nhất.
Tai
họa bắt đầu từ đây!
Cách
đây mấy tuần, hai vị giám đốc này lặng lẽ chuồn về
được Sydney sau một kinh nghiệm làm việc khó quên ở Việt
Nam, mà bạn bè của họ gọi đó là “một kinh nghiệm thật
đáng sợ và xấu hổ”. Họ bị giam lỏng tại Việt Nam hơn
6 tháng trong khi bị công an điều tra về các hoạt động mua
xăng dầu dự trữ gây thua lỗ của công ty liên doanh Jetstar
Pacific.
Họ
chẳng có hy vọng được trở về nhà vì luôn bị công an
hỏi cung dồn dập, trong khi cả hai đều không nói được
tiếng Việt. Một đồng nghiệp của họ cho biết “họ bị
dọa dẫm, hỏi cung và không cho tiếp xúc với luật sư cũng
như không hề được biết tội danh”.
Mặc
dầu gặp rắc rối như vậy nhưng cả hai Marsilly và Freeman
ít được công chúng Úc nhắc đến - ngay cả sau khi báo chí
loan tin nhà cầm quyền Việt Nam đã cách ly họ với gia đình
ngay tại phi trường Tân Sơn Nhất khi họ quay trở về Úc
nghỉ lễ Noel.
Mặc
dầu bên ngoài thì gần như im lặng, nhưng bên trong hậu trường
thì hãng Qantas đã cật lực chạy đôn chạy đáo. Ông Steve
Jackson, Tổng quản Vấn đề An Ninh của hãng, đã phải bỏ
ra rất nhiều thời gian tại Việt Nam để giải quyết vấn
đề này. Trước đây, ông Steve từng làm việc cho lực lượng
cảnh sát liên bang Úc, từng cầm đầu lực lượng đặc nhiệm
cho Thế Vận Hội Sydney, và từng làm trưởng toán điều tra
vụ đánh bom khủng bố tại Bali năm 2002.
Hai
vị giám đốc này hiện nay đã an vị tại Úc nhưng từ nay
liệu Qantas còn có thể tiếp tục làm ăn tại Việt Nam nữa
không. Cả hai vị giám đốc này đều không bị truy tố. Cuộc
điều tra về hoạt động mua xăng dầu dự trữ gây thua lỗ
31 triệu đô vào năm 2008 tại Jetstar Pacific được “chấm
dứt” mà không có lời giải thích nào. Người ta cũng hiểu
rằng cả hai vị chẳng muốn phát ngôn một điều gì về
vụ này cả.
Vụ
việc một thời làm náo loạn đến hàng ngũ lãnh đạo cao
cấp của Qantas. Alan Joyce, vị Tổng giám đốc hãng Jetstar
trước khi trở thành Tổng giám đốc của Qantas vào cuối
năm 2008, là một trong hai thành viên cao cấp của Qantas nằm
trong Hội đồng quản trị 6 người của Jetstar Pacific đã
chấp thuận các hợp đồng mua xăng dầu dự trữ vào tháng
Hai năm 2008. Thành viên khác là David Hall, khi đó là Tổng quản
Tài Chánh của Jetstar, nay là Tổng quản Kỹ thuật của hãng
Qantas.
Khi
vụ việc mới nổ ra, Qantas đã hỏi ý kiến tư vấn xem việc
đi lại của các nhân viên cao cấp của hãng đến Việt Nam
có an toàn hay không. Có một lần, cuộc họp của hội đồng
quản trị của Jetstar Pacific đã được tổ chức tại Singapore
thay vì tại tổng hành dinh của hãng tại TP.HCM.
Qantas
bị kẹt giữa hai phe nhóm: một phe thì muốn phát triển Jetstar
Pacific, còn phe kia thì muốn đẩy Jetstar (Qantas) ra khỏi liên
doanh. Ngoài cuộc điều tra về hoạt động mua xăng dầu dự
trữ gây thua lỗ, Jetstar Pacific còn phải đương đầu với
nhiều nhiêu khê khác trong những năm qua, kể cả việc Bộ
Giao Thông Vận Tải muốn công ty liên doanh này phải thay đổi
logo trước tháng 9 năm nay.
Jetstar
Pacific là mối đe dọa đối với hãng hàng không quốc doanh
Việt Nam Airlines, vì hãng liên doanh này là hãng hàng không
lớn thứ hai tại Việt Nam và cũng là hãng hàng không liên
doanh với nước ngoài đầu tiên sau khi Qantas mua lại một
phần công ty này vào tháng 7 năm 2007.
Giờ
đây hãng Qantas nắm giữ 27% cổ phần của hãng liên doanh
này, và phía Việt Nam, thông qua Tổng công ty Đầu tư và kinh
doanh vốn nhà nước (SCIC) nắm giữ phần còn lại.
Carlyle
Thayer, giáo sư chính trị tại Đại học NSW, một chuyên gia
về vấn đề chuyển đổi kinh tế và hệ thống chính trị
của Việt Nam, nói rằng người nước ngoài không thể tin
cậy vào hệ thống pháp luật của Việt Nam được bởi vì
luật pháp và việc thi hành không ăn nhập với nhau. Ông nói
“Vấn đề ở chỗ này: Việt Nam không phải là nền kinh
tế thị trường đúng nghĩa. Môi trường làm ăn luôn có rủi
ro, bởi vì nhà nước sẵn sàng can thiệp với mục đích chính
trị và hình sự hóa vấn đề thương mại”.
“Bài
học ở chỗ là các công ty nhà nước luôn được bảo vệ
so với các công ty nước ngoài - Đây là một sân chơi không
công bằng”.
Cuộc
điều tra của nhà nước VN về hoạt động mua xăng dầu dự
trữ gây thua lỗ bắt đầu vào năm ngoái, mặc dầu kết quả
cuộc kiểm toán trước đó của công ty kiểm toán KPMG không
thấy có dấu hiệu sai phạm nào. Các hợp đồng mua xăng dầu
dự trữ là một hình thức mua bán bình thường rất phổ
biến của các hãng hàng không để dự phòng đột biến giá
cả. Vụ mua xăng dầu dự trữ này trong năm tài khóa 2008-2009
cũng là vụ giao dịch đầu tiên của hãng liên doanh Jetstar
Pacific.
Khi
giá xăng dầu lên đến mức kỷ lục, ông Freeman Tổng quản
Tài Chánh đã ký mua xăng dầu dài hạn với Tổng công ty Cung
cấp Xăng dầu với giá US$135/thùng. Jetstar Pacific đã đặt
mua trước với số lượng xăng đầu đủ cung cấp 75% cho
cả năm, tính đến 31/05 năm ngoái. Tuy nhiên, chỉ trong vòng
1 tháng giá xăng dầu rớt thê thảm khi cả thế giới rơi
vào khủng hoảng, và cho đến cuối năm 2008 thì chỉ còn US$50/thùng.
Do đó công ty liên doanh này bị “hố nặng vì ký hợp đồng
quá sớm”.
Do
sơ xuất mà bà Marsilly bị vướng vào cuộc điều tra bởi
vì trong khi tạm nắm quyền Tổng giám đốc thay thế cho ông
TGĐ Lương Hoài Nam nghỉ phép, thì bà đã ký vào các văn bản
liên quan đến hợp đồng mua xăng dầu dự trữ này.
Vụ
thua lỗ này đã tiếp thêm “đạn” cho phe nhóm đối nghịch
với công việc làm ăn của Qantas. Một nhân viên nói rằng
“Ngay từ ngày đầu tiên đã có sự chống đối khi công
ty liên doanh được đặt tên Jetstar Pacific. Người ta cho rằng
Qantas muốn bắt nạt công ty nhỏ”.
Có
thể thấy rõ là Qantas bị nhà nước Việt Nam bắt bí vì
hai nhân viên là ông Freeman và bà Marsilly nằm trong tay họ
- để Qantas không thể sử dụng quyền sang nhượng giá cổ
phần ban đầu trong Jetstar Pacific. Đặc quyền sang nhượng
(Put Option) được đưa ra để thu hút đầu tư nước ngoài,
bằng cách cho họ quyền được rút lại đầu tư nếu sau
này công ty làm ăn kém hiệu quả.
Tuy
nhiên, nếu điều này xảy ra thì thì phía cổ đông Việt
Nam phải kiếm ra $50 triệu để hoàn trả cho Qantas.
Một
nguồn tin nội bộ cho biết rằng trong một buổi làm việc
do một viên tướng của Bộ Công An chủ trì vào tháng rồi,
hai vị giám đốc này đã bị buộc phải thừa nhận trách
nhiệm cho vụ giao dịch thua lỗ nặng nề đó.
Ông
David Epstein, Tổng quản Ngoại vụ của Qantas đã bác bỏ các
nguồn tin cho rằng hai vị giám đốc đã bị giữ làm con tin,
và nói rằng họ không bị buộc phải ký nhận điều gì cả.
Ông còn nói: “có nhiều giả thuyết này nọ, nhưng hầu hết
đều không đúng”
Qantas
đóng vai trò “đại diện giao dịch” trong năm 2008 cho các
chuyển khoản mua xăng dầu bởi vì vẫn chưa có hình thức
giao dịch xảy ra tại Việt Nam.
“Nói
cho cùng, trách nhiệm là của Jetstar Pacific và họ phải trả
lại đầy đủ”.
Ông
Epstein nói rằng mới đây Qantas đã gia hạn quyền sang nhượng
của mình “thêm vài năm nữa hoặc cho đến khi công ty liên
doanh làm ăn phát đạt”. Ông cũng cho biết Qantas chưa có
ý định rút ra khỏi Việt Nam và vẫn muốn gia tăng cổ phần
trong Jetstar Pacific lên 30%.
Ông
cũng xác nhận rằng có những lúc công ty liên doanh Jetstar
Pacific nợ Qantas đến $10 triệu trong những tình huống khác
nhau, nhưng không có liên quan đến vụ mua xăng dầu. “Chắc
chắn là có lúc con số nợ lên tới mức đó ($10 triệu),
nhưng tôi tin là hiện nay không có con số nợ nào đến gần
con số này”.
Ông
Richard Broinowski, cựu đại sứ Úc tại Việt Nam, nói rằng
bài học cho việc làm ăn ở Việt Nam là phải hành xử cẩn
thận và phải có được các nguồn tin thông thạo.
“Việt
Nam cũng như Trung Quốc. Tuy là thị trường có mở cửa ra,
nhưng đằng sau vẫn có bàn tay sắt của đảng cộng sản.
Nếu sự việc không như ý muốn,... thì y như rằng họ sẽ
nhúng tay vào”.
Việc
mở rộng địa bàn làm ăn của Qantas đến Việt Nam thông
qua công ty con Jetstar là nằm trong kế hoạch lâu dài, nhắm
vào thị trường Á Châu đang lớn mạnh.
Khi
Alan Joyce và Geoff Dixon, TGĐ Qantas khi đó, trình làng thương
hiệu liên doanh tại Việt Nam năm 2008, họ tuyên bố là tiềm
năng của tuyến bay Saigon-Hà Nội thậm chí còn lớn hơn tuyến
Sydney - Melbourne.
Qantas
cũng nhắm đến TP.HCM làm trung chuyển cho các chuyến bay đường
dài đi Âu Châu sử dụng loại máy bay đời mới Boeing-787
Dreamliner, bởi vì rẻ hơn nếu sử dụng Singapore hoặc Bangkok.
Nhưng
chính sách định giá vé bay của chính phủ Việt Nam khiến
cho kế hoạch khai thác các tuyến bay nội địa tại đây trở
nên khó khăn. Đầu năm nay Jetstar đã chọn phi trường Changi
của Singapore làm nơi trung chuyển cho các tuyến bay Châu Á
và đi Âu Châu, thay vì TP.HCM.
Nói
đến đây, chúng ta không khỏi nghi ngờ đặt dấu hỏi cho
các vấn đề căn bản khác còn tồn đọng tại Việt Nam.
Nhưng Qantas một mực khẳng định rằng hãng vẫn tiếp tục
công việc làm ăn tại đây.
Ông
Epstein nói “Chúng tôi có lòng tin, và đối tác phía Việt
Nam cũng vậy,... rằng vấn đề này (vụ việc bắt ông Freeman
và bà Marsilly) sẽ không có ảnh hưởng lớn lao gì đến mối
quan hệ làm ăn”.
Nguồn:
Báo
The Age - 30/07/2010.