Liên Lạc: Nguyệt-San Việt-Nam
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC., V5V-5C8, Canada
Phone  +  Fax: (604)  879.1179 - Email: nsvietnam@yahoo.com
 Trang bìa
Do Bắc Sơn & Nam Sơn phụ trách
Hãy tiếp sức cho Nguyệt-San Việt-Nam sống đến ngày Sài Gòn - Hà Nội được tự do 
bằng cách giúp đỡ hoặc mua các tác phẩm do Nguyệt-San Việt-Nam giới thiệu. 
Xin liên lạc trực tiếp với tòa soạn theo địa chỉ trên.


Bài Mới Nhất



Máu và nước mắt 
trên lưng Trường Sơn.


Những Trận Đánh Không Tên 
Trong Quân Sử tập 2


Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm
Thơ Trần Thúc Vũ


 


Thơ chiến đấu của Hải Triều, 
Lê Khắc Anh Hào, Ý Yên, 
Trần Thúc Vũ.




 

Tin Tức - Thông Cáo

ĐƠN KIẾN NGHỊ
v/v: mở phiên toà giám đốc thẩm vụ án Nguyễn Văn Đài
- Bản án phúc thẩm mang số 1037/2007/HSPT

Kính gửi:

- Ông Chánh án Toà án nhân dân tối cao
- Ông Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao 
 
Tôi là: Vũ Minh Khánh, sinh năm 1974. 

Nơi thường trú: P302, Z8, Bách Khoa, Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Chồng tôi là luật sư Nguyễn Văn Đài, sinh năm 1969, bị bắt ngày 06/03/2007, đã qua 2 phiên toà xét xử cấp sơ thẩm và phúc thẩm với lời buộc tội theo điều 88 BLHS là  "tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN VN". Chồng tôi bị tuyên án 4 năm tù giam và 4 năm quản chế sau thời gian bị tù. Hiện nay chồng tôi đang bị giam giữ tại trại giam Nam Hà.

Chồng tôi bị kết án oan vì các toà sơ thẩm vào ngày 11/05/2007 và toà phúc thẩm vào ngày 27/11/2007 đã không có đủ cơ sở lý luận để kết tội chồng tôi tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam“. Các phiên toà đã vi phạm nghiêm trọng các thủ tục tố tụng khiến cho việc xử án thiếu công bằng. 

1) Sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng bộ luật Hình sự

Như tôi trình bày trong bài bênh vực cho chồng tôi mang tựa đề “Chồng tôi yêu nước, Chồng tôi vô tội”được tôi đã gửi đến các cơ quan thẩm quyền nhà nước trước phiên toà phúc thẩm hồi giữa tháng 11/2007, những lý lẽ mà toà sơ thẩm dùng để buộc tội chồng tôi đã không đủ vững. Đối với cá nhân chồng tôi, phiên toà phúc thẩm vào ngày 27/11/2007 đã không xem xét đầy đủ các yếu tố khách quan, chủ quan, chủ thể và khách thể của hành vi phạm tội khi kết tội chồng tôi theo điểm a, c khoản 1 Điều 88 Bộ luật Hình sự. Cách kết tội gộp chung cho “các bị cáo” rất tai hại khi các bị cáo không có hành vi giống nhau. Toà phúc thẩm đã không giải quyết được những vấn đề quan trọng sau đây: 

  1. Chồng tôi có hoạt động nhằm mục đích chống Nhà nước XHCNVN không? 
    Như thế nào là chống? Chồng tôi đã hoạt động chống cơ quan nhà nước hiến định nào? Giống như toà sơ thẩm, mặc dù không đưa ra được chứng cứ nhưng toà phúc thẩm vẫn tiếp tục kết luận sai lầm rằng chồng tôi “tẩy chay cuộc bầu cử đại biểu quốc hội năm 2007 và trực tiếp chống lại Nhà nước ta tổ chức bầu cử theo quy định của Hiến pháp”. Trên thực tế, ai cũng biết chồng tôi là người công khai tuyên bố không tẩy chay bầu cử và còn khuyến khích công dân ra ứng cử độc lập nữa. Tương tự, lời buộc tội chồng tôi “tuyên truyền, xuyên tạc, bôi nhọ, đòi xóa bỏ vị trí lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt nam” (BAPT, tr. 6) để cho rằng như thế là vi phạm hiến pháp đã là những suy diễn hoàn toàn chủ quan và không có cơ sở vật chứng vững chắc. Cần khẳng định rằng toà phúc thẩm đã không nêu ra được bất cứ tương quan nào giữa những điều chồng tôi viết trong 2 bài “Quyền tự do thành lập đảng” và “Dân trí Việt Nam có đủ khả năng xây dựng chế độ đa đảng” với cáo buộc vừa nêu. 
  1. Chồng tôi có “tuyên truyền xuyên tạc”, có “làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước” không?
    Trong phiên xử phúc thẩm toà đã không cho tranh luận về khái niệm tuyên truyền. Toà đã không chịu xét rằng một hành vi phải có một số đặc điểm về nội dung, hình thức, qui mô và ảnh hưởng nhất định nào đó thì mới được gọi là tuyên truyền. Toà đã không đưa ra được chứng cứ cụ thể cho lời cáo buộc rằng “nội dung mà các bị cáo tuyên truyền tại lớp học, nội dung các bị cáo trả lời phỏng vấn về vấn đề dân chủ, nhân quyền… đều là các vấn đề đã bị bóp méo, bôi nhọ, xuyên tạc, không đúng với thực tế tại Việt Nam” (BAPT, tr. 6).  Thế nào là dân chủ, nhân quyền? Dùng tiêu chuẩn nào để đánh giá thực tế? Nội dung nào bị xem là không đúng với thực tế Việt nam? Nói chuyện về dân chủ và nhân quyền có phạm tội không? Đã không cho tranh luận về những chứng cứ thì không thể xác định được rằng thực tế Việt Nam đã có bị bóp méo, xuyên tạc hay bôi nhọ hay không và nếu có, thì ở mức độ nào. Việc áp dụng luật hình sự ở đây đã hoàn toàn bị sai lệch.  
2) Kết luận trong bản án không phù hợp với tình tiết khách quan

Bản án phúc thẩm mang số 1037/2007/HSPT đã tiếp tục chấp nhận những sơ xuất nghiêm trọng của công an điều tra mặc dù tôi đã phê bình điều này trong bài bênh vực cho chồng tôi (tài liệu đã dẫn). Những kết luận điều tra cẩu thả được thấy ghi trong phần “Nhận thấy” của bản án phúc thẩm đã tạo cảm tưởng sai lầm về hành vi phạm tội của các bị cáo. Ngoài ra bản án phúc thẩm cũng ghi sai cả những diễn biến xảy ra tại phiên toà. 

  1. Sai sự thật một cách vô lý
    Như tôi đã trình bày trước đây, vào sáng ngày 03/02/2007, luật sư Lê Thị Công Nhân mới chỉ tiếp xúc chào hỏi 3 sinh viên được 5 phút thì công an đã ập vào bắt. Tất cả các nhân chứng đều xác nhận việc này. Bất cứ người nào có chút đầu óc suy luận cũng nhận ra rằng thời gian 5 phút không đủ để luật sư Công Nhân làm công việc “tuyên truyền xuyên tạc chủ trương chính sách cùa Nhà nước” như cáo trạng và các bản án đã ghi một cách sai lầm. Cả tài liệu “Nhân phẩm, nền tảng của nhân quyền” bắt được hôm ấy cũng không có có tính chất “tuyên truyền xuyên tạc”. 
  1. Sai với thực tế khách quan
    Bản án phúc thẩm viết rằng: “các nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân là: Phạm Văn Trội, Phạm Sỹ Nguyên, Nguyễn Xuân Đệ, Trần Thanh và Nguyễn Thị Hương Lan cũng khai nhận Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền, thậm chí còn lôi kéo họ vào các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống nhà nước” (BAPT, tr. 3). Ở đoạn này bản án phúc thẩm đã phạm sai sót hơn bản án sơ thẩm nữa. Trước hết ông Phạm Văn Trội không phải là nhân viên của chồng tôi, và 4 nhân viên nói trên đã làm việc trong 2 cơ sở khác nhau chứ không phải đều làm trong văn phòng luật sư của chồng tôi.
     
    Nghiêm trọng hơn nữa bản án phúc thẩm đã thay đổi chứng cứ.  Nếu bản án sơ thẩm chỉ mới ghi lại ý kiến chủ quan của cơ quan an ninh (“cơ quan an ninh điều tra xác định … Trội và 4 nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân … do bị Nguyễn Văn Đài … tuyên truyền lôi kéo nên đã tham gia vào cáo hoạt động tuyền truyền xuyên tạc…” , BAST, tr. 3) thì bản án phúc thẩm đã biến ý kiến này thành lời khai của nhân chứng. Ở đây, bản án phúc thẩm đã bịa đặt ra việc 5 người nói trên cáo buộc chồng tôi “tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng”, và cường điệu rằng họ đã khai nhận rằng chồng tôi “thậm chí còn lôi kéo họ vào các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống nhà nước” (BAPT, tr. 3). Luật sư của chúng tôi đã có lời khai của ông Trội và các nhân viên của chồng tôi. Những người này đồng loạt khai rằng họ không có hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống Nhà nước và do đó cũng không bị ai lôi kéo cả.  
  1. Sai với lời khai bị cáo ở toà
    Nhiều lời khai được ghi trong bản án phúc thẩm hoàn toàn sai sự thực vì đã ghi lại không đúng lời khai của nhân chứng tại phiên xử phúc thẩm.
    Tại toà chồng tôi chỉ thừa nhận viết duy nhất 2 bài là “Quyền tự do thành lập đảng” và “Dân trí Việt Nam có đủ khả năng xây dựng chế độ đa đảng” là 2 bài mà toà không chứng minh được tính chất vi phạm luật pháp Việt nam. 
    Việc bản án phúc thẩm ghi rằng chồng tôi “thừa nhận đã tự soạn thảo một số tài liệu trong số tài liệu bị thu giữ”(BAPT, tr. 5) là không chính xác. Đáng lẽ phải ghi là chỉ có 2 tài liệu đó mà thôi.
    Tại toà, chồng tôi có thừa nhận đã đọc MỘT tài liệu tên “Vu cáo là nghề cộng sản” chứ không hề thừa nhận có đọc các tài liệu nào khác hoặc có hành vi “phát tán và tuyên truyền nhiều tài liệu và thông tin nêu trên” như được ghi trong bản án phúc thẩm (BAPT, tr. 5).
    Tương tự, chồng tôi chỉ thừa nhận trả lời phỏng vấn của 3 đài BBC, VOA và RFA chứ không hề “thừa nhận trả lời trực tuyền với các tổ chức phản động” (BAPT, tr. 5).  
    Tại toà, cô Lê Thị Công Nhân không hề khai là “hoạt động dưới sự chỉ đạo, ủng hộ tích cực của Nguyễn Văn Đài” như trong bản án phúc thẩm đã ghi ở trang 5.
    Tại toà, cô Trần Thanh khai rằng cô làm việc cho công ty Việt Luật trong giờ hành chính với công việc chính là trực văn phòng và tư vấn khách hàng và không biết cũng như không tham gia lớp học nào cả. Luật sư Bùi Quang Nghiêm đã nhấn mạnh đến điều này trong bài bào chữa của ông. Vậy mà bản án phúc thẩm vẫn ghi rằng cô Thanh là nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân và chính cô đã khai nhận rằng chồng tôi có hành vi tuyên truyền xuyên tạc chính quyền và thậm chí còn lôi kéo cô vào các hành động này nữa. 
    Những sai sót như vậy được tìm thấy rất nhiều trong bản án phúc thẩm và tạo nên một ấn tượng hoàn toàn sai lạc về các hành vi của chồng tôi.  
3) Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

Tôi không nhắc lại những vi phạm nghiêm trọng xảy ra trong thời gian điều tra, truy tố và trong phiên xử sơ thẩm như tôi đã ghi trong tài liệu đính kèm. Ở đây tôi chỉ trình bày những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong phiên xử phúc thẩm. 

  1. Không mời đủ nhân chứng và cản trở nhân chứng
    Luật sư của chồng tôi có đề nghị toà mời tổng cộng 17 nhân chứng, trong đó có những người bị cáo buộc nhiều lần trong bản án sơ thẩm như các ông Trần Văn Hoà, Vũ Quốc Dụng, Nguyễn Đình Thắng, Trần Ngọc Thành, Nguyễn Văn Lý. Nhưng tại phiên toà chỉ có mặt khoảng 1/3 các nhân chứng. Toà không cho biết lý do tại sao Toà không mời những người còn lại. Một số nhân chứng cho chúng tôi biết rằng họ đã bị đe doạ nên sợ không dám đến toà nữa.
    Một nhân chứng quan trọng là ông Phạm Văn Trội đã bị công an bắt giữ ngay khi ông vừa đến cổng toà án tối cao Hà Nội vào sáng ngày xử phúc thẩm 27/11/2007. Đây là hành vi vi phạm pháp luật của công an. Ông Trội đã bị bắt về đồn công an phường Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Trên đường đi và tại trụ sở công an, ông đã bị công an hành hung dã man. Sau 3 tiếng câu lưu, ông Trội bị đưa về quản chế tại địa phương cư trú. Ông Trội cho biết trong những ngày trước đó công an tỉnh Hà Tây đã liên tiếp đến nhà đe doạ để ông bỏ ý định đi lên Hà Nội làm nhân chứng. Ở đây rõ ràng công an đã ngăn trở một nhân chứng có giấy mời của toà án. Nghiêm trọng hơn nữa, trong phiên xử, thẩm phán chủ toạ Nguyễn Minh Mắn đã có hành vi ứng xử không thích hợp. Khi luật sư Lê Công Định xin đọc đơn tố cáo của nhân chứng Trội, thẩm phán Mắn đã không cho đọc với lý do là toà đã có nhận được đơn của nhân chứng Phạm Văn Trội xin vắng mặt với cam kết là lời khai tại cơ quan an ninh điều tra là đúng. Điều này mâu thuẫn với lời báo cáo của thư ký toà án Nguyễn Hải Bằng vào ngay 5 phút trước đó rằng „Ông Phạm Văn Trội vắng mặt không lý do“. Ông Trội là một nhân chứng vô cùng quan trọng vì ông là người chứng kiến từ đầu những giao tiếp của chồng tôi với các sinh viên Hà Nam và có thể đối chứng với họ ngõ hầu tìm ra sự thật trước toà. 
  1. Không xem xét đầy đủ những chứng cứ và tài liệu mới
    Một trong những tài liệu mới được các luật sư đệ nạp vào hồ sơ vụ án là bài viết “Chồng tôi yêu nước, Chồng tôi vô tội” trong đó tôi đã thu thập rất nhiều chứng cứ để chứng minh sự vô tội của chồng tôi. Như đã nêu trên, việc bản án phúc thẩm tiếp tục sử dụng những kết luận sai lầm của bản án Sơ Thẩm cho thấy toà phúc thẩm đã không xem xét chứng cứ mới này theo qui định tại điểm 2, Điều 246 BLTTHS.
    Chồng tôi là một luật sư có ý thức nên đã có hành động dựa trên pháp luật hiện hành. Cũng như các luật sư, tôi cho rằng Toà phúc thẩm phải xử chồng tôi chiếu theo tất cả những luật pháp hiện hành ở Việt nam, chứ không thể chỉ xử chồng tôi riêng theo bộ luật hình sự được. Tôi cho rằng rằng bên cạnh Điều 88 của Bộ luật Hình sự, toà cần phải xem xét đến những điều luật quốc tế và Việt Nam sau đây:
  • Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc mà  Việt nam đã gia nhập vào năm 1982, cụ thể là Điều 19 về quyền tự do ngôn luận được  hướng dẫn thêm bởi văn bản mang số CCPR/C/21/Rev.1 (19.05.1989) của Uỷ ban Nhân quyền LHQ (Human Rights Committee);
  • Luật Ký kết, Gia nhập và Thực hiện Điều ước Quốc tế (2005), cụ thể là Điều 6 của luật này qui định về việc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế trong trường hợp luật Việt nam mâu thuẫn với điều ước quốc tế mà Việt nam gia nhập;
  • Luật Luật sư (2006), cụ thể là Điều 3 của luật này về chức năng xã hội của luật sư là “góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. 
    Đây là những chứng cứ hoàn toàn mới vì chưa được sử dụng trong phiên xử Sơ thẩm và đã được các luật sư nộp bổ sung vào hồ sơ phúc thẩm. Tuy nhiên toà phúc thẩm đã không cho luật sư trình bày về những điều luật này. Các thẩm phán Nguyễn Minh Mắn và Cù Đình Thắng đã nhiều lần ngăn cản không cho luật sư của chồng tôi nói về các điều ước quốc tế và thẩm phán Thắng đã tuyên bố rằng toà chỉ xét hành vi bị cáo theo luật hình sự Việt nam mà thôi. Toà đã không xem xét đến các chứng cứ mới vì cuối cùng bản án phúc thẩm cũng không đề cập đến chúng. 
4) Điều tra và xét hỏi phiến diện  

Như tôi đã trình bày ở phần 1 và 2 ở trên, các cơ quan công an và viện kiểm sát đã dựa trên những điều tra cẩu thả để đưa ra những kết luận hàm hồ. Trong bài bênh vực cho chồng, tôi đã ghi ra những sai phạm điều tra này. Theo dõi phiên xử phúc thẩm, tôi có cảm tưởng rằng bản án đã được định sẵn và việc cho phép tranh luận chỉ mang tính hình thức. Có những lúc công tố viên đã lấn quyền chủ toạ để giành quyền điều khiển phiên xử hoặc để ngăn cản luật sư xét hỏi nhân chứng. 

Tất cả luật sư của chồng tôi đã bị các thẩm phán cản trở phát biểu. Khi đọc bản luận cứ, cá nhân luật sư Đặng Trọng Dũng đã bị các thẩm phán cắt lời tổng cộng 15 lần. Nhiều lần luật sư Dũng đã không thể trình bày hết một ý của bài luận cứ khiến cho ý tưởng bào chữa không còn mạch lạc nữa. Đặc biệt một nhóm cử toạ đông đảo đã la ó ồn ào để uy hiếp tinh thần của luật sư - có lúc còn la ó đòi đuổi luật sư ra ngoài - mà thẩm phán chủ toạ không có hành động nào để can thiệp.  

Một vụ án với nhiều tình tiết phức tạp mà toà phúc thẩm chỉ cho tranh luận trong hơn 30 phút nên không thể tránh khỏi các kết luận sai lầm. Toà và các công tố viên đã không cho luật sư tranh luận về từng nội dung. Kiểm sát viên đã không trả lời những câu hỏi cụ thể của luật sư mà không bị chủ toạ nhắc nhở. Việc chồng tôi yêu cầu toà cho tranh luận về bài “Quyền tự do thành lập đảng” để xem nội dung nào mang tính chống lại nhà nước XHCNVN đã không được toà đáp ứng. Tóm lại chồng tôi và các luật sư đã không thể tranh luận với công tố viên để tìm ra rằng chồng tôi (chủ thể) đã có hành vi phạm tội cụ thể nào (mặt khách quan của tội phạm), với động cơ nào (mặt chủ quan) để chống nhà nước Việt nam (khách thể) trong tương quan với quyền dân sự chiếu theo Hiến pháp 1992, điều ước quốc tế và các luật khác của Việt nam. 

Vào ngày 07/12/2007 ba luật sư Lê Công Định, Đặng Trọng Dũng và Bùi Quang Nghiêm đã gửi đơn khiếu nại về những vi phạm luật pháp trong phiên xử phúc thẩm đến Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao. Tuy nhiên đến nay các luật sư cho biết rằng họ chưa nhận được bất cứ sự trả lời nào của toà án nhân dân tối cao. 

Bởi các lẽ trên, theo điều 273 BLTTHS thì những sai phạm nghiêm trọng trên thừa đủ căn cứ để kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm. 

ĐIỀU 273: Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm:

Bản án hoặc quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, khi có một trong những căn cứ sau đây:

    1. Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ;
    2. Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;
    3. Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử;
    4. Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật hình sự.
Xin lưu ý rằng chỉ cần sai phạm 1 trong 4 yếu tố trên là đủ căn cứ để kháng nghị Giám đốc thẩm. NHƯNG vụ án của chồng tôi bị sai phạm cả 4 yếu tố trong điều luật này là điều tra và xét hỏi phiến diện; kết luận trong bản án không phù hợp với tình tiết khách quan; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng bộ luật Hình sự. 

VÌ VẬY, theo điều 274 BLTTHS, bằng đơn thư này, tôi kiến nghị tới ông Chánh án Toà án nhân dân tối cao và ông Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao giúp chồng tôi kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Với tính chất sai phạm nghiêm trọng nêu trên nên chồng tôi đã bị kết án oan và đã bị giam hơn 14 tháng , cho nên tôi kiến nghị phải mở phiên toà giám đốc thẩm thật sớm và  đồng thời, tôi cũng đề nghị Toà giám đốc thẩm ghi rõ trong bản án những chứng cứ và lý luận cụ thể đối với trường hợp của chồng tôi để tránh những kết tội mơ hồ như đã xảy ra trong những lần xử trước. 

Trân trọng cảm ơn. 

Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2008.
Vợ luật sư Nguyễn Văn Đài
Vũ Minh Khánh. 
 

| Trang bìa NSVN Online |
| Ðầu trang | Bình Luận | Tin Tức | Sáng Tác | Thơ Cho Quê Hương |