ĐƠN
KIẾN NGHỊ
v/v: mở phiên toà
giám đốc thẩm vụ án Nguyễn Văn Đài
- Bản án phúc
thẩm mang số 1037/2007/HSPT
Kính gửi:
- Ông Chánh án Toà án
nhân dân tối cao
- Ông Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Tôi là: Vũ Minh Khánh,
sinh năm 1974.
Nơi thường trú: P302,
Z8, Bách Khoa, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Chồng tôi là luật sư
Nguyễn Văn Đài, sinh năm 1969, bị bắt ngày 06/03/2007, đã
qua 2 phiên toà xét xử cấp sơ thẩm và phúc thẩm với lời
buộc tội theo điều 88 BLHS là "tuyên truyền chống nhà nước
CHXHCN VN". Chồng tôi bị tuyên án 4 năm tù giam và 4 năm quản
chế sau thời gian bị tù. Hiện nay chồng tôi đang bị giam
giữ tại trại giam Nam Hà.
Chồng tôi bị kết án
oan vì các toà sơ thẩm vào ngày 11/05/2007 và toà phúc thẩm
vào ngày 27/11/2007 đã không có đủ cơ sở lý luận để kết
tội chồng tôi tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam“. Các phiên toà đã vi phạm
nghiêm trọng các thủ tục tố tụng khiến cho việc xử án
thiếu công bằng.
1) Sai lầm nghiêm trọng
trong việc áp dụng bộ luật Hình sự
Như tôi trình bày trong
bài bênh vực cho chồng tôi mang tựa đề “Chồng tôi yêu
nước, Chồng tôi vô tội”được tôi đã gửi đến các
cơ quan thẩm quyền nhà nước trước phiên toà phúc thẩm
hồi giữa tháng 11/2007, những lý lẽ mà toà sơ thẩm dùng
để buộc tội chồng tôi đã không đủ vững. Đối với
cá nhân chồng tôi, phiên toà phúc thẩm vào ngày 27/11/2007
đã không xem xét đầy đủ các yếu tố khách quan, chủ quan,
chủ thể và khách thể của hành vi phạm tội khi kết tội
chồng tôi theo điểm a, c khoản 1 Điều 88 Bộ luật Hình sự.
Cách kết tội gộp chung cho “các bị cáo” rất tai hại
khi các bị cáo không có hành vi giống nhau. Toà phúc thẩm
đã không giải quyết được những vấn đề quan trọng sau
đây:
-
Chồng tôi có hoạt
động nhằm mục đích chống Nhà nước XHCNVN không?
Như thế nào là chống?
Chồng tôi đã hoạt động chống cơ quan nhà nước hiến định
nào? Giống như toà sơ thẩm, mặc dù không đưa ra được
chứng cứ nhưng toà phúc thẩm vẫn tiếp tục kết luận sai
lầm rằng chồng tôi “tẩy chay cuộc bầu cử đại biểu
quốc hội năm 2007 và trực tiếp chống lại Nhà nước ta
tổ chức bầu cử theo quy định của Hiến pháp”. Trên
thực tế, ai cũng biết chồng tôi là người công khai tuyên
bố không tẩy chay bầu cử và còn khuyến khích công
dân ra ứng cử độc lập nữa. Tương tự, lời buộc tội
chồng tôi “tuyên truyền, xuyên tạc, bôi nhọ, đòi xóa
bỏ vị trí lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng
sản Việt nam” (BAPT, tr. 6) để cho rằng như thế là vi
phạm hiến pháp đã là những suy diễn hoàn toàn chủ quan
và không có cơ sở vật chứng vững chắc. Cần khẳng định
rằng toà phúc thẩm đã không nêu ra được bất cứ tương
quan nào giữa những điều chồng tôi viết trong 2 bài “Quyền
tự do thành lập đảng” và “Dân trí Việt Nam có đủ khả
năng xây dựng chế độ đa đảng” với cáo buộc vừa nêu.
-
Chồng tôi có “tuyên
truyền xuyên tạc”, có “làm ra, tàng trữ, lưu hành các
tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước” không?
Trong phiên xử phúc
thẩm toà đã không cho tranh luận về khái niệm tuyên truyền.
Toà đã không chịu xét rằng một hành vi phải có một số
đặc điểm về nội dung, hình thức, qui mô và ảnh hưởng
nhất định nào đó thì mới được gọi là tuyên truyền.
Toà đã không đưa ra được chứng cứ cụ thể cho lời cáo
buộc rằng “nội dung mà các bị cáo tuyên truyền tại
lớp học, nội dung các bị cáo trả lời phỏng vấn về vấn
đề dân chủ, nhân quyền… đều là các vấn đề đã bị
bóp méo, bôi nhọ, xuyên tạc, không đúng với thực tế tại
Việt Nam” (BAPT, tr. 6). Thế nào là dân chủ, nhân
quyền? Dùng tiêu chuẩn nào để đánh giá thực tế? Nội
dung nào bị xem là không đúng với thực tế Việt nam? Nói
chuyện về dân chủ và nhân quyền có phạm tội không? Đã
không cho tranh luận về những chứng cứ thì không thể xác
định được rằng thực tế Việt Nam đã có bị bóp méo,
xuyên tạc hay bôi nhọ hay không và nếu có, thì ở mức độ
nào. Việc áp dụng luật hình sự ở đây đã hoàn toàn bị
sai lệch.
2) Kết luận trong bản
án không phù hợp với tình tiết khách quan
Bản án phúc thẩm mang
số 1037/2007/HSPT đã tiếp tục chấp nhận những sơ xuất
nghiêm trọng của công an điều tra mặc dù tôi đã phê bình
điều này trong bài bênh vực cho chồng tôi (tài liệu đã
dẫn). Những kết luận điều tra cẩu thả được thấy ghi
trong phần “Nhận thấy” của bản án phúc thẩm đã tạo
cảm tưởng sai lầm về hành vi phạm tội của các bị cáo.
Ngoài ra bản án phúc thẩm cũng ghi sai cả những diễn biến
xảy ra tại phiên toà.
-
Sai sự thật một
cách vô lý
Như tôi đã trình bày
trước đây, vào sáng ngày 03/02/2007, luật sư Lê Thị Công
Nhân mới chỉ tiếp xúc chào hỏi 3 sinh viên được 5 phút
thì công an đã ập vào bắt. Tất cả các nhân chứng đều
xác nhận việc này. Bất cứ người nào có chút đầu óc
suy luận cũng nhận ra rằng thời gian 5 phút không đủ để
luật sư Công Nhân làm công việc “tuyên truyền xuyên tạc
chủ trương chính sách cùa Nhà nước” như cáo trạng
và các bản án đã ghi một cách sai lầm. Cả tài liệu “Nhân
phẩm, nền tảng của nhân quyền” bắt được hôm ấy cũng
không có có tính chất “tuyên truyền xuyên tạc”.
-
Sai với thực tế
khách quan
Bản án phúc thẩm viết
rằng: “các nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân là: Phạm
Văn Trội, Phạm Sỹ Nguyên, Nguyễn Xuân Đệ, Trần Thanh và
Nguyễn Thị Hương Lan cũng khai nhận Nguyễn Văn Đài và Lê
Thị Công Nhân đã tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng chính
quyền, thậm chí còn lôi kéo họ vào các hoạt động tuyên
truyền xuyên tạc chống nhà nước” (BAPT, tr. 3). Ở đoạn
này bản án phúc thẩm đã phạm sai sót hơn bản án sơ thẩm
nữa. Trước hết ông Phạm Văn Trội không phải là nhân viên
của chồng tôi, và 4 nhân viên nói trên đã làm việc trong
2 cơ sở khác nhau chứ không phải đều làm trong văn phòng
luật sư của chồng tôi.
Nghiêm trọng hơn nữa
bản án phúc thẩm đã thay đổi chứng cứ. Nếu
bản án sơ thẩm chỉ mới ghi lại ý kiến chủ quan
của cơ quan an ninh (“cơ quan an ninh điều tra xác định
… Trội và 4 nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân … do bị
Nguyễn Văn Đài … tuyên truyền lôi kéo nên đã tham gia vào
cáo hoạt động tuyền truyền xuyên tạc…” , BAST, tr.
3) thì bản án phúc thẩm đã biến ý kiến này thành lời
khai của nhân chứng. Ở đây, bản án phúc thẩm đã bịa
đặt ra việc 5 người nói trên cáo buộc chồng tôi “tuyên
truyền, xuyên tạc, phỉ báng”, và cường điệu rằng họ
đã khai nhận rằng chồng tôi “thậm chí còn lôi kéo họ
vào các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống nhà nước”
(BAPT, tr. 3). Luật sư của chúng tôi đã có lời khai của
ông Trội và các nhân viên của chồng tôi. Những người này
đồng loạt khai rằng họ không có hoạt động tuyên truyền
xuyên tạc chống Nhà nước và do đó cũng không bị ai lôi
kéo cả.
-
Sai với lời khai bị
cáo ở toà
Nhiều lời khai được
ghi trong bản án phúc thẩm hoàn toàn sai sự thực vì đã ghi
lại không đúng lời khai của nhân chứng tại phiên xử phúc
thẩm.
Tại toà chồng tôi
chỉ thừa nhận viết duy nhất 2 bài là “Quyền tự do thành
lập đảng” và “Dân trí Việt Nam có đủ khả năng xây
dựng chế độ đa đảng” là 2 bài mà toà không chứng minh
được tính chất vi phạm luật pháp Việt nam.
Việc bản án phúc thẩm
ghi rằng chồng tôi “thừa nhận đã tự soạn thảo một
số tài liệu trong số tài liệu bị thu giữ”(BAPT, tr.
5) là không chính xác. Đáng lẽ phải ghi là chỉ có 2 tài
liệu đó mà thôi.
Tại toà, chồng tôi
có thừa nhận đã đọc MỘT tài liệu tên “Vu cáo là nghề
cộng sản” chứ không hề thừa nhận có đọc các tài liệu
nào khác hoặc có hành vi “phát tán và tuyên truyền nhiều
tài liệu và thông tin nêu trên” như được ghi trong bản
án phúc thẩm (BAPT, tr. 5).
Tương tự, chồng
tôi chỉ thừa nhận trả lời phỏng vấn của 3 đài BBC, VOA
và RFA chứ không hề “thừa nhận trả lời trực tuyền
với các tổ chức phản động” (BAPT, tr. 5).
Tại toà, cô Lê Thị
Công Nhân không hề khai là “hoạt động dưới sự chỉ đạo,
ủng hộ tích cực của Nguyễn Văn Đài” như trong bản án
phúc thẩm đã ghi ở trang 5.
Tại toà, cô Trần Thanh
khai rằng cô làm việc cho công ty Việt Luật trong giờ hành
chính với công việc chính là trực văn phòng và tư vấn khách
hàng và không biết cũng như không tham gia lớp học nào cả.
Luật sư Bùi Quang Nghiêm đã nhấn mạnh đến điều này trong
bài bào chữa của ông. Vậy mà bản án phúc thẩm vẫn ghi
rằng cô Thanh là nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân và
chính cô đã khai nhận rằng chồng tôi có hành vi tuyên truyền
xuyên tạc chính quyền và thậm chí còn lôi kéo cô vào các
hành động này nữa.
Những sai sót như vậy
được tìm thấy rất nhiều trong bản án phúc thẩm và tạo
nên một ấn tượng hoàn toàn sai lạc về các hành vi của
chồng tôi.
3) Vi phạm nghiêm trọng
thủ tục tố tụng
Tôi không nhắc lại
những vi phạm nghiêm trọng xảy ra trong thời gian điều tra,
truy tố và trong phiên xử sơ thẩm như tôi đã ghi trong tài
liệu đính kèm. Ở đây tôi chỉ trình bày những vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong phiên xử phúc thẩm.
-
Không mời đủ nhân
chứng và cản trở nhân chứng
Luật sư của chồng
tôi có đề nghị toà mời tổng cộng 17 nhân chứng, trong
đó có những người bị cáo buộc nhiều lần trong bản án
sơ thẩm như các ông Trần Văn Hoà, Vũ Quốc Dụng, Nguyễn
Đình Thắng, Trần Ngọc Thành, Nguyễn Văn Lý. Nhưng tại phiên
toà chỉ có mặt khoảng 1/3 các nhân chứng. Toà không cho biết
lý do tại sao Toà không mời những người còn lại. Một số
nhân chứng cho chúng tôi biết rằng họ đã bị đe doạ nên
sợ không dám đến toà nữa.
Một nhân chứng quan
trọng là ông Phạm Văn Trội đã bị công an bắt giữ ngay
khi ông vừa đến cổng toà án tối cao Hà Nội vào sáng ngày
xử phúc thẩm 27/11/2007. Đây là hành vi vi phạm pháp luật
của công an. Ông Trội đã bị bắt về đồn công an phường
Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Trên đường đi và tại trụ sở
công an, ông đã bị công an hành hung dã man. Sau 3 tiếng câu
lưu, ông Trội bị đưa về quản chế tại địa phương cư
trú. Ông Trội cho biết trong những ngày trước đó công an
tỉnh Hà Tây đã liên tiếp đến nhà đe doạ để ông bỏ
ý định đi lên Hà Nội làm nhân chứng. Ở đây rõ ràng công
an đã ngăn trở một nhân chứng có giấy mời của toà án.
Nghiêm trọng hơn nữa, trong phiên xử, thẩm phán chủ toạ
Nguyễn Minh Mắn đã có hành vi ứng xử không thích hợp. Khi
luật sư Lê Công Định xin đọc đơn tố cáo của nhân chứng
Trội, thẩm phán Mắn đã không cho đọc với lý do là toà
đã có nhận được đơn của nhân chứng Phạm Văn Trội xin
vắng mặt với cam kết là lời khai tại cơ quan an ninh điều
tra là đúng. Điều này mâu thuẫn với lời báo cáo của thư
ký toà án Nguyễn Hải Bằng vào ngay 5 phút trước đó rằng
„Ông Phạm Văn Trội vắng mặt không lý do“. Ông Trội là
một nhân chứng vô cùng quan trọng vì ông là người chứng
kiến từ đầu những giao tiếp của chồng tôi với các sinh
viên Hà Nam và có thể đối chứng với họ ngõ hầu tìm ra
sự thật trước toà.
-
Không xem xét đầy
đủ những chứng cứ và tài liệu mới
Một trong những tài
liệu mới được các luật sư đệ nạp vào hồ sơ vụ án
là bài viết “Chồng tôi yêu nước, Chồng tôi vô tội”
trong đó tôi đã thu thập rất nhiều chứng cứ để chứng
minh sự vô tội của chồng tôi. Như đã nêu trên, việc bản
án phúc thẩm tiếp tục sử dụng những kết luận sai lầm
của bản án Sơ Thẩm cho thấy toà phúc thẩm đã không xem
xét chứng cứ mới này theo qui định tại điểm 2, Điều
246 BLTTHS.
Chồng tôi là một luật
sư có ý thức nên đã có hành động dựa trên pháp luật
hiện hành. Cũng như các luật sư, tôi cho rằng Toà phúc thẩm
phải xử chồng tôi chiếu theo tất cả những luật pháp hiện
hành ở Việt nam, chứ không thể chỉ xử chồng tôi riêng
theo bộ luật hình sự được. Tôi cho rằng rằng bên cạnh
Điều 88 của Bộ luật Hình sự, toà cần phải xem xét đến
những điều luật quốc tế và Việt Nam sau đây:
-
Công ước Quốc tế về
Quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc mà Việt
nam đã gia nhập vào năm 1982, cụ thể là Điều 19 về quyền
tự do ngôn luận được hướng dẫn thêm bởi văn bản mang
số CCPR/C/21/Rev.1 (19.05.1989) của Uỷ ban Nhân quyền LHQ (Human
Rights Committee);
-
Luật Ký kết, Gia nhập
và Thực hiện Điều ước Quốc tế (2005), cụ thể là Điều
6 của luật này qui định về việc ưu tiên áp dụng điều
ước quốc tế trong trường hợp luật Việt nam mâu thuẫn
với điều ước quốc tế mà Việt nam gia nhập;
-
Luật Luật sư (2006), cụ
thể là Điều 3 của luật này về chức năng xã hội của
luật sư là “góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh
tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Đây là những chứng
cứ hoàn toàn mới vì chưa được sử dụng trong phiên xử
Sơ thẩm và đã được các luật sư nộp bổ sung vào hồ
sơ phúc thẩm. Tuy nhiên toà phúc thẩm đã không cho luật sư
trình bày về những điều luật này. Các thẩm phán Nguyễn
Minh Mắn và Cù Đình Thắng đã nhiều lần ngăn cản không
cho luật sư của chồng tôi nói về các điều ước quốc
tế và thẩm phán Thắng đã tuyên bố rằng toà chỉ xét hành
vi bị cáo theo luật hình sự Việt nam mà thôi. Toà đã không
xem xét đến các chứng cứ mới vì cuối cùng bản án phúc
thẩm cũng không đề cập đến chúng.
4) Điều tra và xét hỏi
phiến diện
Như tôi đã trình bày
ở phần 1 và 2 ở trên, các cơ quan công an và viện kiểm
sát đã dựa trên những điều tra cẩu thả để đưa ra những
kết luận hàm hồ. Trong bài bênh vực cho chồng, tôi đã ghi
ra những sai phạm điều tra này. Theo dõi phiên xử phúc thẩm,
tôi có cảm tưởng rằng bản án đã được định sẵn và
việc cho phép tranh luận chỉ mang tính hình thức. Có những
lúc công tố viên đã lấn quyền chủ toạ để giành quyền
điều khiển phiên xử hoặc để ngăn cản luật sư xét hỏi
nhân chứng.
Tất cả luật sư của
chồng tôi đã bị các thẩm phán cản trở phát biểu. Khi
đọc bản luận cứ, cá nhân luật sư Đặng Trọng Dũng đã
bị các thẩm phán cắt lời tổng cộng 15 lần. Nhiều lần
luật sư Dũng đã không thể trình bày hết một ý của bài
luận cứ khiến cho ý tưởng bào chữa không còn mạch lạc
nữa. Đặc biệt một nhóm cử toạ đông đảo đã la ó ồn
ào để uy hiếp tinh thần của luật sư - có lúc còn la ó
đòi đuổi luật sư ra ngoài - mà thẩm phán chủ toạ không
có hành động nào để can thiệp.
Một vụ án với nhiều
tình tiết phức tạp mà toà phúc thẩm chỉ cho tranh luận
trong hơn 30 phút nên không thể tránh khỏi các kết luận sai
lầm. Toà và các công tố viên đã không cho luật sư tranh
luận về từng nội dung. Kiểm sát viên đã không trả lời
những câu hỏi cụ thể của luật sư mà không bị chủ toạ
nhắc nhở. Việc chồng tôi yêu cầu toà cho tranh luận về
bài “Quyền tự do thành lập đảng” để xem nội dung nào
mang tính chống lại nhà nước XHCNVN đã không được toà
đáp ứng. Tóm lại chồng tôi và các luật sư đã không thể
tranh luận với công tố viên để tìm ra rằng chồng tôi (chủ
thể) đã có hành vi phạm tội cụ thể nào (mặt khách quan
của tội phạm), với động cơ nào (mặt chủ quan) để chống
nhà nước Việt nam (khách thể) trong tương quan với quyền
dân sự chiếu theo Hiến pháp 1992, điều ước quốc tế và
các luật khác của Việt nam.
Vào ngày 07/12/2007 ba
luật sư Lê Công Định, Đặng Trọng Dũng và Bùi Quang Nghiêm
đã gửi đơn khiếu nại về những vi phạm luật pháp trong
phiên xử phúc thẩm đến Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao.
Tuy nhiên đến nay các luật sư cho biết rằng họ chưa nhận
được bất cứ sự trả lời nào của toà án nhân dân tối
cao.
Bởi các lẽ trên, theo
điều 273 BLTTHS thì những sai phạm nghiêm trọng trên thừa
đủ căn cứ để kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm.
ĐIỀU 273: Căn cứ
để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm:
Bản án hoặc quyết
định của toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm, khi có một trong những
căn cứ sau đây:
-
Việc điều tra xét hỏi
tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ;
-
Kết luận trong bản
án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết
khách quan của vụ án;
-
Có sự vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc
xét xử;
-
Có những sai lầm nghiêm
trọng trong việc áp dụng Bộ luật hình sự.
Xin lưu ý rằng chỉ cần
sai phạm 1 trong 4 yếu tố trên là đủ căn cứ để kháng
nghị Giám đốc thẩm. NHƯNG vụ án của chồng tôi bị sai
phạm cả 4 yếu tố trong điều luật này là điều tra và
xét hỏi phiến diện; kết luận trong bản án không phù hợp
với tình tiết khách quan; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố
tụng và sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng bộ luật
Hình sự.
VÌ VẬY, theo điều
274 BLTTHS, bằng đơn thư này, tôi kiến nghị tới ông Chánh
án Toà án nhân dân tối cao và ông Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao giúp chồng tôi kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm. Với tính chất sai phạm nghiêm trọng nêu
trên nên chồng tôi đã bị kết án oan và đã
bị giam hơn 14 tháng , cho nên tôi kiến nghị phải mở phiên
toà giám đốc thẩm thật sớm và đồng thời, tôi cũng
đề nghị Toà giám đốc thẩm ghi rõ trong bản án những chứng
cứ và lý luận cụ thể đối với trường hợp của chồng
tôi để tránh những kết tội mơ hồ như đã xảy ra trong
những lần xử trước.
Trân trọng cảm ơn.
Hà Nội, ngày 12 tháng
5 năm 2008.
Vợ luật sư Nguyễn
Văn Đài
Vũ Minh Khánh.
|