HỘI
NGỘ 30 NĂM Ở BRISBANE
Sơn Nghị
Ý kiến độc đáo của ông
chủ tàu ĐN1601CA mời tất cả mọi người vượt trên chiếc
tàu với vợ chồng ông cách đây 30 năm tụ họp tại Brisbane,
nơi gia đình ông sinh sống từ ngày qua Úc, vào ngày 9 tháng
10, 2010.

Mấy tháng trước ngày hội
ngộ chủ tàu, ông Nguyễn kim Đỉnh, gửi đi một bức thư
ngỏ. Lá thư nói rõ mục đích của ngày hội ngộ lịch sử.
Ông nhắc đến những nguy hiểm mọi người đã trải qua,
từ lúc nửa đêm chuyển người qua bãi chà là để trốn
vào chỗ vắng chờ taxi ra tàu lớn. Sau ba mươi năm mọi người
đã an cư lạc nghiệp ở khắp nơi trên thế giới, nhiều
nhất ở Úc. Đây là dịp gặp gỡ để cùng nhau cảm tạ
Thiên Chúa vì ai cũng biết rằng chỉ có phép lạ mới đưa
hết 163 thuyền nhân đến bờ tự do an toàn. Nhưng tôi tâm
đắc nhất một câu nói của ông trong bức thư: nếu không
vượt thoát thành công thì mặc dù 163 người sinh khác ngày
nhưng chắc chắn chúng ta sẽ có chung một ngày giỗ. Câu nói
chân tình đọc lên tôi chợt nghe một luồng hơi lạnh chạy
suốt sống lưng khi nhớ lại cơn bão kinh hoàng vào đêm thứ
2 trong chuyến vượt biển. Cơn bão với những con sóng cao
ngất trời suýt nhận chìm từng ấy người vào lòng biển
khơi. Thêm vào đó bọn hải tặc kéo chiếc tàu ĐN1601 chạy
vòng vòng trong vịnh Thái lan suốt nửa ngày đường làm mất
phương hướng. Đứng bơ vơ giữa biển rộng mênh mông, chúng
tôi không biết phải quay mũi về hướng nào. Thật may khi
buổi tối bầu trời khá quang đãng để nhận diện một vài
vì sao qua sự hiểu biết của ông tài công. Sớm ban mai đã
thấy mặt trời, thấy hướng Đông, đoán phương hướng để
tiến về phía đất Mã-lai. Câu nói trong bức thư thật đúng,
chúng tôi may mắn đã không có chung một ngày giỗ.
Tôi bay từ California đến Hobart
thăm Cậu Mợ tôi vài ngày rồi cả gia đình bay sang Brisbane
ngày thứ 6, mùng 8 tháng 10. Mấy cô em gái của mợ tôi cũng
bay từ Texas đến. Đây là những người chung với tôi một
chút quá khứ 30 năm trước. Ba cô gái giờ đây đã trở thành
bà nội, bà ngoại. Mặc dù tuổi đời đã chồng chất nhưng
họ vẫn giữ được nét thanh tú thuở xưa. Tôi nhận ra họ
ngay là nhờ những nét thân quen còn đọng lại trên khuôn
mặt, ở giọng nói, từ dáng đi đến tiếng cười dòn tan,
liến thoắng. Tay bắt mặt mừng, chúng tôi có dịp ôn lại
một vài mẩu quá khứ và chạnh lòng nhớ lại những vui buồn
trong chuyến hải hành và những ngày trên đảo. Ôi! Thời
gian thấm thoát đã 30 năm.
Phi cơ hạ cánh xuống Brisbane
lúc 9:15h sáng. Chúng tôi dự định có cả một buổi sáng
rong chơi cho biết thành phố rồi chiều mới ghé vào nhà ông
chủ tàu. Rất may, một gia đình quen hiện ở Brisbane, anh chị
Luật/Mai thật tốt bụng sẵn sàng nghỉ việc để tiện việc
đưa đón chúng tôi. Loay hoay với chiếc xe van thuê mãi đến
quá trưa mới ra khỏi phi trường. Lẩn quẩn trong thành phố
vì không quen đường sá và cách sử dụng chiếc máy GPS nên
lại mất đến hơn tiếng đồng hồ mới về nhà anh chị
Luật. Căn nhà rộng rãi, vườn sau có bụi mía, cây lựu,
và một vài cây ăn trái khác như một khu vườn tiêu biểu
Việt nam. Nghỉ ngơi một chút, tất cả kéo nhau ra khu Việt
nam ăn trưa.
Lần đầu đến Úc, tôi khá
lạ lẫm khi bước vào khu thương mại của người Việt. Chợ
búa bày trái cây, rau trái ngay trước cửa, rất tiện cho người
mua. Hàng quán khá sầm uất, khách vào ra ăn uống tấp nập.
Ngay ở giữa khu thương mại là một mảnh đất trống rộng
rãi với dù che, bàn ghế. Khách có thể ngồi nghỉ chân hoặc
mua càphê, nước uống và tụm năm tụm ba ngồi tán gẫu,
chuyện trò. Trời mưa không nặng hạt nhưng rỉ rả từ sáng
mang theo chút lạnh của mùa đông vẫn còn lưu luyến chưa
chịu nhường hẳn lại cho tiết xuân. Ăn trưa xong, chúng tôi
kéo hết từng ấy người vào thăm ông chủ tàu.
Đường từ motel đến trang
trại của ông Đỉnh chừng 17 cây số thì đã có 9 cây số
đường rừng. Tuy là rừng nhưng con đường trải nhựa bằng
phẳng gồm hai phân lộ, xe chạy bon bon. Rừng thưa nhưng cây
cối đủ rậm che tầm mắt. Thấp thoáng sau hàng cây nhà cửa
nằm cô đơn xa cách mặt đường. Trời vẫn mưa rỉ rả từ
sáng đến giờ, thỉnh thoảng lại xối cả thác nước xuống
nhân gian. Thời tiết Brisbane đáng lẽ phải nắng ráo, hứa
hẹn một cuối tuần hội ngộ tuyệt vời thế mà ông trời
vẫn rơi rớt nước mắt như thương tiếc ai. Xe chạy ngoằn
nghoèo một lúc rồi dừng lại trước một căn nhà hai tầng,
nằm thênh thang trên mảnh đất đỏ ngoét rộng rãi. Rừng
cây đen rậm bao bọc chung quanh khiến căn nhà nhìn nổi bật
trên bầu trời xám. Ngõ dốc đứng dẫn từ ngoài cổng dẫn
vào nhà lầy lội, trơn trượt, choẹt bùn đỏ quạnh làm
dính bước chân. Khách phải bước chậm, cẩn thận từng
bước đi. Con ngõ dài chừng 20 mét nhưng phải vất vả chừng
mươi phút mới lên được thềm nhà. Bà Hồng, vợ ông Đỉnh,
đon đả chạy vội ra đón tiếp chúng tôi. Tay bắt mặt mừng,
mọi người vồn vã chào hỏi nhau, kể chuyện đường dài.
Bức tường trước mặt tôi in hình bản đồ hình chữ S,
phía dưới vẽ hình một con tàu và bài thơ thất ngôn.
Ba mươi xuân sắc thoáng
qua rồi
Năm ngày cơ cực đã dần
trôi
Hội ngộ mừng nhau nhiều
thành quả
Tụ họp về đây một mái
nhà
Bài thơ thật tuyệt. Tôi được
biết đây chính là thủ bút của tác giả. Ông thân chinh đến
nhà này và phóng tay viết bài thơ lên vách. Nét chữ bay bướm
in hằn lên bước tường trắng nổi bật màu mực đen. Tôi
bước lên cầu thang nhỏ dẫn ra phía nhà sau. Nói là nhà nhưng
thật sự chỉ là cái mái đủ che mưa nắng. Trừ một mặt
có bức tường sau của căn nhà còn ba phía kia để trống
hoác. Những tấm bạt nhà binh to rộng che từ mái kéo dài
ra hai bên để tránh mưa hắt vào nền nhà. Chái nhà đâm dài
ra mảnh vườn có cây cối nằm ngổn ngang, có lẽ chúng vừa
bị đốn ngã lấy đất cho buổi hội ngộ. Những khúc cây
sần sùi nằm cồng kềnh lăn lóc trên sân sẵn sàng làm mồi
cho đống lửa lớn đang cháy ngùn ngụt. Sức nóng tỏa ra
làm ấm cả một không gian rộng khuyến khích mọi người
kéo đến chuyện trò gần đống lửa. Nhà sau không có vách
nên gió lạnh thổi lồng lộng từ phía rừng cây mang theo
cái lạnh se sắt. Ở một góc chái, đã có hơn chục người
đang mải mê tập hát cho thánh lễ ngày mai. Anh Tỵ ôm cây
đàn thùng kiên nhẫn với từng nốt nhạc, từng bài hát.
Bài Mẹ Thuyền Nhân nghe an ủi và ấm lòng khi biết có Mẹ
đang dẫn những thuyền nhân đến bến bờ tự do. Tập hát
một lúc, ông Đỉnh yêu cầu mọi người tạm ngưng để dùng
cơm chiều. Cơm nước dọn ra trên chiếc bàn dài. Mọi người
ngồi xuống cầm đũa. Hình như niềm vui tràn ngập trong lòng
mọi người nên mọi người chỉ gắp thức ăn cho có lệ,
còn lại ngồi ôn lại chuyến vượt biển.
Một số thuyền nhân của
tàu ĐN1601
Đoàn chúng tôi ngồi rải rác
trên chiếc bàn dài chuyện trò rôm rả. Chuyện nổ ra như
bắp rang. Tiếng cười sảng khoái vang lên rộn ràng trong màn
đêm phủ kín căn nhà giữa cánh rừng. Chuyện kể lại với
những chi tiết không ngờ, buồn có, vui có, giận hờn có,
nước mắt có. Tôi không nhớ hết những chi tiết oái oăm
nhưng người kể một hai đoan quyết chính tôi là tác giả
những câu nói. Thôi, cười xòa và nhận lỗi vậy. Mọi người
muốn ôn lại chuyến hải hành đầy gian truân vì có ông cậu
tôi là tài công bất đắc dĩ khi tài công chính thức của
chuyến tàu bị… say sóng ngất xỉu. Lúc trên tàu không ai
biết hết mọi diễn tiến ngoại trừ ông chủ tàu và một
vài người thân cận. Người coi sóc máy móc ở dưới hầm
tàu nên không thể biết những con sóng cao nghễu nghện đến
thế nào. Người đứng ở cuối tàu không thể biết tiếng
gió rít thổi xéo qua tai nghe rùng rợn ra sao. Người mệt xỉu
vì say sóng cũng không thể nào biết con thuyền bị nhồi lên
nhồi xuống trong cơn giông bão xem ra mong manh, nhỏ nhoi hơn
bao giờ. Câu chuyện gom góp lại từ ký ức của nhiều nhân
chứng nên bây giờ mọi người hình dung được những khó
khăn, những gian truân trên chuyến tàu cách đây 30 năm.
Gió lạnh len lỏi giữa bàn
ghế ngồi khiến mọi người ngồi gần nhau hơn để câu chuyện
thêm ấm lòng. Ông chủ tàu đã mời được một ban nhạc
gồm 4 nhạc công và hai cô ca sĩ. Ban nhạc bận rộn với nhạc
cụ, máy móc và dây nhợ dàn rộng trên chiếc bục gỗ. Nốt
nhạc đầu tiên búng lên với tiếng trống rộn ràng. Họ
cũng biết đây là cuộc họp mặt sau 30 năm nên toàn ban nhạc
hết lòng với những bản tình ca về lính, đánh dấu một
thuở chinh chiến với bao mối tình tha thiết. Bài Tuyết Trắng
mở đầu với tiếng súng nhân tạo vang lên từ chiếc organ
và tiếng hát ngọt ngào điêu luyện của một nam ca sĩ. Điệu
bolero chải chuốt như những mối tình lớn lên trong chiến
tranh tuy vội vàng nhưng nhiều say đắm.
Mọi người thả hồn theo tiếng
nhạc. Có người ngồi trầm ngâm, lặng lẽ hút thước ở
một góc vắng. Có kẻ sôi nổi với những bài hát giúp vui.
Tiếng trống rộn ràng của một bản nhạc kích động. Giọng
cô ca sĩ cao vút ở nốt nhạc của một bài hát thời thượng
trong nước. Tôi nhìn mông ra khu rừng âm u ở phía sau. Một
màu đen kịt sơn phết lên rừng cây, lên cả bầu trời nên
không thấy ranh giới giữa trời và đất. Tất cả chỉ một
màu đen u ám. Ba mươi năm trước, tôi đứng ở mũi thuyền
khi cơn giông bão hòng nhận chìm con tàu, cũng một màu đen
rùng rợn phủ kín trời và biển. Ngọn đèn bão treo ở đầu
con thỏ tỏa ánh sáng héo hắt nhưng đủ sáng để tôi thấy
những con sóng cao ngất ngưỡng. Phận người bèo bọt có
đáng gì trước cơn thịnh nộ của biển cả, của giông bão.
Ôi! Mong manh quá, nhỏ bé quá. Tôi khẽ rùng mình; không biết
vì hơi lạnh của núi rừng hoặc vì nhớ lại một lần thân
phận yếu ớt mỏng dòn khi lênh đênh trên biển?
Ngày hôm sau, ngày 9 tháng 10
là ngày cao điểm của lần hội ngộ. Mọi người đổ về
nhà ông chủ tàu. Có người từ Sydney, Melbourn, Tasmania, và
các tiểu bang ở phía bên kia nước Úc. Ở Hoa kỳ chỉ có
mấy cô em của bà mợ tôi đến từ Texas, và một mình tôi
từ Cali. Có nguyên một gia đình đến từ Tân-Tây-Lan. Sáng
Chủ nhật hôm đó trời đổ mưa nặng hạt, con đường từ
cổng vốn đã lầy lội bùn lại càng trở nên nhão nhoẹt
hơn vì dấu chân người dẫm lên không ngừng. Có người bước
không khéo đã ngã xóng xoải lên con đường đất. Bùn đất
dính bê bết vào bộ đồ vest. Thế là mất toi bộ đồ, đành
phải quay về khách sạn để thay bộ đồ khác. Có kẻ thấy
cảnh “tung vó đo đất” đã vội khôn ngoan vào xe thay hết
bộ đồ vía, chỉ mặc bộ đồ cánh để bước qua “đại
lộ kinh hoàng”, bàn tay giữ chặt bao ni-lông đựng bộ đồ
vía. Vượt qua đoạn đường đất khá vất vả bước lên
thềm nhà rồi mới thay bộ đồ vía.
Số người đổ về nhà ông
chủ tàu tăng dần. Xe hơi đậu chật trước cổng. Chủ nhà
phải xin phép chủ nhà bên cạnh cho khách đậu nhờ. Vợ chồng
ông chủ tàu tiếp khách ngay tại thềm nhà. Tay bắt mặt mừng,
ông chào hỏi mọi người. Có những khuôn mặt lạ lẫm, hỏi
ra mới biết mấy thằng bé vượt biên theo diện mồ côi,
nghĩa là không có họ hàng thân thích ở ngoại quốc. Thế
mà bây giờ đã vợ con hai ba đứa. Vợ chồng gom góp đi dự
ngày hội ngộ, không màng công ăn việc làm đang lúc khó khăn.
Có những mái tóc lấm tấm bạc, lúc ra đi trên đảo đang
còn là thanh niên khỏe mạnh, nhớ lại đêm vào Côn sơn xin
nước sau một ngày lênh đênh trên biển và ông chủ tàu khám
phá không đủ nước cho từng ấy người, họ đã can đảm
buộc dây vào người nhảy xuống tàu trong đêm tối bơi vào
bờ. Lần theo sợi dây, cả chục thanh niên mới nhảy theo
bơi vào một hòn đảo ở Côn sơn. Người giữ đảo thật
tốt, anh không những cho cả chục can nước mà còn biếu thật
nhiều trái cây. Ông chủ tàu sẵn sàng dành cho anh một chỗ
trên tàu nhưng anh quyết định ở lại chỉ vì vợ con còn
kẹt lại trong đất liền.
Những thuyền nhân đứng ở
thềm nhà ông Đỉnh hôm đó ôm chầm lấy nhau, hỏi han về
gia đình, công ăn việc làm. Họ sôi nổi ôn lại dĩ vãng
những ngày trên đảo, nhất là 5 ngày 6 đêm lênh đênh trên
biển cả với cơn bão và những cơn sóng thần cao nghễu nghện
đến chóng mặt; với hải tặc, và với những hiểm nguy chưa
từng đối diện một lần trong đời. Những hình ảnh kinh
hoàng vẫn còn tươi rói trong ký ức. Họ kể cho nhau nghe rõ
từng chi tiết cơ hồ họ mới vượt biển tháng trước. Mà
người nghe cũng là một trong những nhân chứng của chuyến
hải hành chứ chẳng ai khác. Thế mà họ chăm chú nghe kể
và góp lời như đang nghe một chuyến vượt biển của một
người xa lạ. Có người chép miệng thở dài nói đến buổi
sáng tàu bị gãy bánh lái. Cả tàu cứ xem như đã chết vì
làm sao hướng mũi tàu vào đất liền. Thế mà ông chủ tàu
bàn bạc với mọi người rồi quyết định lấy nắp hầm
tàu thay thế bánh lái. Trong chuyến đi làm gì có đồ nghề
để sửa chữa một trục trặc chết người như thế. Không
đinh, không ốc, chỉ buộc chặt vào cần lái bằng hai sợi
dây kẽm khá to. Thế mà cái nắp hầm bằng gỗ đã quằn
quại dưới sức nước đưa 163 người lênh đênh thêm 2 ngày
nữa và đến bờ biển Mã an toàn. Cuối cùng tất cả đều
đồng ý một điểm, chỉ có phép lạ mới có thể giải thích
được chuyến vượt biển kỳ lạ của con tàu ĐN1601CA. Phép
lạ nhãn tiền mọi người đã gật đầu ngay sau khi đặt
chân lên đất liền, và 30 năm sau, họ lại xác tín niềm
tin vào Thiên Chúa thêm một lần nữa.
Ông chủ tàu đọc một bài
chào mừng ngắn. Ông nhấn mạnh đây là dịp hội ngộ nhưng
mục đích chính vẫn là cảm tạ Thiên Chúa. Thánh lễ tạ
ơn do cha Trần Bạch Hổ chủ tế. Ngài thổ lộ thật không
ngờ sau 30 năm lại mà con tàu qui tụ được từng ấy người.
Đây phải kể là một kỳ công. Ngài cũng chưa bao giờ dâng
một thánh lễ đặc biệt đến thế. Thánh lễ của những
thuyền nhân. Ca đoàn hình như hát hay hơn bao giờ, bõ công
luyện tập cả một ngày thứ Sáu. Giọng của ca viên tha thiết
hơn, trầm bổng hơn dâng lên Thiên Chúa đã cứu vớt 163 người
hơn 30 năm trước. Tiếng hát lơ lửng giữa vùng đất đỏ,
quyện với hơi thở của rừng cây để lại trong lòng những
thuyền nhân mối thân tình ấm áp của bầu trời Brisbane.
Dâng của lễ lên Thiên Chúa gồm chiếc thuyền gỗ cùng với
bánh và rượu, nói lên tấm lòng biết ơn của những thuyền
nhân tàu ĐN1601. Chúc bình an, mọi người nồng nhiệt bắt
tay nhau nhớ lại những ngày gian truân lênh đênh trên biển.
Thánh lễ kết thúc với bài hát “Mẹ Thuyền Nhân” trong
niềm hân hoan của mọi người.
Bàn ghế rộn ràng kê dài dọc
theo căn nhà trống vách. Năm dãy bàn dài, cỡ 40 người mỗi
dãy; tính ra thực khách và bà con thân thuộc của ông Đỉnh
đổ về hơn hai trăm người. Bếp núc nhộn nhịp, lửa đỏ
rực dưới đáy nồi, hầu như không bao giờ tắt. Đầu bếp
bận rộn rửa, cắt, thái từ sáng sớm đã đành và hầu
như suốt bữa ăn cũng chẳng ngừng tay. Thức ăn dọn la liệt
trên bàn, mọi người thưởng thức các món trên thực đơn.
Ông bà Đỉnh vui vẻ đến từng bàn cụng ly, hỏi han, chụp
hình lưu niệm. Có người bảo, chụp đi kẻo không biết khi
nào còn gặp lại. Tôi ngẩn người nghĩ đến câu nói mà
không nén được tiếng thở dài. Những thuyền nhân ba mươi
năm trước bây giờ tóc đã hoa râm, da mồi. Có người đề
nghị lần hội ngộ 35 năm. Lòng hiếu khách của ông bà chủ
tàu vẫn nồng nàn nhưng với tuổi đời chồng chất, không
ai dám chắc sẽ gặp lại hết từng ấy người trong lần
tới.
Có một chi tiết thú vị khi
có người đố tổng số người của tàu ĐN1601 đặt chân
lên đảo Biđông là bao nhiêu? Câu trả lời ai cũng biết là
163 thuyền nhân. Con số này chưa đúng hẳn. Đúng ra là 163
½ người vì vừa lên đảo được hơn tháng có một phụ
nữ sinh hạ một bé gái. Một phụ nữ mang thai gần đến
ngày sanh dám vượt biển kể là một kỳ công. Thời gian đó,
chủ tàu thường mê tín dị đoan nên dứt khoát không bao giờ
chấp nhận khách mang thai lên tàu. Sở dĩ phụ nữ này vẫn
lên tàu như mọi người là vì ông chủ tàu là người có
đạo, không tin chuyện mê tín. Một điểm lý thú nữa là
bé gái sinh ở đảo năm đó nay đã lập gia đình, một người
mẹ với đứa con mấy tháng tuổi. Mẹ bồng con bay từ Tân
Tây Lan đến tham dự ngày hội ngộ. Lịch sử của con tàu
ĐN1601 gắn liền với số tuổi đời của người đàn bà
này. Ba mươi tuổi đời kể từ ngày sinh ở đảo Biđông
bằng với ba mươi năm hội ngộ.
Trinh, bé gái vượt biên
trong bụng mẹ nay đã tay bồng tay bế
Một buổi tối đầy ắp tiếng
nhạc. Mọi người đua nhau hát. Thức ăn dọn vào rồi lại
dọn ra mời khách còn quyến luyến đêm hội ngộ. Khách vơi
dần khi trời về khuya nhưng tiếng hát vẫn cất lên. Bài
“Xin đời một nụ cười” vang lên rộn rã với điệp khúc:
TỰ DO ơi TỰ DO! Tôi trả bằng nước mắt, TỰ DO ơi TỰ
DO! Anh trao bằng máu xương, TỰ DO ơi TỰ DO! Em đổi bằng
thân xác, Vì hai chữ TỰ DO! Ta mang đời lưu vong.
Vì hai chữ Tự Do, 163 người
đã bỏ nước ra đi. Cũng vì hai chữ Tự Do mà hơn nửa triệu
thuyền nhân bỏ xác trên biển Đông.
Cảm tạ Thiên Chúa đã đưa
con tàu đến chốn bình an. Cám ơn ông bà Đỉnh, chủ nhân
con tàu ĐN1601. Sau cùng, cám ơn khung trời Úc đã đón nhận
hơn nửa số thuyền nhân hội ngộ sau 30 năm.
Hẹn gặp lại nhân dịp 35
năm.
|