Bản
giải trình. Nội dung tố cáo ông Nguyễn Văn Tỉnh, Phó bí
thư, Chủ tịch UBND thành phố Ninh Bình. Không đủ tư cách,
Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.
Hoàng
Trung Kiên
Kính gửi:-
Tổ giải quyết đơn thư UBKT Tỉnh uỷ Ninh Bình. Các cơ quan
hữu trách, Cơ quan công luận, Webstemaster@gh.gov.vn
Diễn đàn cư tri, Bạn bè gần xa, những người quan tâm đến
quê hương đất nước.
Tôi
công dân: Hoàng Trung Kiên, sinh năm 1960, bộ đội
xuất ngũ. Tình nguyện viên chống tham nhũng, tiêu cực ở
tỉnh Ninh Bình, cử tri phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình.
CMTND số:
161.800.832 Công an tỉnh Ninh Bình cấp ngày 16/4/2008
Tạm trú:
số nhà 66, đường Tây Thành, phường Nam Thành, thành phố
Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
Căn cứ:
Điều 3, Luật bầu cử. Điều 3, Luật tổ chức Hội đồng
nhân dân và UBND, ngày 15/4/2011, tôi có đơn tố cáo các ông
( bà):
- Lê
Xuân Toán, Phó bí thư Chủ tịch HĐND phường Nam Thành.
Nơi công
tác: phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình.
- Nguyễn
Ngọc Ánh, Bí thư đảng uỷ phường Nam Thành.
Nơi công
tác: phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình.
- Nguyễn
Văn Thứ, Trưởng phòng Tài nguyên Môi trường thành phố
Ninh Bình.
Nơi công
tác: UBND thành phố Ninh Bình.
- Đinh
Thị Xuân Hương, Chánh thanh tra thành phố Ninh Bình.
Nơi công tác UBND thành phố Ninh
Bình
- Nguyễn Văn Tỉnh, Phó bí
thư Chủ tịch UBND thành phố Ninh Bình
Nơi công
tác: UBND thành phố Ninh Bình.
Tôi
đã gửi đơn đến các cơ quan hữu trách, cơ quan công luận,
gửi đến những người có trách nhiệm để xem xét. Nếu
các ông (bà) có tên nêu trên nằm trong danh sách ứng cử Đại
biều Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, cần
loại bỏ.
Ngày 27/4/2011,
tôi đến Thành uỷ theo giấy mời số: 30-GM/TU bà Lê Thị
Thanh Tâm, Phó chủ nhiệm UBKT Thành uỷ Ninh Bình thông báo,
Trưởng tiểu ban bầu cử thành phố và Chủ nhiệm Uỷ ban
kiểm tra Tỉnh ủy Ninh Bình đã nhận được đơn, bà Tâm
cho biết, tới đây các cơ quan sẽ mời tôi để giải quyết.
Ngày 30/4/2011,
tôi chuẩn bị các tài liệu có liên quan đến trụ sở Tỉnh
uỷ Ninh Bình theo công văn số: 89-CV/UBKTTU. Sau khi xác định
đúng người tố cáo, ông Lời, Thường trực UBKT Tỉnh uỷ
giới thiệu thành phần tổ giải quyết đơn gồm các ông
(bà): Bà Hợi, Trưởng, phòng Nghiệp vụ I, ông Cẩn, Phó phòng
Nghiệp vụ I, bà Hiên, Cán bộ phòng Nghịêp vụ I, ông Thật,
Trưởng phòng Thành tra nhà nước tỉnh Ninh Bình.
Ông Lời,
phổ biến nội dung buổi làm việc: Không ghi âm, ông cho bà
Hiên lấy máy ghi âm của tôi kiểm tra xong giữ lại, cuối
buổi làm việc mới trả (máy ghi âm tôi mang theo nhưng chưa
sử dụng). Sau đó ông Lời yêu cầu tôi giải trình nội dung
cáo buộc Nguyễn Ngọc Ánh + Lê Xuân Toán tội: Vô trách nhiệm,
để một số cán bộ thoái hóa biến chất trong bộ máy chính
quyền phường Nam Thành chiếm đoạt tài sản công, xâm phạm
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân…là đảng viên, đại
biểu HĐND, chính bản thân Toán cũng ngang nhiên chiếm đoạt
đất công, mua bán đất để trục lợi. Nguyễn Ngọc Ánh
là Trưởng ban, Lê Xuân Toán là Phó ban giải phóng mặt bằng
đường Tây Thành, lừa dối dân, nói một đàng, làm một
nẻo…
Công dân:
Hoàng Trung Kiên, đưa ra chứng cứ cụ thể giải trình nội
dung tố cáo. Nguyễn Ngọc Ánh + Lê Xuân Toán, tổ giải quyết
đơn không có ý kiến chất vấn.
Ông Lời,
yêu cầu tôi giải trình tiếp nội dung cáo buộc các ông (bà).
Nguyễn Văn Tỉnh + Đinh Văn Thứ + Đinh Thị Xuân Hương.
Công dân:
Hoàng Trung Kiên, tiếp tục đưa ra các chứng cứ cụ thể
chứng minh: Ngày 15/9/1999 tôi có đơn ghi lại ý kiến của
dân trong các cuộc họp phố, gửi đến các cơ quan để làm
rõ hành vi tham nhũng tiêu cực ở phường Nam Thành nhưng đơn
không được giải quyết theo luật nên các “Quan tham” ở
phường ngang nhiên trù dập người tố cáo, tôi gửi đơn
lên thị xã Ninh Bình các “Quan thị” lại bênh che, thể
hiện tại số: 903/KL-UB ngày 31/12/2002. Không nhất trí số
903, tôi tố cáo đến tỉnh Ninh Bình. Sau đó, chính người
bị tố cáo là ông Trần Huy Giác, nguyên Chủ tịch UBND thị
xã (người ký số 903) lên làm Phó Văn phòng UBND tỉnh Ninh
Bình phụ trách tiếp dân. Xem đơn tố cáo và nghe tôi trình
bầy, ông đã tham mưu cho Chủ tịch tỉnh có Số: 38/UB-VP10
ngày 22/5/2003, Số: 110/UB-VP10 văn bản đôn đốc. Yêu cầu,
Chủ tịch thị xã nghiêm túc tập trung xem xét giải quyết…báo
kết quả về UBND tỉnh trước ngày 05/12/2003. Theo ý kiến
của tỉnh, tôi đến UBND thị xã Ninh Bình gặp ông Đinh Ngọc
Lâm, Chủ tịch 3 lần, gặp ông Nguyễn Văn Tỉnh, Phó chủ
tịch thị xã Ninh Bình 2 lần. Các ông hứa rất hay nhưng không
thực hiện. Sau Bầu cử năm 2004, ông Lâm nhảy lên Bí thư
Thị ủy (phủi tay), ông Tỉnh, nhảy lên Chủ tịch thị xã
(phớt lờ) không giải quyết đơn. Tại buổi làm việc tôi
cũng chứng minh, do được “Quan trên” bênh che nên các “Quan
phường” ngang nhiên ăn đất công, ăn đất của người sống,
ăn đất của người chết, lừa đảo, chiếm đoạt tài
sản công dân, trây ì, không đền đất chiếm dụng của dân
để làm đường Tây Thành...kết thúc buổi làm việc. Ý kiến
tổ giải quyết đơn thư: Trường hợp, ông Nguyễn Ngọc Ánh
+ Lê Xuân Toán thẩm quyền giải quyết của Thành uỷ Ninh
Bình, UBKT Tỉnh uỷ sẽ có ý kiến với Thành uỷ. Hai bên
thống nhất 08h ngày hôm sau tiếp tục làm việc.
Ngày 01/5/2011,
tôi tiếp tục đến trụ sở Tỉnh uỷ Ninh Bình để giải
trình nội dung tố cáo, ông Lời cho rằng: Sau khi nghiên cứu,
bà Hương và ông Thứ cũng thuộc thẩm quyền giải quyết
của Thành uỷ, chỉ có ông Nguyễn Văn Tỉnh thẩm quyền của
Tỉnh uỷ nên yêu cầu tôi giải trình. Nội dung cáo buộc
ông Nguyễn Văn Tỉnh (buổi làm việc có ông Nguyễn Tất Tiến,
Chánh Thanh tra nhà nước tỉnh Ninh Bình tham dự).
Công dân:
Hoàng Trung Kiên tiếp tục đưa ra chứng cứ giải trình việc:
Nguyễn Văn Tỉnh, không giải quyết đơn công dân theo Pháp
luật qui định, tiếp tay bênh che “Quan tham”, hù doạ người
tố cáo, cụ thể:
- Tôi không
có đơn gửi UBND thành phố Ninh Bình, ông Nguyễn Văn Tỉnh
tự ý ra số 453/CV-UBND ngày 07/8/2006 để lừa dưới, dối
trên. Thực tế theo hướng dẫn của Bộ Lao động, của Sở
Lao động, tôi có đơn đến UBND phường Nam Thành nhưng các
“Quan phường” không giải quyết đơn công dân theo Pháp
luật qui định cố tình lợi dụng chức quyền chà đạp lên
quyền lợi chính đáng của công dân. Không nhất trí việc
giải quyết đơn của các “Quan phường”, tôi gửi đơn
đến Sở Lao động, đến Bộ Lao động, không gửi đến thành
phố Ninh Bình.
- Tôi đưa
chứng cứ chứng minh gồm: Đơn khiếu nại ngày 14/7/2006, của
những người dân có đất bị chính quyền chiếm dụng làm
đường Tây Thành, không thực hiện đền bù. Đơn kiến
nghị & báo cáo ngày 11/10/2006 (V/v giải quyết khiếu nại
của UBND thị xã Ninh Bình). Đơn khiếu nại & tố cáo ngày
08/01/2007 (theo yêu cầu của bà Đinh Thị Xuân Hương), các
đơn trên không được giải quyết theo Pháp Luật nhà nước
qui định, ông Nguyễn Văn Tỉnh giải quyết đơn theo “luật
rừng”, tổ chức Hội nghị gọi là giải quyết đơn ngày
28/11/2006, không có nguyên đơn. Chỉ có đại diện các ban
ngành thị xã và UBND phường Nam Thành ngồi bàn cách cướp
đoạt, quyền lợi ích hợp pháp của công dân thể hiện tại
số 118/TB-UBND ngày 30/11/2006. Không chịu mất của, dưới chế
độ Xã Hội Chủ Nghĩa tươi đẹp. Ngày 25/4/2007 những
người mất đất kéo đến Trụ sở tiếp dân tỉnh để hỏi
quyền lợi bị xâm phạm. Trước bức xúc của dân ông Nguyễn
Tất Tiến, Chánh Thanh tra tỉnh Ninh Bình chủ trì buổi tiếp
dân, điện trực tiếp cho Chủ tịch thành phố Ninh Bình yêu
cầu: Ra văn bản trả lời đơn công dân và công khai dự án
đường Tây Thành cho dân biết. Sau 2 ngày, ông Nguyễn Văn
Tỉnh đã có ngay số: 253/UBND-TTr ngày 27/4/2007. Nội dung xảo
trá, trắng trợn, thể hiện sự quan liêu, cửa quyền, đồng
loã, tiếp tay, bênh che, tham nhũng tiêu cực, hù doạ người
tố cáo. Xem số 253 người dân mới biết, tại sao! Các “Quan
tham” ở phường Nam Thành ngang nhiên lộng hành chiếm đoạt
tài sản tập thể, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân liên tục, kéo dài nhiều năm.
Không nhất
trí số 253: Ngày 20/5/2007 tôi có đơn, bài với tiêu đề:
“Không tố cáo để ổn định trật tự địa phương hay
để các ông Quan đảng viên ĐCS thoái hóa biến chất dễ
bề vơ vét cho đầy túi tham”, tôi phản bác toàn bộ
số 253. Số 253, Nguyễn Văn Tỉnh cho rằng: “ngày 28/6/2006
UBND thị xã Ninh Bình đã có quyết định số 162 và 164 cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn
Thị Vọng và bà Trần Thị Tỉnh…thực hiện truy thu…bà
Vọng với tổng số tiền là 49.150.000đ…bà Tỉnh với tổng
số tiền là 46.050.000đ”, thực tế bà Vọng và bà Tỉnh
đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 13/12/2004,
thuộc dự án 401, không thu tiền (giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất năm 2004 chính Nguyễn Văn Tỉnh ký) Các trường
hợp chiếm đoạt đất công bị “tố cáo” Nguyễn Văn Tình,
ra quyết định hợp pháp hoá với giá như cho?
Người
ít học xem chứng cứ cũng phát hiện việc Nguyễn Văn Tỉnh
táo tợn ký 2 quyết định 162 và 164 để bênh che tham nhũng,
tiêu cực. Vậy mà! Bùi Minh Đoàn, Phó thủ trưởng cơ quan
điều tra công an thị xã Ninh Bình ký số 60/CQĐT ngày 17/10/2006
cho rằng: “…do có việc nhầm lẫn đối tượng trong dự
án 401…khi phát hiện đã thoái thu và trả lại tiền cho các
hộ. Như vậy không có việc lừa đảo và tham nhũng trong sự
việc này.” đây là: “Chuyện là, có thật” ở thành phố
Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
Buổi sáng
01/5/2011, tôi giải trình một phần nội dung tố cáo Nguyễn
Văn Tỉnh. Hết giờ làm việc, tổ giải quyết đơn thư đề
nghị tôi về giải trình bằng văn bản từng nội dung, kèm
theo chứng cứ, tạo điều kiện để tổ xem xét. Do vậy,
tôi làm bản giải trình, kèm theo chứng cứ: Nội dung đơn
tố cáo đề ngày 15/4/2011, đối với ông Nguyễn Văn Tỉnh,
Phó bí thư Chủ tịch UBND thành phố Ninh Bình:
I/ Đơn
không được giải quyết:
Kết luận
Số: 903/KL-UB ngày 31/12/2002 + Đơn tố cáo ngày 03/01/2003 + 2
Phiếu giao ruộng số 160 và 167 ngày 1/12/1993 là phiếu giả
mạo + phiếu giao ruộng số 8 ngày 1/12/1993 là phiếu thật.
Đơn này không được giải quyết theo chỉ đạo của Chủ
tịch tỉnh Ninh Bình thể hiện tại số: 38/UB-VP10 ngày 22/5/2003
+ số: 110/UB-VP10 văn bản đôn đốc ngày 03/11/2003 + Đơn kiến
nghị & Báo cáo, ngày 08/10/2009 + Đơn kiến nghị & Báo
cáo gửi lần 2, ngày 20/10/2009 + Đơn yêu cầu cung cấp thông
tin, ngày 24/1/2010 + Đơn tố cáo, ngày 12/4/2010 + Số: 46/GM-TTr,
ngày 27/7/2010 (nội dụng này tôi đã giải trình với tổ giải
quyết đơn thư).
II/
Không có đơn, ông Nguyễn Văn Tỉnh ra văn bản để lừa trên,
dối dưới.
Số
453, ngày 07/8/2006 cho rằng: “ngày 3/8/2006, UBND thị xã
nhận được đơn đề nghị của ông Hoàng Trung Kiên…thông
báo để ông rõ và chấp hành”. Yêu cầu làm rõ, ai nhận
đơn, nhận ở đâu, biên bản giải quyết đơn, các chứng
cứ kèm theo.
Ngày 24/02/2006,
ông Bùi Sỹ Lợi, Chánh Thanh tra Bộ LĐTBXH, gửi thư cho UBND
phường Nam Thành, ông Nguyễn Ngọc Ánh, nguyên Phó chủ tịch
phường yêu cầu phải có dấu + ngày 19/3/2006, tôi gửi thư
cho ông Bùi Sỹ Lợi + Số: 9337/TL-TTr ngày 24/3/2006 + Số: 1006/LĐTBXH-TTr
ngày 2/6/2006 + Số 23/CV-UBND ngày 7/7/2006 (không dấu Quốc huy)
+ Số 112/LĐTBXH-TTr ngày 5/7/2006 + Đơn khiếu nại ngày 15/7/2006
+ Biên bản ngày 23/8/2006 của UBND phường Nam Thành + Hồ sơ
bà Nguyễn Thị Điềm, có 3 nhân chứng xác nhận được UBND
phường Nam Thành lập hồ sơ đề nghị trên công nhận Liệt
sỹ + Hồ sơ ông Hoàng Văn Qùi có 5 nhân chứng xác nhận UBND
phường Nam Thành cố tình không lập hồ sơ đề nghị công
nhận Liệt sỹ. (nội dung này tôi đã chứng minh với tổ
giải quyết đơn thư).
III/
Không giải quyết đơn theo Pháp luật qui định, tiếp tay,
bênh che tham nhũng, tiêu cực.
- Giấy
mời ngày 29/1/1997 phổ biến hình thức đền bù để làm đường
Tây Thành + Biên bản lấy đất của dân làm đường Tây Thành
ngày 08/11/1998 + Biên bản phúc tra ngày 27/3/2000 + Biên bản
xác nhận diện tích đất làm đường Tây Thành ngày 8/4/2004
+ Số: 14/TT-UB ngày 10/3/2004 + Đơn khiếu nại ngày 19/5/2006
+ Biên bản ngày 13/6/2006 + Số: 22/CV-UBND ngày 04/7/2006 + Đơn
khiếu nại ngày 14/7/2006 + Đơn kiến nghị & Báo cáo ngày
11/10/2006 + Số 792/HD-TDTW ngày 25/10/2006 + Số: 13/GMTT này 30/10/2006
+ Đơn khiếu nại & Tố cáo ngày 08/1/2007 (theo yêu cầu
của bà Hương, Chánh thanh tra thành phố) + Số: 81/HD-TDTW ngày
11/1/2007 + Số: 40-GB/UBKTTU ngày 30/1/2007 + Số: 11/GMTT ngày 13/3/2007
+ Số 118/TB-UBND ngày 30/11/2006 + Số 253/UBND-TTr ngày 27/4/2007
+ Giấy chứng nhận QSDĐ ngày 13/12/2004 + Đơn tố cáo ngày
20/5/2007 + Biên bản ngày 22/6/2007 và sơ đồ đo đất + giấy
biên nhận Số 03 ngày 26/6/2007 + Đơn kiến nghị & Báo cáo
ngày 24/7/2007 + Số: 1055/QĐ-UBND ngày 20/7/2007 + số: 1141/QĐ-UBND
ngày 30/8/2007 + Số: 110/TB-UBND ngày 17/9/2007 + Số 42/GM-TTr ngày
26/12/2007 + Bài: “Xung quanh những thắc măc trong việc thu
phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở phường
Nam Thành” Báo Ninh Bình ngày 24/6/2005 + Số 394/CV-UBND ngày
07/7/2006 + Số 60/CQĐT ngày 17/10/2006 + Số 1890/QĐ-UBND ngày
06/10/1010, kèm theo phương án hợp pháp hóa đất lần 2 cho
Nguyễn Hồng Châu đảng viên, Đại biểu HĐND, thành viên
UBND phường Nam Thành + Ảnh đường Tây Thành không đền bù
đất cho dân gây sự bất bình, dân xây nhà ra giữa đường
các “Quan” giả câm. giả điếc (nội dung này đã giải
trình với tổ giải quyết đơn thư của UBNK Tỉnh ủy Ninh
Bình).
- Số:
663/UBND-TNMT ngày 08/9/2008 + Đơn khiếu tố & Báo cáo ngày
20/9/2008 + Số: 2168/QĐ-UBND ngày 05/11/2008 + Đơn khiếu tố &
Báo cáo ngày 15/11/2008 + Số 515 ngày 27/7/2009 + Đơn tố cáo
ngày 10/8/2009 + Giấy chứng nhận QSDĐ ngày 24/8/2007 + Giấy
chứng nhận QSDĐ ngày 11/8/1998 + Biên bản ngày 26/2/2008 (nội
dung này chưa giải trình với tổ giải quyết đơn).
IV/
Còn nhiều trường hợp phải chịu cảnh lộng quyền của
ông Nguyễn Văn Tỉnh
- Trường
hợp ông Hà Phi Hùng, phố Phúc Trì, phường Nam Thành.
Dư luân đã lên tiếng, qua Bài: “Những việc làm khó hiểu
của Thanh tra thành phố Ninh Bình” Báo Lao động Thủ Đô,
số 126 ngày 20/10/2009.
- Trường
hợp bà Trần Thị Bích, phố Phúc Chỉnh 2, phường Nam
Thành Báo nhân dân ngày 30/10/2009, có bài: “Đã chậm sửa
sai còn gây khó”. gửi kèm hồ sơ.
- Trường
hợp ông Lê Văn Lượng, phố Phúc Hưng, phường Phúc
Thành, đất ông, cha để lại. Nguyễn Văn Tỉnh ngang
nhiên dùng quyền lực thu hồi toàn bộ đất (ao), giao cho UBND
phường Phúc Thành quản lý. gửi Quyết định số: 589/QĐ-UB
ngày 31/12/2003 + Quyết định 132/QĐ-UB ngày 15/3/2004 + Bản án
Số: 01/HCST ngày 23/7/2001 + Số 187/CV-HC + Số: 691/UBND-TNMT ngày
18/9/2008.
- Trường
hợp xã Ninh Nhất thuộc dự án đường 477, Cử nhân luật
Nguyễn Văn Tình, trả tiền đền bù trước khi ra quyết định
thu hồi đất. Khiến những người Nông dân quanh năm lam lũ.
“Đầu cúi xuống, đít chổng lên” cũng phải bất bình
với ông Cử nhân luật đâm đơn đi khắp nơi, họ gọi là:
“Đám cưới chạy tang”. UBND tình Ninh Bình có Số: 179/UBND-VP10
ngày 29/12/2011 gửi UBND thành phố. “Xem xét theo qui định
của Pháp luật trả lời công dân…xong trước ngày 07/2/2011”.
Sự việc không được giải quyết. (nội dung này chưa giải
trình với tổ giải quyết đơn)
Tôi gửi
đến: Tổ giải quyết đơn thư UBKT Tinh ủy Ninh Bình theo yêu
cầu, để làm sáng tỏ sự việc. Không để tình trạng càng
làm láo, càng ký bậy, lại càng thăng quan tiến chức. Tôi
cũng gửi đến các Cơ quan hữu trách, Cơ quan công luận, đến
những người có trách nhiệm mà tôi đã gửi đơn. webstemaster@qh.gov.vn,
Diễn đàn cử tri, Xin gửi bạn bè gần xa, những người quan
tâm đến quê hương đã xem đơn tố cáo đề ngày 15/4/2001
và nghe tôi giải trình việc làm của các ông (bà) nêu tên
trong đơn. Nhiều người cho rằng: Vì ba ông “lam đu”
trên tỉnh làm thế cho nên các Quan phố, Quan phường cũng
nổi loạn, nổi loạn. Tôi yêu cầu được thông báo kết
quả giải quyết bằng văn bản./.
Xin trân
trọng cảm ơn.
Người
giải trình,
Hoàng
Trung Kiên
ĐT:
0989.203.278
|