| Loạt trái phá đầu tiên làm
rung chuyển Đồi Móng Ngựa vào lúc năm giờ sáng ngày 15 tháng
Tư năm 1975. Những người lính trẻ Miền Nam thuộc Tiểu đoàn
3/52 Sư đoàn 18, được phi pháo bạn tận tâmyểm trợ, đã
giáng trả đối phương một trận để đời nơi tọa độ
cô đơn đó, làm tan rã Trung đoàn 95-B thuộc Quân đoàn IV
Bắc Việt, nhưng đã chiến thắng âm thầm khi vận nước
nổi trôi.
Tình hình quân sự tổng
quát đầu năm 1975.
Chiến tuyến mênh mang giữa
bạn và thù.
Tỉnh Phước Long mất vào đầu
tháng Giêng 1975. Ngày hôm đó, một trận mưa trái mùa bao phủ
vùng rừng chồi Tân uyên, Phú chánh…lan sang những vùng tre
gai chiến khu Đ Đất Cuốc. Mưa trĩu nặng trên tấm poncho
lính chiến ven sông La Ngà. Sư đoàn 18 và Liên đoàn 7
BĐQ nhận lệnh tái chiếm Phước Long; nhưng kế hoạch không
rõ vì lý do gì, phải bỏ dở nửa vời. Rồi tức khắc,
một chiếc đũa phù thủy nào đó chỉ vẽ cho Công trường
5 và Trung đoàn 33 Đồng Nai của đối phương nổi lửa mù
trời tại Võ xu. Võ đắt, Tánh linh…nhằm cầm chận đánh
tiêu hao sinh lực quân ta. Túi lửa này vừa bị dập
tắt, thì điểm nóng khác đã bùng lên. Dấu hiệu chuẩn
bị đánh lớn phát hiện khắp nơi: không kể xiết những
đàn gà thả rong trong rừng mít Bảo Chánh phía bắc Xuân
lộc; hàng chục thùng phuy chứa gạo nàng hương ngụy
trang cất dấu ven bờ suối cạn,-- sau này mới biết,
một chỉ huy sở cao cấp đối phương đóng quân tại
Bảo Chánh trong trận chiến Xuân lộc. Xa hơn về
mạn Sông Bé, trung đội Xì Ke -- xung kích-- thuộc Tiểu đoàn
3/52-18 do Thiếu úy Trần đình Cảnh, đột nhập khu dinh
điền cũ tại Phước Lộc, khám phá những hầm chứa
hỏa tiễn 122 ly mới tinh trong giấy bọc dầu chôn dấu ven
bờ Sông Bé.
Sau tỉnh Phước Long bị bỏ
quên đến phiên Ban Mê Thuột làm quà cho các sư đoàn đối
phương. Vào dịp Tết, Tổng thống Thiệu tới Ban Mê
Thuột, ra lệnh cho Tướng Phạm Văn Phú tổ chức
phòng thủ chặt chẽ BMT. Nhưng
sau đó, ngày 25 tháng Hai, 1975, một phái đoàn quân sự
trung ương, trong đó có mặt người Mỹ, lên Quân đoàn
II, đưa ra một xấp không ảnh ghi mạng lưới
pháo binh địch hướng về Pleiku, và mang chỉ thị cho
Tướng Phạm Văn Phú kéo lực lượng từ BMT về phòng thủ
Pleiku. Đầu tháng Ba 1975, Ban Mê Thuột phòng thủ yếu
kém, lọt vô tay đối phương, tạo ra dây chuyền đổ
vỡ trên toàn quốc trong thời gian sát gần. Tướng
Phú nhắc người bạn là Trung tá Trần thanh M., Khóa 13
Đà lạt, cần giữ kín sự kiện này, trừ khi Tướng Phú
quá vãng.
Ngoài Quân đoàn I, Tướng Ngô
Quang Trưởng nhận lệnh về Sàigòn gặp Tổng thống Thiệu.
Tức thì có hai đài ngoại quốc loan tin Tướng Trưởng đã
đào nhiệm, gậy hoang mang cùng khắp vùng giới tuyến. Ông
Thiệu chỉ việc ra lệnh chòng chéo bỏ Huế, rối lại tái
chiếm Huế trong vô vọng, là toàn Miền Trung tan rã kinh
hoàng. Ngày trước, nhân vụ Ấn Quang làm loạn, và sức
ép tai hại cùa “ đồng minh,” bà Ngô Đình Nhu đã
nói một câu chí lý khi trả lời một phóng viên ngoại quốc:
“ Hãy làm cho quân sĩ mất tinh thần, phần còn lại
sẽ thuộc về đối phương,” mà người viết còn nhớ
mang máng trên Viet Nam Press ngày nào,” Demoralization
of the troops will do the rest to the enemies.”
Trong hồi ký “ Vì sao tôi
bỏ Quân đoàn I,” Tướng Trưỡng đã viết :“Lệnh
của Tổng thống Thiệu yêu cầu tôi rút khỏi Quân đoàn I
vào ngày 3 tháng 3. Ông Thiệu cho biết là rút hết về Phú
Yên, lấy Quốc lộ 22 làm ranh giới Việt Nam thu gọn
sẽ chạy dài từ Phú Yên đến Hà Tiên.” (Báo chí ngoại
quốc sau 1973, thường nói về một vùng
trái độn buffer zone cho MTGPMN. Chính MTGPMN vào năm 1972,cũng
đã ra mắt cái gọi là chánh phủ có cái tên lòng thòng
“ Chánh phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam VN,”
đặt trụ sở tại Cam Lộ bên đường số 9, cách Đông hà
10 cây số về hướng tây.
Đã biết rõ thực tế, và
bản thân đã làm tướng, làm lính, lẽ ra ông Thiệu nên áp
dụng phương cách và quân lệnh cho rút quân như thế nào để
tránh được thảm họa máu xương tột độ cho quân dân hai
vùng cao nguyên và giới tuyến. Nhưng ông Thiệu đã không làm
như thế.
Tháng Bảy 1954: Đông
Hà, vùng hỏa tuyến;
Tháng Ba 1975: La Ngà,
tuyến giang đầu.
Mới đó, hai mươi năm, biên
giới Việt Nam Cộng Hòa về sườn phía tây, đã dừng lại
ven sông La Ngà vào tháng Ba 1975, chẳng phải do tài năng đối
phương, mà do mệnh lệnh của vua nhà, tức ngài“Tổng thống
độc diễn” năm 1971, là Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu.
Qua suốt 20 năm quốc phòng
tự vệ, 1955-1975, không một phần đất nào của Việt Nam
Cộng Hòa để lọt vô tay người Cộng sản; hễ mất, liền
lấy lại tức thì. Những chiến thắng vang trời của
QLVNCH tưởng như đã
mang an toàn tươi vui lâu dài cho Miền Nam, chờ một thống
nhứt trong hòa bình công chánh cho hai miền đất nước
nói chung. Còn vang vang chiến thắng Mậu Thân trong quân
sử, còn vọng lại khúc khải hoàn ca “An Lộc anh dũng,
Kontum kiêu hùng, Trị Thiên vùng dậy.” Thế nhưng, một khi
đồng minh đã đổi ý; Miền Bắc xâm lược được cửa
mở sẵn đón vào; cấp lãnh đạo chính trị Việt
Nam Cộng Hòa đành buông tay quay mặt đi, chào thua thời cuộc...
Ngày 22 tháng Ba 1975, Trung đoàn
52 Sư đoàn 18 tổ chức thành chiến đoàn với Thiết đoàn
5 – Trung tá Nô – sát nhập hành quân, rời khu vực núi Chứa
Chan, Gia Rai phía đông Xuân lộc
sang khu vực phía tây
theo chiến tuyến Dầu giây-La ngà. Quân số tham chiến
gồm chung vào khoảng 1,800 tay súng phòng thủ lưu động
trên một chiều dài 30 cây số xa tắp mịt mờ,
chẳng
khác nào người ta sử dụng
một trung đội 30 người để canh giữ toàn bộ khuôn
viên cái dinh Độc lập thênh thang kia. Tiểu đoàn 3/52-
18 (Mỹ Phụng ) tăng phái cho Thiết đoàn 5 trong khu
vực Túc Trưng – La Ngà, là biên giới cực bắc
cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa.
Đại tá Chiến đoàn trưởng
Ngô Kỳ Dũng chỉ thị cho Mỹ Phụng tổ chừc tiểu đoàn
thành các toán viễn thám nhảy toán vô những vùng bao
quanh nghi ngờ có địch quân. Ý dịnh này gặp sự phản
kháng mạnh mẽ của Mỹ
Phụng, bởi đối phương đã tràn ngập khắp lãnh thổ phương
bắc về đây, không còn chạm tuyến nào khác hơn là
con sông La Ngà. Ông Dũng nói đây là lệnh từ thượng
cấp (?), vẫn gặp sự phản đối của Mỹ Phụng, dù anh ta
có phải ra tòa án binh, bị lột lon giáng cấp, chứ không
thể nào coi thường mạng sống của mấy trăm
đàn em một cách vô lý được. Đại tá Kỳ Dũng đành tạm
nhượng bộ Mỹ Phụng, bởi tình hình đang tiến triển xấu
đi hàng ngày.
Đà Lạt mất vào ngày 30 tháng
Ba 1975 đồng thời với Huế, và 20 ngày tiếp theo Ban Mê Thuột.
Từng đoàn dân chúng tay xách nách mang từ nẻo Lâm Đồng,Định
Quán,,,lũ lượt đổ xuống chạy loạn. Đàn
gia súc gồm chung trâu bò, chó mèo, dĩ chí gà vịt...dường
như cũng cảm nhận thấy nỗi nguy nan, chẳng cần
giây cột, lếch thếch bám gót theo gia chủ; ít ai đã thấy
cảnh loài vật trung thành bám theo con người
như vậy. Bóng đoàn người di tản lê dài trên Quốc
lộ 20 vào lúc xế chiều, nhìn từ vị trí đóng quân
lặng lẽ trong rừng. Một chút buồn nản, một chút ân
hận len lỏi trong tâm khảm người lính, bởi không còn khả
năng bảo vệ an toàn cho đồng bào mình, luôn chạy về
hướng mình tìm sự an toàn che chở.
Mỹ Phụng cũng thầm khen ngợi
tinh thần kỷ luật tự giác của đàn em : không bao giờ
dám xâm phạm đến một trái ớt, cọng rau của người dân
qua những vùng hành quân: ông chủ đồn điền trồng mía phía
ga Gia Huỳnh đã đến nhắc Mỹ Phụng hãy cho anh em ăn mía.
thả dàn, nhưng xin đừng nhổ cả thân mía lên...; những
ruộng trồng rau muống dưới chân núi Đốt xã Túc Trưng vẫn
nguyên vẹn từ màu xanh ngả sang màu vàng bên cạnh những
lều poncho của lính ...qua cả một tháng đóng quân trong
vùng; vườn trái ớt của người dân miền Phú Chánh
chín rụng dần trước sự thèm nhạt mà thờ ơ của lính...
Chiếc cầu La Ngà lạnh
tanh. Bến xe đò xưa vắng ngắt. Hàng quán chơ vơ
vắng bóng người. Đậy là hình ảnh vườn không nhà trống
những năm về trước khi lính Tây Lê dương tràn đến. Bây
giờ là khung cảnh khi Cộng quân đe dọa kéo về. Bất
cứ nơi nào, hễ Cộng quân mò đến,. là người dân
chạy đi, trừ những vùng quá xa xôi nơi quân ta mất kiểm
soát do nội dung mập mờ của Hiệp định Ba Lê, và do
hoàn cảnh người dân phải bám lấy ruộng đất để
sống còn.
Từ màn đêm quạnh hiu về
hướng cao nguyên Đà Lạt, Lâm đồng…phòng không đối phương
phóng chiếu lên những chùm ánh sáng đan chéo nhau giữa nền
trời đen thẳm. Trên những điểm cao bên Quốc lộ 20, người
lính gác giặc nhìn thấy từng vệt sáng dài những
đoàn xe chuyển quân địch dồn xuống phía nam, đền
Phương Lâm đổi sang hướng đông về vùng Bảo Chánh, vây
ép Xuân lộc.
Cộng quân bắt đầu đánh
thăm dò vị trí Đại đội 2 Nguyễn Trọng Thuật trong khuôn
khổ Tiểu đoàn 3/52. Thuật có biệt tài về phòng thủ
mìn bẫy; do đó, sáng hôm sau toán lục soát tìm thấy bông
băng trắng xóa, những vũng máu bên hàng cây cao su, tóm
được bốn con chó trận loại Phú Quốc vướng mìn nằm lại
ngoài tuyến. Mấy cậu lính của Thuật ra chợ
Túc Trưng mua củ sả, củ riềng, lá mơ, hành tỏi, mắm
tôm, húng lìu, đâu phọng, khế chua, bánh tráng, bún mì,
không quên rinh về mấy bi-đông đầy ắp… nước-mắt-quê-hương…
Dốc Mơ, Gia Kiệm, Túc Trưng…đổ
xuống Hố Nai…trở nên sầm uất trù phú sau 20 năm có mặt
của đồng bào Miền Bắc di cư. Thế mà nay, lính
cụ Hồ xanh xao vàng vọt từ Bắc phương nghèo túng,
lại đang lò mò bò tới quanh quất trong những rừng cây trái
bạt ngàn Miền Đông
Sức vây ép của đối phương
cân nặng thêm lên từng ngày. Chiến đoàn 52 được lệnh
rời Túc Trưng lui về phòng thủ tuyến Ngã ba Dầu Giây
lên khu vực ấp Nguyễn Thái Học trên QL 20 cách Xuân Lộc
12 cây số về hướng đông theo đường chim bay. Đó là ngày
mùng năm tháng Tư 1975. Thiết đoàn 5 rời khu vực trung
đoàn 52, vô tăng cường cho Xuân lộc .
Lực lượng Trung đoàn 52 còn
lại trấn giữ chiến tuyến sau cùng của VNCH
bị hạn chế tối thiểu trước một khu vực hành
quân tối đa chống lại đối phương ,--thật ra,
có ai đó bên mình – ông vua -- đã mở cửa đập cho
hồng thủy tràn ngập khu nhà mình. Thành phần trang
bị của người lính lưu động tháng ngày thì súng
là vợ đạn là con, một cái xẻng bất ly thân, tấm
áo poncho đa dụng nhiều khi da ngựa bọc thây. Đơn
vị thường xuyên dã trại nơi rừng cây, đồi núi.
Lính vội vã đào một hố cá nhân; nếu đóng quân nhiều
ngày thì khơi hố thêm sâu, làm thêm nắp chống đạn
pháo, nối giao thông hào, gài mìn claymore, chỉ cò bấy
nhiêu thứ, không kẽm gai, chẳng rào tre…và sẵn sàng
chờ địch. Bất ngờ có lệnh di chuyển, lính chỉ cần 10
phút cuốn poncho, gỡ mìn, lấp hố cá nhân…rồi
…đường trường xa…thiếu tá…không cho nhảy dù –
lính hát tếu – đi chưa biết đến đâu là bờ là bụi,
chiều nay.
Đồi Móng Ngựa
Ban chỉ huy Tiểu đoàn
3/52 lện Đồi Móng Ngưa vào giờ trưa ngày 5 tháng Tư 1975.
Trông từ xa, ngọn đồi mang hình dáng một con tàu kếch xù
nổi lên giữa biển xanh cây trái Miền Đông, bảy cây số
về hướng bắc Dầu Giây. Đó là khu đất đá, cao khỏng
200 mét, chiều dài chừng 800 mét theo đường đỉnh. Khi đóng
quân, mới thấy nó giống y chang một cái vành móng ngựa khoác
trên mình một lớp cây trái thảo mộc gồm chuối,
mít, và cây hoang. Lòng chảo khu đồi hướng về ngọn Núi
Ma phía đông trên đường rừng về Xuân Lôc. Lưng
đồi thẳng đứng quay ra Quốc lộ 20 sang ngọn Xóc Lu sừng
sững trên nền trời. Nếu xem Đồi Móng Ngưa là cái
đầu con đại bang, thì Xóc Lu phía tây và Núi Ma phía
đông, đối xứng nhau như đôi cánh đại bàng soải ra trên
năm cây số ngàn.
Vừa đặt chân vô vùng, mấy
trăm lính chiến đã hòa mình biến dạng vào rừng cây trái,
biệt tăm biệt tích; họ chỉ còn là những mũi tên, dấu
xanh đậm trên bản đồ chạy lên khu chợ Bình lộc,
Dốc Mơ hướng bắc.
Từng đoàn dân chúng tiếp
tục chạy loạn từ những vùng Phương Lâm,Túc Trưng…của
ngày hôm qua. Họ chỉ biết trả lời,” Cộng sản đông
lắm, toàn dân Bắc kỳ nói ngọng, nhiều chú bé chỉ
chửng mười lăm, mười sáu tuổi, súng ống kềnh càng...”
Nằm đu đưa trên chiếc võng
cột vô hai cây mít trên Đồi Móng Ngựa, bên cạnh ban truyền
tin, Mỹ Phụng áp sát chiếc Sanyo ba băng bên tai nghe chương
trình Dạ Lan, chuyển sang thăm dò mấy đài ngoại
quốc, nghe ngóng sự đời. Bọn này đã đổi giọng,
tận tình đề cao mách nước cho quân Cộng sản,
lại chúc dữ quân dân Miền Nam mà mới đây chúng còn
vinh danh là đồng minh của “ thế giới tự do.”
Dưới xa vế hướng đông,
nhìn qua sườn trái Núi Ma, thị xã Xuân Lộc thiêm thiếp mệt
mỏi qua đêm mùng tám tháng Tư, lâu lâu giật mình trong ánh
hỏa tiễn và đại pháo địch gõ mõ cầm canh. Nhưng ngày
chín tháng Tư bắt đầu rất sớm. Từ lúc năm giờ sáng,
bỗng chốc cả một tấm áo lửa bao la choàng phủ lên Xuân
Lộc, hừng hực chói lòa; tiếp theo đó toàn bộ Xuân Lộc
như vỡ tung ra ầm vang một góc trời. Trận chiến Xuân Lộc
bắt đầu.
Cùng lúc. địch mở cuộc cường
tập vô Tiểu đoàn 1/.52 – Thiếu tá Cam Phú-- tại ngã
ba Dầu Giây. Đây là cơ sở một đồn điền
cao su, rất dễ nhận trên bản đồ đối với trinh sát
viên pháo địch. Họ muốn chiếm Dầu Giây nhằm
khóa trục giao thông vô Xuân Lộc và Trung đoàn 52 tại ấp
Nguyễn Thái Học, Đồi Móng Ngựa. Quả thật, qua
suốt cuộc chiến bên sườn tây Xuân lộc, Trung đoàn 52 trừ
(-) không hề nhận được một lực lượng tiếp viện nào
từ hướng Biên Hòa, ngoại trừ Không Quân và Pháo binh
bạn có mặt từng giờ.
Nhìn xem phóng đồ trận liệt,
người ta sẽ thấy chiến trường Xuân Lộc chia làm hai khối.
Khối chủ lực tại thị xã Xuân lộc, gồm:
- Bộ Tư lệnh sư đoàn 18;
- Hai Trung đoàn 43 và 48 cơ
hữu;
- Các tiểu đoàn Pháo binh
và Tiểu đoàn Công binh trực thuộc;
- Thiết đoàn 5 (-) ( Trung
tá Nô);
- Tiểu đoàn 82 BĐQ trừ (-)
(Thiếu tá Vương Mộng Long), từ cao nguyên di tản,
sát nhập;
- Các đơn vị địa phương
Long Khánh.
- Lữ đoàn 1 Nhảy Dù ( Đại
tá Nguyễn văn Đỉnh, ) tăng cường hành quân vào
ngày 12.04.1975, ba ngày sau khi Cộng quân đã mở cuộc
tấn công Xuân Lộc.
(Tất cả lực lượng
bạn chỉ có thế, trải rộng mong manh trên một khu vực phòng
thủ thênh thang từ núi Chứa Chan, Gia Rai phía đông, chống
trả trước sức tiến công của Quân đoàn IV CSBV gồm ba Sư
đoàn 6, 7, 341 và Sư đoàn 325 trừ bị, cùng một lực
lượng yểm trợ hùng hậu gồm một sư đoàn Pháo binh,
một sư đoàn Xe Tăng, Lữ đoàn Phòng không, và Đặc
công – Tương quan lực lượng giũa địch và ta là: 5/1 ---.Tưởng
cũng nên nhắc lại, qua trận chiến Xuân Lộc, 37
chiến xa địch bị đốt cháy tại chổ, chừng 5,000 “ cán
binh” bị bắn hạ. Có lúc hai bên tạm ngưng chiến để
bên địch tản thương, và bên ta dùng xe ủi đất vùi
lấp những tử sĩ giùm cho bên đối chiến).
Khối thứ hai, là khu vực
phòng thủ sườn tây Xuân lộc, do Trung đoàn 52 đảm
trách, có nhiệm vụ ngăn chặn khối lượng
địch quân từ cao nguyên sẵn đà tràn xuống.
Thực lực Trung đoàn 52 tính tới sang ngày mùng chín tháng
Tư , chỉ có khiêm tốn như sau :
- Tiểu đoàn 1/52
(Thiếu tá Cam Phú) đang giao tranh với Trung đoàn
33 Đồng Nai địch tại Ngã ba Dầu Giây;
- Tiểu đoàn 2/52 ( Huỳnh Văn
Út) đóng chung với vị trí Trung đoàn, sẽ vô tăng viện
XuânLộc;
- Tiểu đoàn Pháo 182
tăng cường (Thiếu tá Phạm Thượng Khải và Nguyễn Thanh
Trước);
- Chi đoàn 3/5 Thiết giáp,
( Đại úy Sơn);
- Đại đội 52 Trinh sát (
Đại úy Mừng);
- Đại đội Quân y ( Y sĩ
Trung úy Nam và Thiếu úy Sang);
- Một thành phần Công binh;
- Tiểu đoàn 3/52 ( Mỹ Phụng)
đặt ban chỉ huy trên Đồi Móng Ngựa, tăng cường một
thành phần TOW chống Tăng do Trung úy Nguyễn Hữu Minh.
phụ trách; bốn đại đội chiến đấu tiếp tục
hoạt động quanh vùng chạm tới khu chợ Bình lộc, Dốc Mơ,
ba cây số về hướng bắc.
Ngày 11.4.1975, Tiều
đoàn 2/52 được lệnh di chuyển vô tăng cường Trung đoàn
43 / 18 do Đại tá Lê Xuân Hiếu chỉ huy. Đại tá Hiếu với
Trung đoàn 43, là người hùng chủ lực của Sư đoàn 18, và
đã góp công phần lớn trong chiến thắng Xuân lộc.
Tương quan lực lượng giữa
địch và Trung đoàn 52 (-) là: 10 / 1.
Mang danh là Chiến đoàn 52 (Battle
group), nay Trung đoàn 52 chỉ còn lại là một trung đoàn
trừ (-) với một quân số tham chiến xuống rất thấp,
trước một trách nhiệm vượt sức mình, đối diện
với Sư đoàn 341 ngay trước mặt và Sư đoàn 325 bên
hông trái, được tăng, pháo tối đa trực tiếp yểm
trợ---( Sử gia Jay Veith, trong Fighting is An Art về
chiến thắng Xuân Lộc, có nhận xét về cách phối trí
lực lượng một cách chênh lệch này).
Tiểu đoàn 2/52 ( Đại úy Huỳnh
văn Út) , trên đường hành quân vô Xuân lộc vòng theo chân
phía đông Núi Ma, đã chạm địch rất nặng tại
ấp Suối Tre gần Cua Con Heo, bắn hạ 7 xe vận tải
Molotova, diệt tại chỗ gần
trăm sinh mạng địch, tịch thu cao xạ 37, đại liên
phòng không, cùng một đống vũ khí đủ loại. Tướng
Lê Minh Đảo được tin, khen ngợi Tiểu đoàn 2/52 cùng
Đại úy Út, ông nói,” Chúng ta không cần thu nhiều vũ khí
địch làm chi, hủy diêt súng đi; điều cần thiết là tiêu
diệt tối đa sinh linh địch.”
Kể từ ngày 11 tháng Tư 1975,
Tiểu đoàn 3/52 trở thành đơn vị chủ lực của Trung
đoàn 52 (-).Mỹ Phụng để lại đại đội
Nguyễn Thanh Trường và bộ phận TOW trên Đồi Móng
Ngưa, và
dẫn Tiều đoàn (-) xuống
vị trí trung đoàn tại ấp Nguyễn Thái Học, một cơ sở
điều hành của đồn điền cao su ngày trước.
Vào lúc nửa đêm 11 tháng Tư,
1975, tổ phục kích mìn Claymore của Trường về phía
đông Đồi Móng Ngựa, hạ sát 17 Cộng quân, trong đó 4 cán
bộ cao cấp, tịch thu 4 bản đố pictomaps
Trung cộng rất đẹp, 4 địa
bàn Trung cộng tinh xảo, và đặc biệt một công vụ lệnh
ghi : “ Đoàn nghiên cứu quân sự đặc biệt 301 – Nay
cấp cho bốn đồng chí ( lâu ngày quên tên) lên đường
nghiên cứu thực địa chiến trường Thủ Biên Xuân Lộc.
-- Ngày lên đường: 2 tháng Tư 1975. Ngày chấm dứt nhiệm
vụ: 30 tháng Tư 1975.”---Mỹ Phụng tỏ ý nghi ngờ về
cái “ ngày chấm dứt nhiệm vụ 30.4.1975” thì Đại tá Dũng
phán, “Anh chúa là hay mơ mộng, suy nghĩ vẩn vơ, chỉ
làm thơ...tán gái (?).
Tình hình chiến sự khu vực
Trung đoàn 52 (-) vào ngày 13.tháng Tư 1975 ghi nhận
như sau: Tiểu đoàn 1/52 đã kiệt sức sau bốn ngày quần
thảo với Trung đoàn 33 Đồng Nai.. Hơn 200 chiến hữu
đã hy sinh trên từng thước vuông, từng gốc cao su vùng đất
Dầu Giây, chứng tỏ sức chiến đấu hy sinh của quân
sĩ ta mãnh liệt như thế nào. Đại tá Dũng cử
Đại úy Hà Văn Cho, tiểu đoàn phó 3/52, hướng dẩn hai đại
đội 2 Nguyễn Trọng Thuật và đại đội 3 Đặng hữu
Lê hành quân đêm, bắt tay đưa 1/52 còn lại
về vị trí trung đoàn. Vào lúc 2 giờ sáng 14.4.1975,
Đại tá Dũng mở chai champagne đón Cam Phú, Hà Văn Cho, và
chiến binh còn lại, trở về tuyến bạn an toàn.
Cũng từ đêm 13.04.1975, ngã
ba Dầu Giây lọt vô tay địch, không bao giờ chiếm lại được
qua trận chiến Xuân lộc, bởi không có một lực
lượng bạn nào tiếp viện. Lý do thật là khó hiểu.
Với quân số bộ binh khả dụng nay xuống thấp còn chừng
800 tay súng, phòng thủ dã chiến, Trung đoàn 52 (-)
bắt đầu chịu cảnh bất lợi trước quân số áp đảo,
và những địa hình vây quanh đã hoàn toàn lọt vô tay đối
phương.
Ngày 14.04.1975, Tướng Lê Minh
Đảo chuyển xuống trung đoàn một công điện của đối phương,
viết : “ Tụi Ngụy Dù và Sư 18 ra sức chống đỡ Xuân lộc,
ngăn cản quân ta thi hành phương án đúng hạn kỳ.”
Mỹ Phụng chẳng phải là “ dân tình báo,” lại thêm
một lần tỏ ý nghi ngờ về cái “ thi hành phương án đúng
hạn kỳ” của bên địch, dường như trùng hợp vói
“ Ngày chấm dứt nhiệm vụ 30 tháng Tư năm 1975” trên
Công lệnh của đoàn 301 tức QĐ IV đối phương. Vì đâu,
Cộng sản Miền Bắc đã có sẵn niềm tin về một ngày
30-4-1975 ?
Nhật Ký hành quân, 150500/04-75
Tác xạ chuẩn bị của địch
đánh trúng liên tiếp vô triền Đồi Móng Ngựa vào lúc 5
giờ sáng ngày 15 tháng Tư 1975. Trận chiến khởi sự khỏa
lấp hết đi âm thanh dàn nhạc chánh trong Xuân Lộc.
Trung Úy Nguyễn Thanh Trường
có thói quen nói rất lẹ như Huyền Vũ tường thuật
túc cầu, nhưng mạch lạc rõ rang mỗi khi chạm địch. Trường
cho biết sơn pháo địch đặt bên Núi Ma, không rõ bao nhiêu
khẩu. Địch gia tăng hỏa lực trong 10 phút, và lệnh xung phong
tức kỳ. Pháo bạn từ Núi Thị và vị trí trung đoàn phản
xạ cấp thời. Ánh hỏa châu làm chao nghiêng lay động
khắp cảnh vật rừng cây, cũng nhờ đó đàn em Trường nhìn
rõ màu chàm đen di động của lính cụ Hồ. Với
quân số chừng 100 lính chiến, Trường đã giao 2/3 tay súng
cho Thiếu úy Tốt bố trí theo lưng đồi để có tầm quan
sát và tác xạ. Tạc đạn và M.72 phân phối đều
cho các công sự chiến đấu. Không một người bộ đội
cụ Hồ nào xông lên được tới lưng đồi.
Thương binh địch bị bắt
làm tù binh khai báo thuộc đại đội trinh sát Trung đoàn 95-B,
Quân đoàn IV Bắc Việt.
Sau đợt xung phong đầu tiên
thất bại, sơn pháo địch từ Núi Ma cùng pháo 130 từ hướng
đông bắc nhất loạt áp đảo Đ M N, rải xuống khắp
vị trí trung đoàn dưới ấp Nguyễn Thái Học. Màn khói
đen đặc bao phủ quanh rừng cao su, tỏa mờ khắp
mặt ấp, cũng từng là cơ sở điều hành của một đồn
điền cao su. Bên kia khu đất trống như một sân
banh, những nòng súng đại bác thụt hậu, nháng lửa, nhưng
không còn phát ra tiếng nổ, như trong một đoạn phim câm.
Hai khẩu đại bác 105 trúng đạn, đen sì tựa hai
con voi lớn nằm lật nghiêng trong ụ đất. Mặt sân
ngang dọc lổ chỗ vết đạn nổ trông như những luống khoai
vừa mới được cày sới lên. Cây ăng-ten nhiều
đoạn bên cạnh hầm Đại tá Dũng, bị trúng đạn nằm sõng
soài, chưa được dựng lên…
Lúc 8 giờ sáng, pháo địch
dồn dập, chuẩn bị cho đợt xung phong kế tiếp. Trời
sáng rõ, nắng ấm, khói đạn mờ mịt bay cao. Triền Đồi
Móng Ngưa thưa thớt hơn sau nhiều đợt pháo. Những sinh
mạng, chừng 100 tấm
bia sống động đi lên, dồn tới, điếc không sợ súng.
Lính của Trường nhìn thấy rõ những cậu bé vừa đi lên
vừa chữa đói, có cậu gặm một khúc mía dở, cậu
thì nhai vội vã một trái cây… không cần biết đây
là biên giới của sống và chết, thản nhiên như trong
một bài tập trận giả tại một trung tâm huấn luyện nào
đó. Lính của Trường không thể làm gì khác hơn
là nhắm bắn những tấm bia trên xạ trường.
Lính bằn từng phát một, chính xác, tiết kiệm đạn dược.
Lính không lấy làm lạ, qua nhiều cuộc đụng độ, bắt được
nhiều tù binh Miền Bắc mới lớn, ốm yếu xanh xao; họ khai
báo chỉ được tập bắn khoảng mươi viên đạn, rồi bị
đưa ra mặt trận, đi B, tức là Miền Nam.
Nếu so sánh, thì “ lính
cụ Hồ “ không đồng cân đồng sức vói lính sư đoàn,
lính của Trường.Nhưng họ có núi rừng che chở. có
Lào Quốc và Cambốt ẩn náu dưỡng quân, có cái mù mờ
của Hiệp định Ba lê 1973 bao che. Lính Miền Nam không ra đánh
Miền Bắc, chỉ chăm lo gìn giữ nhà mình, nên tự
nhiên mất đi quyền chủ động, là một yếu tố tất yếu
của chiến tranh.
Sau hai đợt xung phong tan vỡ,
cái loa bên địch trơ trẽn lên tiếng dụ hàng. Một giọng
Bắc Kỳ léo nhéo nghe tiếng được tiếng chăng. Đây là khoảng
trống thời gian để họ gom quân, tổ chức tấn công tiếp.
Trên đồi, Trường cho săn sóc thương binh, điều chỉnh
lại các ổ kháng cự, bởi quân số không còn đầy
đủ để dàn mỏng trên một tuyến dài theo sườn đồi.
Dưới ấp Nguyễn Thái Học,
Thiếu úy Mai Mạnh Liêu đã sẵn sàng. Lính Đại đội
4 cuốn lều, nhưng vẫn tiếp tục giữ tuyến chờ bạn thay
thế. Theo thói quen …nghề nghiệp, Liêu soát lại mấy
thứ lỉnh kỉnh không có không xong : sổ ám danh đàm thoại,
địa bàn, tấm bản đồ, băng cấp cứu, mấy bao thuốc lá
Quân Tiếp vụ, một bi-đông ba-xi-đế đầy ắp, nói là để
chống sốt rét rừng. (?)
Mấy tiệm chạp phô, quán nước,
tiệm phở…nay đã đóng cửa. Nhưng lính cũng đã
mua được chút rau quả phòng hờ. Người dân bỏ đi
chạy loạn theo đường ruộng về phía Bàu Cát từ ngày đầu
Cộng quân tấn công Dầu Giây. Sáng hôm ra đi, cô chủ
quán gượng cười nói với Mỹ Phụng , “ Cái bàn bi-a em
để nguyên, các anh trông giùm em; còn vài két la de, các anh
cứ tự nhiên dùng hết
đi.” Mỹ Phụng
biếu cô em một chút tiền …lấy hên, ép cô ấy phải nhận.
Gần chín giờ, Tiểu đoàn
phó Hà Văn Cho và Liêu mở đường lên tăng cường cho Trường,
đồng thời mang thêm đạn dược và mấy thùng nước suối.
Hà Văn Cho lên đồi, tinh thần lính lên theo, dễ hiểu bởi
Cho từng coi Trinh sát nổi tiếng của Sư đoàn, tác giả cuộc
tái chiếm Đồi Gió trong trận chiến An lộc 1972.
Thiếu úy Nghĩa đại đội
phó cho Liêu đi đầu, chiếm giữ tuyến của Trường, nơi
chịu nhiều tổn thất hơn hết. Nghĩa tiếp
tục giữ tuyến ngoài cùng, trong khi Liêu theo dõi tình
hình phi pháo ( Liêu cũng là chuyên viên hướng dẫn hỏa lực
phi pháo). Thương binh được trao về trạm xá, một
căn nhả gạch nằm giữa ấp, cũng đã trúng đạn pháo
địch. Trận chiến rối bời, không hiểu hai ông y sĩ
Nam và Sang xoay trở như thế nào…
Đường giao thông liên
lạc, tản thương, tiếp tế từ ĐMN xuống trung đoàn
do Thiếu úy Trần Đình Cảnh và trung đội Xì Ke (Xung kích)
của anh đảm nhận. Chừng 15 loài chim đi biển - lao công đào
binh - bàn giao cho Cảnh tùy nghi. Tuyến phòng thủ quanh ấp
vẫn là tình trạng dã chiến tạm thời,-- những hố cá nhân
trần trụi, không bờ lũy, không chướng ngại vật, mỗi giờ
mỗi thưa mỏng hẳn đi.
Trên đồi, theo hướng dẫn
của Hà Văn Cho, trực thăng vòng qua phía đông đánh phá
Núi Ma. Sơn pháo địch phải câm miệng sau mấy giờ
hoành hành, được vô sự trước Pháo binh bạn, là nhờ
được góc núi che chở. Về hướng tây, phản lực F.5 biến
ngọn Xóc Lu thành một cột khói cao ngất, kèm theo nhiều tiếng
nổ phụ. Buổi sáng nắng ấm chuyển sang thành một buổi
sáng có nhiều sương mù. Mai Mạnh Liêu yêu cầu
đánh bom trên một khối đông hàng trăm bộ đội cụ Hồ,
từ Quốc Lộ 20 tràn vô, không rõ vì khinh xuất hay non
kém về chiến thuật, họ bu lại lố nhố ven rừng
cao su. Xác người và xác cây tung lên cao thấy
rõ trong tầm nhìn.
Tiếng loa ì xèo re ré
giọng Bắc Kỳ ngưng lại từ lúc nào không hay. Hồi
10 giờ, pháo địch như lên cơn điên đổ sập xuống
ĐMN, tràn xuống ấp. Tức thì hàng mấy trăm sinh linh đồng
loạt bật dậy. Từ nhũng thân cây gục đổ, sau những cây
chuối xác xơ dưới kia, địch xông lên. Có tiếng kèn xung
phong dục dã. Cả một tiểu đoàn địch di chuyển
tác xạ . Họ phân chia ra, bám lấy hai đầu ĐMN nhằm phân
tán hòa lực, sức kháng cự của quân ta.
Nơi bộ chỉ huy trung đoàn,
Đại tá Ngô Kỳ Dũng có lẽ là người bận rộn nhứt Miền
Đông ngày hôm nay. Những chiếc bút mỡ xanh đỏ trong tay ông
mòn dần. Ông ta rít Dun Hill như điên; khói thuốc
tràn đặc căn hầm. Tiếng ông vốn khàn đục nghe càng
nặng trình trịch khi liên lạc không ngừng vói phi pháo, với
các cánh quân, và với Tướng Lê Minh Đảo trong Xuân Lộc.
Hai thầy trò vốn xuất thân Đà Lạt, lại
từng nhiều năm làm quen với các Trung tâm hành quân, cùng
quen nghề làm quan tỉnh, quan quận...nên tỏ ra ăn
ý trong kế điều binh phối hộp, và giữa tình thầy
trò xưa... Mỹ Phụng nhiều phen thầm phục cách vẽ phóng
đồ, chấm độ từ những ngón tay búp chuối của
ông như một họa công tài ba hết biết. Bằng chiếc
máy truyền tin Trung Cộng, và nhờ những nhân viên đội Kỹ
Thuật điện tữ bên cạnh, ông theo dõi rất sát tình hình
địch.
Lúc đó là một giờ xế trưa.
Một giọng nói đặc sệt Quảng Bình từ chiếc máy Trung Cộng:
- Cự nọi ( Cứ nói
).
E-trưởng 95-B sốt ruột nghe
“dưới” báo cáo:
- Bá…bá…báo…cááo!
- Đ ụ m ạ ! Khận
trượng lện, nọi đị ( ĐM. khẩn trương lên, nói đi
).
- Bá bábá áo cááo ! Tôi
nghĩ địch là B ( trung đội) nên cho toàn C trinh
sát đánh. Nào ngờ chúng là một C ( đại đội
Trường)…Tôi đánh tiếp bằng hai C, lính không lên được
; tôi đánh cấp D
( tiểu đoàn)...thì chúng lại
là một D ( ta thêm đại đội Liêu). Bây giớ tôi khó khăn...
-- Đ ụ m ạ...mận
ặn cại chị rựa. mi...mị... ( mần ăn cái chi rứa).
Tinh thần đang căng thẳng mệt
mỏi theo dõi trận đánh bên Đại tá Dũng, viên trung
sĩ đội Kỹ Thuật cũng không khỏi phì cười. Lão
E trưởng Cộng sản Bắc kỳ cũng “ đ.m.” ngon
lành chẳng khác chi Đại tá Dũng nhà mình.
-- Đ.M.! Nghe đây! Những
thằng bị thương nặng, không cần, dục bỏ ! Anh gom những
thằng bị thương nhẹ lại, tui sẽ cho anh thêm một D nữa,
tụi sẹ ...
Trung sĩ Ban Kỹ Thuật từng
đi theo trung đoàn qua bao vùng chiến trận, đã bao lần cấp
thời giải mã những báo cáo, chỉ thị, hay nghe bắt những
giọng nói Bắc kỳ léo nhéo chỉnh pháo vô căn cứ Bình
Cơ, hay Rạch Bắp, Bình Chuẩn…, nhưng anh không thể
ngờ Cộng quân lại có thể dã man tàn tệ với thương
binh của họ như thế. Biết bao lần, quân ta đã
gom góp những thương binh đối phương sau trận đánh,
và săn sóc họ chu đáo chẳng khác gì như lính bên
mình.
Về chiều, pháo địch càng
gia tăng nóng nảy dữ dằn . Căn hầm khá vững của Đại
tá Dũng bị đánh sập. Cuối sân, hai chiếc thiết giáp
M.41 bốc khói ngùn ngụt. Ông Dũng thoát ra khỏi hầm
an toàn, lem luốc, chạy sang ban chỉ huy Tiểu đoàn 3 gần thung
lũng. Cây ăng-ten bên hầm Đại tá Dũng lại bị đánh
gẫy, nằm gục ven sân. Bên kia sân, Thiếu tá Thanh Trước
toàn thân đen đúa vì khói đạn, tiếp tục điều khiển tác
xạ; những khẩu đại bác nháng lửa nghe ì ấm như từ đâu
vọng lại.
Mỹ Phụng đi vòng quanh tuyến
trở về khi ông Dũng vừa tới. Căn nhà ngói dùng làm
ban chỉ huy tiểu đoàn bỗng thấy sáng trưng dưới hai
mảng trống trên nóc do pháo gây ra không biết từ
lúc nào. Ban tuyền tin của Trung sĩ nhứt Anh được an toàn
thật là một sự lạ. Trung úy Hưng Ban Ba, đang liên
lạc vói Hà Văn Cho trên đồi. Ông Dũng giật lấy
ống nghe.
Trên Đồi Móng Ngưa, Mai Mạnh
Liêu yêu cầu đánh pháo trên nhũng hàng quân địch đi
như diễn hành ngoài Quốc lộ 20, hướng về khu vực trung
đoàn. Một cánh quân địch khác rất đông
di chuyển theo đường rừng, đổi hướng về khu Bàu
Cát phía Biên Hòa. Mười phút trước, Mỹ Phụng
dùng ống nhòm theo dõi mốt số địch từ thung lũng , lên
dốc, đi về hướng Dầu Giây. Địch tiếp
tục vây ép khu vực trung đoàn, đồng thời bôn tập về hướng
Biên Hòa, về thủ đô Saigon..., cho đúng hạn kỳ ?
Pháo binh bạn từ Núi Thị
nổ chụp trên những đội hình đối phươngtrên QL 20.
Họ giãn ra hai bên đường trong chốc lát, rồi tụ
lại như đám bèo trôi, làm ngơ trước cảnh các thương
binh ngã gục ven đường. Quân địch dường
như phải cướp thời gian do mục đích yêu cầu chiến
trận: thi hành phương án đúng hạn kỳ ( thương binh
sẽ có hậu cần lo sau…).
Liêu cho biết, một toán chỉ
huy địch chạy vô căn nhà ngói gần đầu ấp. Căn nhà
trúng đạn, bị sập, không thấy những tên mang máy truyền
tin thoát ra nữa. Trong một thoáng giây, Mỹ Phụng
nhớ về cô chủ quán có chiếc bàn bi-a và những két la-de
để lại, ”Các anh cứ dùng tự nhiên, nhớ giữ nhà giùm
em.” Một chút buồn nhớ, chen môt thoáng vui, mừng
cho cô gái thoát nạn trong mùa binh đao.
Trọn ngày 15 tháng Tư năm 1975,
Đồi Móng Ngựa và vị trí ấp Nguyễn Thái Học chịu pháo
địch 12 giờ liên tiếp, và liên tục đẩy lui những đợt
xung phong của một trung đoàn địch. Đó là tập hợp
của đủ thành phần tác chiến, từ một đại đội
trinh sát tinh nhuệ, đến một tiểu đoàn lính thiếu niên
từ Miền Bắc mới vô, đến sự gom góp vá víu của toàn
Trung đoàn 95-B điêu đứng dưới phi pháo bạn, và trước
sức giáng trả chính xác của các đàn em, của Hà Văn Cho,
Nguyễn ThanhTrường, Mai Mạnh Liêu, Nghĩa, Tốt, của Cảnh...
Những người lính Quân
lực VNCH chẳng khi nào biểu lộ một lòng căm thù vói
ai, họ canh giữ phần đất nhà mình, làm nhiệm
vụ bảo vể đồng bào, những đồng bào luôn luôn chạy
về với họ qua những miền trận mạc do “ lính
cụ Hồ” mang tới. Sự thật hiển nhiên là như
thế. Người lính Miền Nam bảo vệ căn nhà, vườn ruộng
của đồng bào mình, không một lần ra gây chiến với Miền
Bắc...
Ngọn đồi xanh mát đã biến
thành một ngọn đồi trống trơn, Rừng cấy trái xum
xuê trở thành một cánh đồng quang đãng. Thân cây trộn
với xác người chồng chất lên nhau, đen ngòm hàng nọ tiếp
nối hàng kia. Cùng vói nhịp độ chuyển quân ngoài quốc lộ,
trung đoàn trưởng “ Đù Mạ” phóng tay, lùa tiếp 1/3
quân số thiếu niên còn lại vô vùng tử địa.
Trung úy Nguyễn Thanh Trường
có thói quen nói lẹ như Huyền Vũ tường thuật túc cầu.
Trường xin pháo nổ cao trên làn sóng địch đang chập
choạng đi lên. Trường xin pháo sẵn sàng nổ chụp ngay
trên đồi, khi Trường yêu cầu... nếu tình hình trở nên
cấp thiết.
Vào lúc 5 giờ 30 chiều, nghe
tiếng Mai Mạnh Liêu đứt đoạn trong máy:
- Chung quanh chúng tôi chẳng
còn gì; sườn đồi ngập xác địch và cây cối, rừng đã
tan hoang, ngọn đồi như đã thay đổi độ giốc.
Những người lính trẻ Miền
Nam thuộc Tiểu đoàn 3/52 Sư đoàn 18, được phi pháo bạn
tận tâm tiếp sức, đả giáng trả Cộng quân
miền Bắc một trận để đời nơi tọa đô cô đơn
đó, - Đồi Móng Ngựa - làm tan rã Trung đoàn 95-B thuộc Quân
đoàn IV Bắc Việt, nhưng đã chiến thắng âm thầm khi vận
nước nổi trôi.
* * *
Lời cuối. Ngày
20 tháng Tư 1975, Tổng thống Thiệu ra lệnh rút bò Xuân Lộc,
như ông đã từng cho rút bò hai vùng cao nguyên và giới
tuyến trong tháng trước. Xong xuôi đâu đó, ông Thiệu
từ chức vào chiều tối ngày hôm sau, 21 tháng Tư, và cùng
gia quyến thượng lộ bình an trước sự đưa tiễn ân cần
của Đại sứ Hoa Kỳ và hai tướng Tình báo CIA.
(Tiếng Vọng Ngàn Thương -
Echo of Sacrifices). |