Liên Lạc: Nguyệt-San Việt-Nam
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC., V5V-5C8, Canada
Phone  +  Fax: (604)  879.1179 - Email: nsvietnam@yahoo.com
 Trang bìa
Do Hải Triều & Nhóm NSVN phụ trách
Hãy tiếp sức cho Nguyệt-San Việt-Nam sống đến ngày Sài Gòn - Hà Nội được tự do 
bằng cách giúp đỡ hoặc mua các tác phẩm do Nguyệt-San Việt-Nam giới thiệu. 
Xin liên lạc trực tiếp với tòa soạn theo địa chỉ trên. 


Bài Mới Nhất



Chụp Mũ


Mùa Xuân Đen


Máu và nước mắt 
trên lưng Trường Sơn.


Những Trận Đánh Không Tên 
Trong Quân Sử tập 2.


Thơ chiến đấu của Hải Triều,
Lê Khắc Anh Hào, Ý Yên,
Trần Thúc Vũ.


 


Chụp Mũ




Sáng Tác - Thơ Văn

TRẬN ĐÁNH ĐỒI MÓNG NGỰA
(Trong khuôn khổ chiến trường Xuân Lộc, tháng Tư 1975)
Hồi ký Ý-Yên 

 
Loạt trái phá đầu tiên làm rung chuyển Đồi Móng Ngựa vào lúc năm giờ sáng ngày 15 tháng Tư năm 1975. Những người lính trẻ Miền Nam thuộc Tiểu đoàn 3/52 Sư đoàn 18, được phi pháo bạn tận tâmyểm trợ, đã giáng trả đối phương một trận để đời nơi tọa độ cô đơn đó, làm tan rã Trung đoàn 95-B thuộc Quân đoàn IV Bắc Việt, nhưng đã chiến thắng âm thầm khi vận nước nổi trôi.

Tình hình quân sự tổng quát đầu năm 1975. 
Chiến tuyến mênh mang giữa bạn và thù.

Tỉnh Phước Long mất vào đầu tháng Giêng 1975. Ngày hôm đó, một trận mưa trái mùa bao phủ vùng rừng chồi Tân uyên, Phú chánh…lan sang những vùng tre gai chiến khu Đ Đất Cuốc. Mưa trĩu nặng trên tấm poncho lính chiến ven sông La Ngà.  Sư đoàn 18 và Liên đoàn 7 BĐQ nhận lệnh tái chiếm Phước Long; nhưng kế hoạch không rõ vì lý do gì, phải bỏ dở nửa vời. Rồi  tức khắc, một chiếc đũa phù thủy nào đó chỉ vẽ cho Công trường 5 và Trung đoàn 33 Đồng Nai của đối phương nổi lửa mù trời tại Võ xu. Võ đắt, Tánh linh…nhằm cầm chận đánh tiêu hao  sinh lực quân ta.  Túi lửa này vừa bị dập tắt, thì điểm nóng khác đã bùng lên.  Dấu hiệu chuẩn bị đánh lớn phát hiện khắp nơi: không kể xiết những đàn gà thả rong trong rừng mít Bảo Chánh phía  bắc Xuân lộc;  hàng chục thùng phuy chứa gạo nàng hương ngụy trang  cất dấu ven bờ suối cạn,-- sau này mới biết,  một chỉ huy sở cao cấp  đối phương đóng quân tại  Bảo Chánh  trong trận chiến Xuân lộc.  Xa hơn về mạn Sông Bé, trung đội Xì Ke -- xung kích-- thuộc Tiểu đoàn 3/52-18  do Thiếu úy Trần đình Cảnh, đột nhập khu dinh điền  cũ tại Phước Lộc, khám phá những hầm chứa hỏa tiễn 122 ly mới tinh trong giấy bọc dầu chôn dấu ven bờ Sông Bé.

Sau tỉnh Phước Long bị bỏ quên đến phiên Ban Mê Thuột làm quà cho các sư đoàn đối phương. Vào dịp Tết, Tổng thống Thiệu  tới Ban Mê Thuột, ra lệnh cho Tướng Phạm Văn  Phú tổ chức
phòng thủ chặt chẽ BMT. Nhưng sau đó, ngày 25 tháng Hai, 1975, một phái đoàn quân sự  trung ương,  trong đó có mặt người Mỹ, lên Quân đoàn II,   đưa ra một xấp không ảnh ghi mạng lưới  pháo binh địch hướng về Pleiku,  và mang chỉ thị cho Tướng Phạm Văn Phú kéo lực lượng từ BMT về phòng thủ Pleiku.  Đầu tháng Ba 1975, Ban Mê Thuột phòng thủ yếu kém, lọt vô tay đối phương, tạo  ra dây chuyền đổ vỡ trên toàn  quốc trong thời gian sát gần. Tướng  Phú nhắc người bạn là Trung tá Trần thanh M., Khóa 13  Đà lạt, cần giữ kín sự kiện này, trừ khi Tướng Phú quá vãng.

Ngoài Quân đoàn I, Tướng Ngô Quang Trưởng nhận lệnh về Sàigòn gặp Tổng thống Thiệu. Tức thì có hai đài ngoại quốc loan tin Tướng Trưởng đã đào nhiệm, gậy hoang mang cùng khắp vùng giới tuyến. Ông Thiệu chỉ việc ra lệnh chòng chéo bỏ Huế, rối lại tái chiếm Huế trong vô vọng, là toàn Miền Trung tan rã  kinh hoàng.  Ngày trước, nhân vụ Ấn Quang làm loạn, và sức ép tai hại cùa “ đồng minh,”  bà Ngô Đình Nhu đã nói một câu chí lý khi trả lời một phóng viên ngoại quốc: “ Hãy làm cho quân sĩ  mất tinh thần, phần còn lại sẽ thuộc về  đối phương,” mà người viết còn nhớ mang máng  trên Viet Nam Press ngày  nào,” Demoralization of the troops will do the rest to the enemies.”

Trong hồi ký “ Vì sao tôi bỏ Quân đoàn I,”  Tướng Trưỡng đã viết :“Lệnh của Tổng thống Thiệu yêu cầu tôi rút khỏi Quân đoàn I vào ngày 3 tháng 3. Ông Thiệu cho biết là rút hết về Phú Yên, lấy Quốc lộ 22  làm ranh giới Việt Nam thu gọn sẽ chạy dài từ Phú Yên đến Hà Tiên.” (Báo chí ngoại quốc  sau 1973,  thường nói  về  một vùng trái độn buffer zone cho MTGPMN. Chính MTGPMN  vào năm 1972,cũng đã ra mắt cái gọi là chánh phủ có cái tên lòng  thòng  “ Chánh phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam VN,” đặt trụ sở tại Cam Lộ bên đường số 9, cách Đông hà 10 cây số về hướng tây.

Đã biết rõ thực tế, và bản thân đã làm tướng, làm lính, lẽ ra ông Thiệu nên áp dụng phương cách và quân lệnh cho rút quân như thế nào để tránh được thảm họa máu xương tột độ cho quân dân hai vùng cao nguyên và giới tuyến. Nhưng ông Thiệu đã không làm như thế.

Tháng Bảy 1954:  Đông Hà, vùng hỏa tuyến;
Tháng Ba 1975:  La Ngà, tuyến giang đầu.

Mới đó, hai mươi năm, biên giới Việt Nam Cộng Hòa về sườn phía tây, đã dừng lại ven sông La Ngà vào tháng Ba 1975, chẳng phải do tài năng đối phương, mà do mệnh lệnh của vua nhà, tức ngài“Tổng thống độc diễn” năm 1971, là  Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu.

Qua suốt 20 năm quốc phòng tự vệ, 1955-1975, không một phần đất nào của Việt Nam Cộng Hòa để lọt vô tay người Cộng sản; hễ mất, liền lấy lại tức thì. Những chiến thắng vang trời của
 QLVNCH tưởng như đã mang an toàn tươi vui lâu dài cho Miền Nam, chờ một thống nhứt trong hòa bình công chánh cho  hai miền đất nước nói chung.  Còn vang vang chiến thắng Mậu Thân trong quân sử, còn vọng lại khúc khải hoàn ca  “An Lộc anh dũng, Kontum kiêu hùng, Trị Thiên vùng dậy.” Thế nhưng, một khi  đồng minh  đã đổi ý; Miền Bắc xâm lược được cửa mở  sẵn  đón vào; cấp lãnh đạo chính trị Việt  Nam Cộng Hòa đành buông tay quay mặt đi, chào thua thời cuộc...

Ngày 22 tháng Ba 1975, Trung đoàn 52 Sư đoàn 18 tổ chức thành chiến đoàn với Thiết đoàn 5 – Trung tá Nô – sát nhập hành quân, rời khu vực núi Chứa Chan, Gia Rai phía đông Xuân lộc
 sang khu vực phía tây theo chiến tuyến Dầu giây-La ngà.  Quân số tham chiến gồm chung vào khoảng 1,800 tay súng phòng thủ lưu động  trên một chiều  dài 30 cây số xa tắp mịt mờ,  chẳng
khác nào người ta sử dụng một trung  đội 30 người để canh giữ toàn bộ khuôn viên cái dinh Độc lập thênh thang kia.  Tiểu đoàn 3/52- 18  (Mỹ Phụng )  tăng phái cho Thiết đoàn 5 trong khu vực  Túc Trưng – La Ngà,  là biên giới cực bắc cuối cùng của Việt Nam  Cộng  Hòa.

Đại tá Chiến đoàn trưởng Ngô Kỳ Dũng chỉ thị cho Mỹ Phụng tổ chừc tiểu đoàn thành các toán viễn thám nhảy toán vô  những vùng bao quanh nghi ngờ có địch quân. Ý dịnh này gặp sự phản
kháng mạnh mẽ  của Mỹ Phụng, bởi đối phương đã tràn ngập khắp lãnh thổ phương bắc về đây, không còn chạm tuyến  nào khác hơn là con sông La  Ngà.  Ông Dũng nói đây là lệnh từ thượng cấp (?), vẫn gặp sự phản đối của Mỹ Phụng, dù anh ta có phải ra tòa án binh, bị lột lon giáng cấp, chứ không thể nào coi thường mạng sống  của  mấy trăm  đàn em một cách vô lý được. Đại tá Kỳ Dũng đành tạm nhượng bộ Mỹ Phụng, bởi tình hình đang tiến triển xấu đi hàng ngày.

Đà Lạt mất vào ngày 30 tháng Ba 1975 đồng thời với Huế, và 20 ngày tiếp theo Ban Mê Thuột. Từng đoàn dân chúng tay xách nách mang từ nẻo Lâm Đồng,Định Quán,,,lũ lượt đổ xuống chạy  loạn.   Đàn gia súc gồm chung trâu bò, chó  mèo, dĩ chí gà vịt...dường như cũng  cảm nhận thấy nỗi nguy  nan, chẳng cần giây cột, lếch thếch bám gót theo gia chủ; ít ai đã thấy cảnh  loài vật trung thành  bám theo  con người như vậy.  Bóng đoàn người di tản lê dài trên Quốc lộ 20 vào lúc xế chiều, nhìn từ vị trí  đóng quân lặng lẽ trong rừng.  Một chút buồn nản, một chút ân  hận len lỏi trong tâm khảm người lính, bởi không còn khả năng bảo vệ an toàn cho đồng bào mình,  luôn chạy về hướng mình  tìm sự  an toàn che chở.

Mỹ Phụng cũng thầm khen ngợi tinh thần kỷ luật tự giác của đàn em : không bao giờ  dám xâm phạm đến một trái ớt, cọng rau của người dân qua những vùng hành quân: ông chủ đồn điền trồng mía phía  ga Gia Huỳnh đã đến nhắc Mỹ Phụng hãy cho anh em ăn mía. thả dàn, nhưng xin  đừng nhổ cả thân mía lên...; những ruộng trồng rau muống dưới chân núi Đốt xã Túc Trưng vẫn nguyên vẹn từ màu xanh ngả sang màu vàng bên cạnh những lều poncho của lính ...qua  cả một tháng đóng quân trong vùng; vườn trái ớt của người dân miền  Phú Chánh chín rụng dần trước sự thèm nhạt mà thờ ơ của lính...

Chiếc cầu  La Ngà lạnh tanh. Bến xe đò xưa  vắng ngắt.  Hàng quán chơ vơ vắng bóng người. Đậy là hình ảnh vườn không nhà trống những năm về trước khi lính Tây Lê dương tràn đến. Bây giờ là khung cảnh khi Cộng quân đe dọa kéo về.  Bất cứ nơi nào, hễ Cộng quân mò đến,. là người  dân chạy đi, trừ những vùng quá xa xôi nơi quân ta mất kiểm soát do  nội dung mập mờ của Hiệp định Ba Lê, và do hoàn cảnh người dân phải bám lấy ruộng đất  để sống còn.

Từ màn đêm quạnh hiu về hướng cao nguyên Đà Lạt, Lâm đồng…phòng không đối phương phóng chiếu lên những chùm ánh sáng đan chéo nhau giữa nền trời đen thẳm. Trên những điểm cao bên Quốc lộ 20, người lính gác giặc  nhìn  thấy từng vệt sáng dài những đoàn xe  chuyển quân địch dồn xuống phía nam, đền Phương Lâm đổi sang hướng đông về vùng Bảo Chánh, vây ép Xuân lộc.

Cộng quân bắt đầu đánh thăm dò vị trí Đại đội 2 Nguyễn Trọng Thuật trong khuôn khổ Tiểu đoàn 3/52.  Thuật có biệt tài về phòng thủ mìn bẫy; do đó, sáng hôm sau toán lục soát tìm thấy bông băng  trắng xóa, những vũng máu bên hàng cây cao su, tóm được bốn con chó trận loại Phú Quốc vướng mìn nằm lại ngoài tuyến.  Mấy  cậu lính của  Thuật ra chợ  Túc Trưng mua củ sả, củ riềng, lá mơ, hành  tỏi, mắm  tôm, húng  lìu, đâu phọng, khế chua, bánh tráng, bún mì, không quên rinh về mấy bi-đông đầy ắp… nước-mắt-quê-hương…

Dốc Mơ, Gia Kiệm, Túc Trưng…đổ xuống Hố Nai…trở nên sầm uất trù phú sau 20 năm có mặt của đồng bào  Miền Bắc di cư. Thế  mà nay, lính cụ Hồ xanh xao vàng vọt từ   Bắc phương nghèo túng, lại đang lò mò bò tới quanh quất trong những rừng cây trái bạt ngàn Miền  Đông

Sức vây ép của đối phương cân nặng thêm lên từng ngày.  Chiến đoàn 52 được lệnh rời Túc Trưng  lui về phòng thủ tuyến Ngã ba Dầu Giây  lên khu vực ấp Nguyễn Thái Học trên QL 20 cách Xuân Lộc 12 cây số về hướng đông theo đường chim bay. Đó là ngày mùng năm tháng Tư 1975. Thiết đoàn 5 rời  khu vực trung đoàn 52, vô tăng cường cho Xuân lộc .

Lực lượng Trung đoàn 52 còn lại trấn giữ  chiến tuyến sau cùng của  VNCH  bị hạn chế tối thiểu  trước một  khu vực hành quân tối đa  chống lại  đối phương ,--thật ra,  có ai đó bên mình – ông vua -- đã mở cửa  đập cho hồng thủy tràn ngập khu  nhà mình.  Thành phần trang bị của người lính lưu động tháng ngày  thì  súng là vợ đạn là con, một cái xẻng bất ly thân, tấm  áo poncho đa dụng nhiều khi da ngựa bọc thây.   Đơn vị thường xuyên dã trại nơi  rừng cây, đồi núi.  Lính vội vã đào một hố cá nhân; nếu đóng quân nhiều ngày thì khơi hố thêm sâu, làm  thêm nắp chống đạn pháo,  nối giao thông hào, gài mìn claymore, chỉ cò bấy nhiêu thứ,  không kẽm gai, chẳng rào tre…và sẵn sàng chờ địch. Bất ngờ có lệnh di chuyển, lính chỉ cần 10 phút  cuốn poncho, gỡ mìn, lấp hố  cá nhân…rồi …đường trường xa…thiếu tá…không cho nhảy dù  – lính hát tếu – đi chưa biết  đến đâu là bờ là bụi, chiều nay.

Đồi Móng Ngựa

Ban chỉ huy Tiểu đoàn  3/52 lện Đồi Móng Ngưa vào giờ trưa ngày 5 tháng Tư 1975. Trông từ xa, ngọn đồi mang hình dáng một con tàu kếch xù nổi lên giữa biển xanh cây trái Miền Đông, bảy cây số  về hướng bắc  Dầu Giây. Đó là khu đất đá, cao khỏng 200 mét, chiều dài chừng 800 mét theo đường đỉnh. Khi đóng quân, mới thấy nó giống y chang một cái vành móng ngựa khoác trên mình một lớp  cây  trái thảo mộc gồm chuối, mít, và cây hoang. Lòng chảo khu đồi hướng về ngọn Núi Ma phía đông trên  đường rừng về Xuân Lôc.  Lưng  đồi thẳng đứng quay ra Quốc lộ 20 sang ngọn Xóc Lu sừng sững trên nền trời.  Nếu xem Đồi Móng Ngưa là cái đầu con đại bang, thì Xóc Lu  phía tây và Núi Ma phía  đông, đối xứng nhau như đôi cánh đại bàng soải ra trên năm cây số ngàn.

Vừa đặt chân vô vùng, mấy trăm lính chiến đã hòa mình biến dạng vào rừng cây trái, biệt tăm biệt tích; họ chỉ còn là những mũi tên, dấu xanh đậm trên bản đồ  chạy lên  khu chợ Bình lộc, Dốc Mơ hướng bắc.

Từng  đoàn dân chúng tiếp tục chạy loạn  từ những vùng Phương Lâm,Túc Trưng…của ngày hôm qua.  Họ chỉ biết trả lời,” Cộng sản đông lắm, toàn dân Bắc kỳ nói ngọng,  nhiều chú bé chỉ chửng mười lăm, mười sáu tuổi, súng ống kềnh càng...”

Nằm đu đưa trên chiếc võng cột vô hai cây mít trên Đồi Móng Ngựa, bên cạnh ban truyền tin, Mỹ Phụng áp sát chiếc Sanyo ba băng bên tai nghe chương trình Dạ Lan,  chuyển  sang thăm dò mấy đài ngoại quốc, nghe ngóng sự đời.  Bọn này đã đổi giọng, tận tình đề cao mách nước cho quân  Cộng sản,  lại  chúc dữ quân dân Miền Nam mà mới đây chúng còn vinh danh là đồng minh  của “ thế giới tự do.”

Dưới xa vế hướng đông, nhìn qua sườn trái Núi Ma, thị xã Xuân Lộc thiêm thiếp mệt mỏi qua đêm mùng tám tháng Tư, lâu lâu giật mình trong ánh hỏa tiễn và đại pháo địch gõ mõ cầm canh. Nhưng ngày chín tháng Tư bắt đầu rất sớm. Từ lúc năm giờ sáng, bỗng chốc cả một tấm áo lửa bao la choàng phủ lên Xuân Lộc, hừng hực chói lòa; tiếp theo đó toàn bộ Xuân Lộc như vỡ tung ra ầm vang một góc trời. Trận chiến Xuân Lộc bắt đầu.

Cùng lúc. địch mở cuộc cường tập vô Tiểu đoàn 1/.52 – Thiếu tá Cam Phú--  tại ngã ba Dầu Giây.   Đây là cơ sở  một đồn điền cao su, rất dễ nhận  trên bản đồ đối với trinh sát viên pháo địch.  Họ  muốn chiếm Dầu Giây nhằm khóa trục giao thông vô Xuân Lộc và Trung đoàn 52 tại ấp Nguyễn Thái Học, Đồi Móng Ngựa.   Quả thật, qua suốt cuộc chiến bên sườn tây Xuân lộc, Trung đoàn 52 trừ (-) không hề nhận được một lực lượng tiếp viện nào từ hướng Biên Hòa, ngoại trừ Không Quân và Pháo binh  bạn có mặt từng giờ. 

Nhìn xem phóng đồ trận liệt, người ta sẽ thấy chiến trường Xuân Lộc chia làm hai khối. Khối chủ lực  tại  thị xã Xuân lộc, gồm:

- Bộ Tư lệnh sư đoàn 18;
- Hai Trung đoàn 43 và 48 cơ hữu;
- Các tiểu đoàn Pháo binh và Tiểu đoàn Công binh trực thuộc;
- Thiết đoàn 5 (-)  ( Trung tá Nô);
- Tiểu đoàn 82 BĐQ trừ (-)  (Thiếu tá Vương Mộng Long),  từ  cao nguyên di tản, sát nhập;
- Các đơn vị địa phương Long Khánh.
- Lữ đoàn 1 Nhảy Dù ( Đại tá Nguyễn văn Đỉnh,  )  tăng cường hành quân vào ngày 12.04.1975, ba  ngày sau khi Cộng quân đã mở cuộc tấn công Xuân Lộc.

(Tất cả  lực lượng bạn chỉ có thế, trải rộng mong manh trên một khu vực phòng thủ thênh thang từ núi Chứa Chan, Gia Rai phía đông, chống trả trước sức tiến công của Quân đoàn IV CSBV gồm ba Sư đoàn 6, 7, 341 và Sư đoàn 325 trừ bị,  cùng một lực lượng yểm trợ hùng hậu gồm một sư đoàn  Pháo binh, một sư đoàn  Xe Tăng,  Lữ đoàn Phòng không, và Đặc công – Tương quan lực lượng giũa địch và ta là: 5/1 ---.Tưởng cũng nên nhắc lại,  qua  trận chiến Xuân Lộc, 37 chiến xa địch bị đốt cháy tại chổ, chừng 5,000 “ cán binh” bị bắn hạ. Có  lúc hai bên tạm ngưng chiến để  bên địch tản thương, và bên ta dùng xe ủi đất  vùi lấp những tử sĩ giùm cho bên đối chiến). 

Khối thứ hai,  là khu vực phòng thủ sườn tây Xuân lộc, do  Trung đoàn 52 đảm trách,  có  nhiệm vụ  ngăn chặn khối  lượng  địch quân từ  cao nguyên sẵn đà tràn  xuống.  Thực lực Trung đoàn 52 tính tới sang ngày mùng chín tháng Tư , chỉ có khiêm tốn như sau : 

- Tiểu đoàn  1/52  (Thiếu tá  Cam Phú)  đang giao tranh  với Trung đoàn 33 Đồng Nai địch tại Ngã ba Dầu Giây; 
- Tiểu đoàn 2/52 ( Huỳnh Văn Út) đóng chung với  vị trí Trung đoàn, sẽ vô tăng viện XuânLộc; 
- Tiểu đoàn Pháo 182  tăng cường (Thiếu tá Phạm Thượng Khải và Nguyễn Thanh Trước); 
- Chi đoàn 3/5 Thiết giáp,   ( Đại úy Sơn); 
- Đại đội 52 Trinh sát ( Đại úy Mừng);
- Đại đội Quân y ( Y sĩ Trung úy Nam và Thiếu úy Sang);
- Một thành phần Công binh;
- Tiểu đoàn 3/52 ( Mỹ Phụng) đặt ban chỉ huy trên Đồi Móng Ngựa, tăng cường  một thành phần  TOW chống Tăng do Trung úy Nguyễn Hữu Minh. phụ trách; bốn đại đội chiến đấu tiếp  tục  hoạt động quanh vùng chạm tới khu chợ Bình lộc, Dốc Mơ, ba cây  số về hướng bắc.

Ngày 11.4.1975,   Tiều đoàn 2/52 được lệnh di chuyển vô tăng cường Trung đoàn 43 / 18 do Đại tá Lê Xuân Hiếu chỉ huy. Đại tá Hiếu với Trung đoàn 43, là người hùng chủ lực của Sư đoàn 18, và đã góp công  phần lớn trong chiến  thắng Xuân lộc.

Tương quan lực lượng giữa địch và Trung đoàn 52 (-)  là: 10 / 1.

Mang danh là Chiến đoàn 52 (Battle group), nay Trung đoàn 52 chỉ còn lại là một trung đoàn  trừ  (-) với một quân số tham chiến xuống rất thấp,  trước một trách  nhiệm vượt sức mình, đối diện  với Sư đoàn 341 ngay trước mặt và Sư  đoàn 325 bên hông trái, được tăng, pháo tối đa trực tiếp  yểm trợ---( Sử gia Jay Veith, trong Fighting is An Art  về  chiến thắng Xuân Lộc, có nhận xét về  cách phối trí lực lượng một cách chênh lệch  này).

Tiểu đoàn 2/52 ( Đại úy Huỳnh văn Út) , trên đường hành quân vô Xuân lộc vòng theo chân phía đông Núi Ma,  đã chạm địch rất  nặng tại ấp Suối Tre gần Cua Con Heo, bắn hạ 7 xe vận tải
Molotova, diệt tại chỗ gần trăm sinh mạng  địch, tịch thu cao xạ 37,  đại liên phòng không,  cùng một đống vũ khí đủ loại.  Tướng Lê Minh Đảo  được tin, khen ngợi Tiểu đoàn 2/52 cùng Đại úy Út, ông nói,” Chúng ta không cần thu nhiều vũ khí địch làm chi, hủy diêt súng đi; điều cần thiết là tiêu diệt tối đa sinh linh địch.”

Kể từ ngày 11 tháng Tư 1975, Tiểu đoàn 3/52 trở thành đơn vị  chủ lực của Trung đoàn 52 (-).Mỹ  Phụng  để lại  đại đội   Nguyễn Thanh Trường và bộ phận TOW trên Đồi  Móng  Ngưa, và 
dẫn  Tiều đoàn (-) xuống vị trí trung đoàn tại ấp Nguyễn Thái Học, một cơ sở  điều hành của đồn điền cao su ngày trước.

Vào lúc nửa đêm 11 tháng Tư, 1975,  tổ phục kích mìn Claymore của Trường về phía đông Đồi Móng Ngựa, hạ sát 17 Cộng quân, trong đó 4 cán bộ cao cấp, tịch thu 4 bản đố pictomaps
Trung cộng rất đẹp, 4 địa bàn Trung cộng tinh xảo, và đặc biệt một công vụ lệnh ghi : “ Đoàn nghiên cứu quân sự đặc biệt  301 – Nay cấp cho bốn đồng chí ( lâu ngày quên tên)  lên đường nghiên cứu thực địa chiến trường Thủ Biên Xuân Lộc.  --  Ngày lên đường: 2 tháng Tư 1975. Ngày chấm dứt nhiệm vụ: 30 tháng Tư 1975.”---Mỹ Phụng tỏ ý nghi ngờ về  cái “ ngày chấm dứt nhiệm vụ 30.4.1975” thì Đại tá Dũng phán, “Anh  chúa là hay mơ mộng, suy nghĩ vẩn vơ, chỉ làm thơ...tán gái (?).

Tình hình chiến sự khu vực Trung đoàn  52 (-) vào ngày 13.tháng Tư  1975 ghi nhận  như sau: Tiểu đoàn 1/52 đã kiệt sức sau bốn  ngày quần thảo với Trung đoàn 33 Đồng Nai..  Hơn 200 chiến hữu đã hy sinh trên từng thước vuông, từng gốc cao su vùng đất Dầu Giây, chứng tỏ sức chiến đấu  hy sinh của quân sĩ ta mãnh liệt  như thế nào.  Đại tá Dũng cử  Đại úy Hà Văn Cho, tiểu đoàn phó 3/52, hướng dẩn hai đại đội 2 Nguyễn Trọng Thuật và đại đội 3 Đặng  hữu Lê  hành quân  đêm, bắt tay  đưa 1/52 còn lại về vị trí trung đoàn.  Vào lúc 2 giờ  sáng 14.4.1975, Đại tá Dũng mở chai champagne đón Cam Phú, Hà Văn Cho, và chiến binh còn lại, trở về tuyến bạn an toàn.

Cũng từ đêm 13.04.1975, ngã ba Dầu Giây lọt vô tay địch, không bao giờ chiếm lại được qua trận chiến  Xuân lộc, bởi  không có một lực lượng bạn nào tiếp viện. Lý do thật  là  khó hiểu. Với quân số bộ binh khả dụng  nay xuống thấp còn chừng 800  tay súng,  phòng thủ dã chiến, Trung đoàn 52 (-)  bắt đầu chịu cảnh bất lợi trước quân số áp đảo, và những địa hình vây quanh đã hoàn toàn lọt vô tay đối phương. 

Ngày 14.04.1975, Tướng Lê Minh Đảo chuyển xuống trung đoàn một công điện của đối phương, viết : “ Tụi Ngụy Dù và Sư 18 ra sức chống đỡ Xuân lộc,  ngăn cản quân ta thi hành  phương án đúng hạn kỳ.”  Mỹ Phụng  chẳng phải là “ dân tình báo,” lại thêm một lần tỏ ý nghi ngờ về cái “ thi hành phương án đúng hạn kỳ” của bên địch, dường như trùng hợp vói  “ Ngày chấm dứt nhiệm vụ  30 tháng Tư năm 1975” trên Công lệnh của đoàn 301 tức QĐ IV đối phương. Vì đâu, Cộng sản Miền Bắc  đã có sẵn niềm tin về một ngày 30-4-1975 ?

Nhật Ký hành quân, 150500/04-75

Tác xạ chuẩn bị của địch đánh trúng liên tiếp vô triền Đồi Móng Ngựa vào lúc 5 giờ sáng ngày 15 tháng Tư 1975. Trận chiến khởi sự khỏa lấp hết đi âm thanh dàn nhạc chánh trong Xuân Lộc.

Trung Úy Nguyễn Thanh Trường có thói quen nói rất lẹ như Huyền Vũ tường thuật  túc cầu, nhưng mạch lạc rõ rang mỗi khi chạm địch. Trường cho biết sơn pháo địch đặt bên Núi Ma, không rõ bao nhiêu khẩu. Địch gia tăng hỏa lực trong 10 phút, và lệnh xung phong tức kỳ. Pháo bạn từ Núi Thị và vị trí trung đoàn phản xạ cấp thời.  Ánh hỏa châu làm chao nghiêng lay động khắp cảnh vật rừng cây, cũng nhờ đó đàn em Trường nhìn rõ màu chàm đen di động của lính cụ  Hồ.  Với quân số chừng 100 lính chiến, Trường đã giao 2/3 tay súng cho Thiếu úy Tốt bố trí theo lưng đồi để có tầm quan sát và tác xạ.   Tạc đạn và M.72 phân phối đều cho các công sự chiến đấu.  Không một người bộ đội cụ Hồ  nào xông lên được tới lưng đồi.

Thương binh địch bị bắt làm tù binh khai báo thuộc đại đội trinh sát Trung đoàn 95-B, Quân đoàn IV Bắc Việt.

Sau đợt xung phong đầu tiên thất bại, sơn pháo địch từ Núi Ma cùng pháo 130 từ hướng đông bắc nhất loạt áp đảo Đ M N,  rải xuống khắp vị trí trung đoàn dưới ấp Nguyễn Thái Học.  Màn khói đen đặc bao phủ quanh rừng cao su,  tỏa mờ  khắp mặt ấp, cũng từng là cơ sở điều hành của một đồn điền cao su.   Bên kia khu đất trống như một sân banh, những nòng súng đại bác thụt hậu, nháng lửa, nhưng không còn phát ra tiếng nổ, như trong một đoạn phim câm. Hai khẩu đại bác  105 trúng đạn, đen sì tựa  hai con voi lớn nằm lật nghiêng trong ụ đất.  Mặt sân  ngang dọc lổ chỗ vết đạn nổ trông như những luống khoai vừa mới  được cày sới lên. Cây  ăng-ten nhiều đoạn bên cạnh hầm Đại tá Dũng, bị trúng đạn nằm sõng soài, chưa được dựng lên…

Lúc 8 giờ sáng, pháo địch dồn dập, chuẩn  bị cho đợt xung phong kế tiếp. Trời sáng rõ, nắng ấm, khói đạn mờ mịt bay cao. Triền Đồi Móng Ngưa thưa thớt hơn sau nhiều đợt pháo.  Những sinh
mạng, chừng 100  tấm bia sống động đi lên, dồn tới, điếc không sợ súng.  Lính của Trường nhìn thấy rõ những cậu bé vừa đi lên vừa chữa đói,  có cậu gặm một khúc mía dở, cậu thì nhai vội vã một trái cây… không cần biết  đây là  biên giới của sống và chết, thản nhiên như trong một bài tập trận giả tại một trung tâm huấn luyện nào đó.  Lính của Trường không thể  làm gì khác hơn là nhắm bắn những  tấm bia  trên xạ trường.  Lính bằn từng phát một, chính xác, tiết kiệm đạn dược.   Lính không lấy làm lạ, qua nhiều cuộc đụng độ, bắt được nhiều tù binh Miền Bắc mới lớn, ốm yếu xanh xao; họ khai báo chỉ được tập bắn khoảng mươi viên đạn, rồi bị đưa  ra mặt trận, đi B, tức là Miền Nam.

Nếu so sánh, thì  “ lính cụ  Hồ “ không đồng cân đồng sức vói lính sư đoàn, lính  của Trường.Nhưng họ có núi rừng che chở. có  Lào Quốc và Cambốt  ẩn náu dưỡng quân, có cái mù mờ của Hiệp định Ba lê 1973 bao che. Lính Miền Nam không ra đánh Miền Bắc, chỉ  chăm lo gìn giữ nhà  mình, nên tự nhiên mất đi quyền chủ động, là một yếu tố tất yếu của chiến tranh.

Sau hai đợt xung phong tan vỡ, cái loa bên địch trơ trẽn lên tiếng dụ hàng. Một giọng Bắc Kỳ léo nhéo nghe tiếng được tiếng chăng. Đây là khoảng trống thời gian để họ gom quân, tổ chức tấn công tiếp.  Trên đồi, Trường cho săn sóc thương binh,  điều chỉnh lại  các ổ kháng cự,  bởi quân số không còn đầy đủ  để dàn mỏng trên một tuyến dài theo sườn đồi.

Dưới ấp Nguyễn Thái Học, Thiếu úy Mai Mạnh Liêu đã sẵn sàng.  Lính Đại đội 4 cuốn lều, nhưng vẫn tiếp tục giữ tuyến chờ bạn thay thế.  Theo thói quen …nghề nghiệp, Liêu soát lại mấy thứ lỉnh kỉnh không có không xong : sổ ám danh đàm thoại, địa bàn, tấm bản đồ, băng cấp cứu, mấy bao thuốc lá Quân Tiếp vụ, một bi-đông ba-xi-đế đầy ắp, nói là để chống sốt rét rừng. (?)

Mấy tiệm chạp phô, quán nước, tiệm phở…nay đã  đóng cửa.  Nhưng lính cũng đã mua được chút rau quả phòng hờ.  Người dân bỏ đi chạy loạn theo đường ruộng về phía Bàu Cát từ ngày đầu Cộng quân tấn công Dầu Giây.  Sáng hôm ra đi, cô chủ quán gượng cười nói với Mỹ Phụng , “ Cái bàn bi-a em để nguyên, các anh trông giùm em; còn vài két la de, các anh cứ tự  nhiên dùng hết 
đi.”   Mỹ Phụng biếu cô em một chút tiền …lấy hên, ép cô ấy phải nhận.

Gần chín giờ, Tiểu đoàn phó Hà Văn Cho và Liêu mở đường lên tăng cường cho Trường, đồng thời mang thêm đạn dược và mấy thùng nước suối.  Hà Văn Cho lên đồi, tinh thần lính lên theo, dễ hiểu bởi Cho từng coi Trinh sát nổi tiếng của Sư đoàn, tác giả cuộc tái chiếm Đồi  Gió trong trận chiến An lộc  1972. 

Thiếu úy Nghĩa đại đội phó cho Liêu đi đầu, chiếm giữ tuyến của Trường, nơi chịu nhiều tổn thất  hơn hết.  Nghĩa tiếp  tục giữ tuyến ngoài cùng, trong khi Liêu theo dõi  tình hình phi pháo ( Liêu cũng là chuyên viên hướng dẫn hỏa lực  phi pháo).   Thương binh được trao về trạm xá, một căn nhả gạch nằm giữa ấp, cũng đã  trúng đạn pháo địch. Trận chiến rối bời, không hiểu hai  ông y sĩ Nam và Sang  xoay trở như thế nào…

Đường  giao thông liên lạc, tản thương, tiếp tế  từ ĐMN xuống trung đoàn do Thiếu úy Trần Đình Cảnh và trung đội Xì Ke (Xung kích) của anh đảm nhận. Chừng 15 loài chim đi biển - lao công đào binh - bàn giao cho Cảnh tùy nghi. Tuyến phòng thủ quanh ấp vẫn là tình trạng dã chiến tạm thời,-- những hố cá nhân trần trụi, không bờ lũy, không chướng ngại vật, mỗi giờ mỗi thưa mỏng hẳn  đi.

Trên đồi, theo hướng dẫn của Hà Văn Cho, trực thăng vòng qua phía  đông đánh phá Núi Ma. Sơn pháo địch phải câm miệng sau mấy giờ   hoành hành, được vô sự trước Pháo binh bạn, là  nhờ được góc núi che chở. Về hướng tây, phản lực F.5 biến ngọn Xóc Lu thành một cột khói cao ngất, kèm theo nhiều tiếng nổ phụ. Buổi sáng nắng ấm chuyển sang thành một buổi sáng có nhiều  sương mù.  Mai Mạnh Liêu yêu cầu đánh bom trên một khối đông hàng trăm bộ đội cụ Hồ,  từ Quốc Lộ 20  tràn vô, không rõ vì khinh xuất hay non kém về chiến thuật,  họ  bu lại lố nhố ven rừng cao su.  Xác  người và  xác cây tung lên cao thấy rõ trong tầm nhìn.

Tiếng loa  ì xèo re ré giọng Bắc Kỳ ngưng lại từ lúc nào không hay.  Hồi 10 giờ, pháo địch như lên cơn điên đổ sập xuống  ĐMN, tràn xuống ấp. Tức thì hàng mấy trăm sinh linh đồng loạt bật dậy. Từ nhũng thân cây gục đổ, sau những cây chuối xác xơ dưới kia, địch xông lên. Có tiếng kèn xung phong dục dã.   Cả một tiểu đoàn địch di chuyển tác xạ . Họ phân chia ra, bám lấy hai đầu ĐMN nhằm phân tán hòa lực, sức kháng cự của quân  ta.

Nơi bộ chỉ huy trung đoàn, Đại tá Ngô Kỳ Dũng có lẽ là người bận rộn nhứt Miền Đông ngày hôm nay. Những chiếc bút mỡ xanh đỏ trong tay ông mòn dần.  Ông ta rít Dun Hill  như điên; khói thuốc tràn đặc căn hầm.  Tiếng ông vốn khàn đục nghe càng nặng trình trịch khi liên lạc không ngừng vói phi pháo, với các cánh quân, và với Tướng Lê Minh Đảo trong Xuân Lộc. Hai thầy  trò vốn xuất thân  Đà Lạt,  lại từng nhiều năm làm quen với các Trung tâm hành quân, cùng quen nghề làm quan  tỉnh,  quan quận...nên tỏ ra ăn ý trong kế  điều binh phối hộp, và giữa tình thầy trò xưa...  Mỹ Phụng nhiều phen thầm phục cách vẽ phóng đồ,  chấm độ từ  những ngón tay búp chuối của ông như một họa công tài ba hết biết.  Bằng chiếc máy truyền tin Trung Cộng, và nhờ những nhân viên đội Kỹ Thuật điện tữ bên cạnh, ông theo dõi rất sát tình hình địch.

Lúc đó là một giờ xế trưa. Một giọng nói đặc sệt Quảng Bình từ chiếc máy Trung Cộng:

- Cự nọi   ( Cứ nói ).

E-trưởng 95-B sốt ruột nghe “dưới” báo cáo:

- Bá…bá…báo…cááo! 

- Đ ụ  m ạ !  Khận trượng lện, nọi đị  ( ĐM. khẩn trương lên, nói đi ).

- Bá bábá áo cááo !  Tôi nghĩ  địch là  B ( trung đội) nên cho toàn C trinh sát  đánh.  Nào ngờ chúng là một C ( đại đội Trường)…Tôi đánh tiếp bằng hai C, lính không lên được ; tôi  đánh cấp  D 
( tiểu đoàn)...thì chúng lại là một D ( ta thêm đại đội Liêu). Bây giớ tôi khó khăn...

-- Đ ụ   m ạ...mận ặn cại chị rựa. mi...mị... ( mần  ăn cái chi rứa).

Tinh thần đang căng thẳng mệt mỏi theo dõi trận đánh bên Đại tá  Dũng, viên trung sĩ đội Kỹ Thuật cũng không khỏi phì  cười.  Lão  E trưởng  Cộng sản  Bắc kỳ cũng “ đ.m.” ngon lành chẳng khác chi  Đại tá Dũng nhà mình. 

-- Đ.M.! Nghe đây!  Những thằng bị thương nặng, không cần, dục bỏ ! Anh gom những thằng bị thương nhẹ lại, tui sẽ cho anh thêm một D nữa, tụi sẹ ...

Trung sĩ Ban Kỹ Thuật từng đi theo trung đoàn qua bao vùng chiến trận, đã bao lần cấp thời giải mã những báo cáo, chỉ thị, hay nghe bắt những giọng nói Bắc kỳ léo nhéo chỉnh pháo vô căn cứ  Bình Cơ,  hay Rạch Bắp, Bình Chuẩn…, nhưng anh không thể ngờ Cộng quân lại có thể  dã man tàn tệ với thương binh của họ như thế.   Biết bao lần, quân ta đã gom góp những thương binh  đối phương sau trận đánh, và săn sóc họ chu đáo chẳng khác  gì  như lính bên  mình.

Về chiều, pháo địch càng gia tăng nóng nảy dữ dằn . Căn hầm khá vững  của Đại tá Dũng bị đánh sập.  Cuối sân, hai chiếc thiết giáp M.41 bốc khói ngùn ngụt.  Ông Dũng thoát ra khỏi hầm an toàn, lem luốc, chạy sang ban chỉ huy Tiểu đoàn 3 gần thung lũng.  Cây ăng-ten bên hầm Đại tá Dũng lại bị đánh gẫy, nằm gục ven sân. Bên kia sân, Thiếu tá Thanh Trước toàn thân đen đúa vì khói đạn, tiếp tục điều khiển tác xạ; những khẩu đại bác nháng lửa nghe ì ấm như từ đâu vọng lại. 

Mỹ Phụng đi vòng quanh tuyến trở về khi ông Dũng vừa tới.  Căn nhà ngói dùng làm ban chỉ  huy tiểu đoàn bỗng thấy sáng trưng dưới hai mảng trống trên nóc do pháo gây ra  không  biết từ  lúc nào. Ban tuyền tin của Trung sĩ nhứt Anh được an toàn thật là một sự lạ. Trung úy  Hưng Ban Ba, đang liên  lạc vói Hà Văn  Cho trên đồi.  Ông Dũng giật lấy ống nghe. 

Trên Đồi Móng Ngưa, Mai Mạnh Liêu yêu cầu đánh pháo trên nhũng hàng quân địch  đi như diễn hành ngoài Quốc lộ 20, hướng về khu vực trung đoàn.  Một cánh quân địch khác rất  đông  di chuyển  theo đường rừng, đổi hướng về khu Bàu Cát phía Biên  Hòa.  Mười phút  trước, Mỹ Phụng dùng ống nhòm theo dõi mốt số địch từ thung lũng , lên dốc, đi  về hướng Dầu  Giây.  Địch tiếp tục vây ép khu vực trung đoàn, đồng thời bôn tập về hướng Biên Hòa, về thủ đô Saigon...,  cho đúng hạn kỳ ?

Pháo binh bạn từ Núi Thị  nổ chụp  trên những đội hình đối phươngtrên QL 20.  Họ giãn ra hai  bên đường trong chốc lát, rồi  tụ lại như đám bèo  trôi, làm ngơ trước cảnh các thương binh  ngã  gục ven đường.  Quân địch dường như phải cướp thời gian do mục đích yêu cầu chiến  trận:  thi hành phương án đúng hạn kỳ ( thương binh sẽ có hậu cần lo sau…).

Liêu cho biết, một toán chỉ huy địch chạy vô căn  nhà ngói gần đầu ấp. Căn nhà trúng đạn,  bị sập, không thấy những tên mang máy truyền tin thoát ra nữa.  Trong một thoáng giây,  Mỹ Phụng nhớ về cô chủ quán có chiếc bàn bi-a và những két la-de để lại, ”Các anh cứ dùng tự nhiên, nhớ giữ nhà giùm em.”  Một chút buồn nhớ, chen  môt thoáng vui, mừng cho cô gái  thoát nạn  trong mùa binh đao. 

Trọn ngày 15 tháng Tư năm 1975, Đồi Móng Ngựa và vị trí ấp Nguyễn Thái Học chịu pháo địch 12 giờ liên tiếp, và liên tục đẩy lui những đợt  xung phong của  một trung đoàn địch. Đó là tập hợp của  đủ thành phần tác chiến, từ một đại  đội trinh sát tinh nhuệ, đến một tiểu đoàn lính thiếu niên  từ Miền Bắc mới vô, đến sự gom góp vá víu của toàn Trung đoàn 95-B điêu đứng dưới phi pháo bạn, và trước sức giáng trả chính xác của các đàn em, của Hà Văn Cho, Nguyễn ThanhTrường,  Mai Mạnh Liêu, Nghĩa, Tốt, của Cảnh... 

Những người lính  Quân lực VNCH  chẳng khi nào biểu lộ một lòng căm thù vói ai, họ canh  giữ  phần đất nhà mình,  làm nhiệm vụ bảo vể  đồng bào, những đồng bào luôn luôn chạy về  với  họ qua những miền trận mạc do “ lính cụ Hồ” mang tới.  Sự thật  hiển nhiên là như thế. Người lính Miền Nam bảo vệ căn nhà, vườn ruộng của đồng bào mình, không một lần ra gây chiến với Miền Bắc...

Ngọn đồi xanh mát đã biến thành một ngọn đồi trống trơn, Rừng cấy trái xum  xuê  trở thành một cánh đồng quang đãng. Thân cây trộn với xác người chồng chất lên nhau, đen ngòm hàng nọ tiếp nối hàng kia. Cùng vói nhịp độ chuyển quân ngoài quốc lộ, trung đoàn trưởng “ Đù Mạ” phóng tay,  lùa tiếp 1/3 quân số thiếu niên còn lại vô vùng tử địa.

Trung úy Nguyễn Thanh Trường có thói quen nói lẹ như Huyền Vũ tường thuật túc cầu. Trường xin pháo nổ cao trên làn sóng địch  đang chập choạng đi lên.  Trường xin pháo sẵn sàng nổ chụp ngay trên đồi, khi Trường yêu cầu... nếu tình hình trở nên cấp thiết.

Vào lúc 5 giờ 30 chiều, nghe tiếng Mai Mạnh Liêu đứt đoạn trong  máy: 

- Chung quanh chúng tôi chẳng còn gì; sườn đồi ngập xác địch và cây cối, rừng đã tan  hoang, ngọn đồi như đã  thay đổi độ giốc.

Những người lính trẻ Miền Nam thuộc Tiểu đoàn 3/52 Sư đoàn 18, được phi pháo bạn tận tâm  tiếp sức, đả giáng trả  Cộng quân  miền Bắc  một trận để đời nơi tọa đô cô đơn đó, - Đồi Móng Ngựa - làm tan rã Trung đoàn 95-B thuộc Quân đoàn IV Bắc Việt, nhưng đã chiến thắng âm thầm khi vận  nước nổi trôi. 

* * *

Lời cuối.  Ngày 20 tháng Tư 1975, Tổng thống Thiệu ra lệnh rút bò Xuân Lộc, như ông đã từng cho  rút bò hai vùng cao nguyên và giới tuyến trong tháng trước. Xong xuôi đâu  đó, ông Thiệu từ chức vào chiều tối ngày hôm sau, 21 tháng Tư, và cùng gia quyến thượng lộ bình an trước sự đưa tiễn ân cần của Đại sứ Hoa Kỳ và hai tướng Tình báo CIA. 

  •  Ý-Yên - Phan Tấn Mỹ. 
(Tiếng Vọng Ngàn Thương -  Echo of Sacrifices). 
| Trang bìa NSVN Online |
| Ðầu trang | Bình Luận | Tin Tức| Sáng Tác | Thơ Cho Quê Hương |