Hãy
cứ cho thêm, hãy còn cho mãi
Mai
ta đi nào kịp vẫy tay chào
Chuyến
đi Cali lần nầy, tôi hoàn toàn không dự tính trước. Đây
là lần thứ ba tôi đến Little Saigon, vùng đất được mệnh
danh là “Thủ đô của dân tị nạn Việt Nam”.
Trên
chuyến bay về hướng phi trường Los Angeles, tôi thực sự
lấy làm lạ sao mình có thể tới miền đất thuộc Hiệp
Chủng Quốc Hoa Kỳ nầy đến những ba lần. Nào phải tôi
“quyến luyến” gì người Mỹ đâu! Trái lại là khác.
Ba
mươi mốt năm về trước, ra khỏi địa ngục trần gian “cải
tạo”, làm “thuyền nhân” trôi dạt vào trại tị nạn
Galang (Nam Dương), tôi “được” một viên chức người
Mỹ trong phái đoàn Cao Ủy Tị Nạn (HCR) “phỏng vấn”,
nội dung như sau:
-Ông có làm Sở Mỹ không? Ông có thân
nhân bên Mỹ không?”
-Thưa không! Nhưng tôi có làm việc trong lãnh vực giáo dục
với người Mỹ. Và người Mỹ có “lâm trận” với tôi
và các đồng đội của tôi trên đất nước tôi, chống cộng
sản xâm lược miền Nam Việt Nam!
-Thế thì chúng tôi rất tiếc thông báo: ông không đủ tiêu
chuẩn đi định cư ở Mỹ!
-Thưa ông, ngoại trừ sự kính trọng của tôi đối
với vị đại diện chính quyền Hoa Kỳ, xin ông cho tôi được
nói thẳng thừng với ông rằng tôi không hề có ý định
xin định cư ở cái xứ “chết tiệt” của ông, sau khi các
ông bỏ rơi anh em chúng tôi cho CSBV “làm thịt”!
-Ấy chết! Xin ông bớt cơn thịnh nộ. Đây là chính
sách di dân của chính phủ đương nhiệm của chúng tôi.
Riêng cá nhân tôi và một số chiến hữu của tôi
đã phục vụ ở VN, chúng tôi rất cảm thông hoàn cảnh bi
thiết của dân miền Nam VN sau ngày 30 tháng 4 năm 1975; cũng
như chia sẻ niềm uất hận của ông đối với người Mỹ
chúng tôi…
Ấy
vậy mà tôi lại “hồ hởi” lên đường Cali du lần thứ
ba! Cái gì lôi kéo, thúc đẩy tôi đến chốn phồn hoa đô
thị, được “vinh danh” là “kinh đô sành ăn” (capitale
“gastronomique”) nầy? Chắc không hẳn chỉ vì thèm ăn…ngon
thôi đâu, dù tôi rõ biết dân thích ngon miệng từ những
vùng lân cận, cũng như từ các tiểu bang khác, cuối tuần
thường đổ xô về đây kiếm…ăn, gây tình trạng tắt nghẽn
lưu thông khá bực bội!
Mục
tiêu tiên khởi của tôi trong chuyến du hành lần nầy là ước
muốn gặp lại một số cựu đồng nghiệp đã từng cộng
tác với Trường Phục Hưng, đường Lê Ngô Cát (Sài Gòn),
nhằm động viên anh em tiếp sức khuếch trương Trang Nhà của
Trường, vừa mới hình thành được vài tháng, mà cho tới
nay mới chỉ có em cựu học sinh Trần Đức Diên
và tôi góp công sức gầy dựng. Em Phạm Văn Sinh, một
cựu học sinh khác -thổ địa vùng Cali- là người hăng say
nhứt đề nghị tôi lên đường “du thuyết”…Sinh tình
nguyện làm “cận vệ” đưa tôi “an toàn đi khắp Cali”
tái ngộ với các thầy và các trò. Nghe qua bùi tai, nức lòng
“ông đồ già kiêm lính yếu” biết mấy! “Thầy cứ
yên tâm!” Mọi thứ để em lo liệu! Thật không em?
Chờ xem…
Ngoài
mục tiêu tiên khởi, thiết nghĩ cũng đã tới lúc tôi gặp
lại anh em (sau 2 lần tới Cali vào năm 1994 và 2005), những
anh em một thời đã từng chia ngọt xẻ bùi, vào sanh ra tử
có nhau…Nhứt là để đến viếng đáp lễ và tạm trú nhà
Túy-Lê
-“Nữ-bá-tước-chân-trần”- người bạn lâu đời
từ Đà Lạt cách đây đã hơn 50 năm, thuở còn là sinh
viên, người bạn đã 3 lần bay sang viếng “căn nhà ngoại
ô” vùng “Rêu-Phong” (Pierrefonds), nơi khá lâu rồi tôi đã
gác kiếm rửa tay…tu chai dưỡng sức!
Chưa
kể cần đến Anaheim gặp thiện nguyện viên Nguyễn
Trọng Ngữ -đã có mối thâm giao với nhau từ 27 năm về
trước tại Xứ Tuyết Canada- nhằm xúc tiến việc thực hiện
hai tuyển tập Một Lần Toan Tính và Gối Rơm mà,
trước đó vài tháng, Ngữ đã đề nghị sẵn lòng in ấn
giúp tôi, trong lần tái ngộ sau một buổi họp Dòng Phan Sinh
Tại thế Vùng Montréal…
o-o-o
Lấy
xong hành lý, nhìn dáo dác chẳng thấy ai đến đón rước,
“nội tướng” Phước và tôi cảm thấy hơi lo…Lẽ
nào em cựu môn sinh yêu quí của tôi quên? May thay, tôi chợt
nhận ra một dáng dấp thân quen -với đôi kính râm khá đặc
biệt- đang thấp thoáng ngoài hành lang chờ đợi hành khách
xuống phi trường: Túy! Theo sau là Nguyễn Ngọc
Phát, cựu cộng sự viên của tôi ở Khu Học Chánh Vùng
III, trước 75. Chưa thấy Sinh đâu hết! Một lúc sau, thầy
trò bỡ ngỡ nhìn nhau giây lâu, hết nhận ra nhau sau gần 30
năm bặt tin, trước khi xúc động cùng choàng ôm, mừng mừng
tủi tủi…
Rất
tháo vác và nhanh nhẹn, Sinh tóm gọn hành lý cồng kềnh và…nhóm
người “có tuổi” chúng tôi vào chiếc Toyota SR5, luồn lách
qua đường phố đầy dẫy xe cộ lưu thông quanh phi trường,
tuôn ra freeway “vọt” đi như phóng hỏa tiễn! Ngồi cạnh
tài xế, tôi lên ruột từng cơn như đang chơi trò nhào lộn
trên xe lửa ngoằn ngoèo leo dốc tuột dốc ở Wonderland! Nói
chi tới Phước, Túy, Phát ở hàng ghế sau, mặt mũi
chắc đã xanh dờn, chẳng còn chút máu! Tôi có cảm tưởng
Sinh “lạn” chiếc 4 runners như lạn xe gắn máy Honda ở VN!
Xẹt qua xẹt lại, đổi lane lia chia, luồn qua, lách lại với
tốc độ trên trăm cây số/giờ mà chẳng hề cần giảm tốc
độ! Có lẽ Sinh muốn cho tôi “nếm thử thương đau” sơ
khởi kiểu lái xe skyriders hay cascadeurs mà Sinh sẽ biểu diễn
để “hộ tống” tôi “an toàn đi khắp Cali” trong những
ngày tới …chăng?
Nhờ
ơn Trời Phật, sau 90 phút chơi trò “đi dây tử thần” trên
“đại lộ kinh hoàng”, chúng tôi an toàn ghé bến Mì La
Cai “dùng thiệt tình” món mì cật heo trứ danh, do tài
xế “đu bay” Sinh “bồi dưỡng”, giúp các hành khách “lão
thành-thành lão” thu hồi “hồn phi phách tán” của mình
còn thất thểu ngoài Phờ-ri-ủ-ê! Hú vía! A Di Đà Phật!
Alléluia!
Có
thực mới “giựt” được đạo! Vui ăn chớ quên
hết nhiệm vụ, tôi đề nghị Sinh chụp ảnh chung để gởi
dần cho Diên chuẩn bị đưa lên Trang Nhà Phục Hưng, sau khi
Sinh đưa tôi đi gặp hai đồng nghiệp Nguyễn Xuân Hoàng
và Nguyễn Sỹ Thân ở San Jose. Nhưng Sinh dứt khoát từ
chối, “vì lý do an ninh nghề nghiệp” (?!). Sinh giải
thích nhưng cũng chẳng soi sáng thêm chút nào cho tầm hiểu
biết “chậm tiêu” của tôi! Thôi thì đành ngầm hiểu Sinh
có những lý do riêng rất chính đáng để không muốn “dung
nhan” mình xuất hiện trên báo, cho dù là báo điện tử hay
Web Phục Hưng. Khó khăn, trở ngại đã bắt đầu ló dạng
rồi đây! Quả nhiên!
Sau
khi đưa chúng tôi về nhà Túy, chuyện trò rất vui vẻ
(Sinh kể rất nhiều kỷ niệm xưa về trường Phục Hưng cho
mọi người thấy Sinh cũng như các cựu PH rất thương quí
tôi), Sinh “tiết lộ” không có thì giờ ngơi nghỉ, làm
việc bù đầu để cùng một nhóm bạn tạo dựng một công
ty đang trên đà phát triển…Trước mắt, ngày mai Sinh phải
bay cấp tốc lên Houston, TX…Thôi thì cũng đành ngầm hiểu
thêm điều nữa là…cố nhiên Sinh rất bận với công việc
đa đoan. Tội nghiệp em nó vất vả quá. Thông cảm, thông
cảm!
Rõ
ràng từ nay trở đi tôi phải tự xoay sở để tìm gặp đồng
nghiệp xưa và môn sinh cũ. Cũng như phải tự lo liệu chuyện
“an toàn đi khắp Cali”! Trước mắt, mọi di chuyển
trong phạm vi Orange County, cựu Thanh tra Phát sẽ giúp tôi, như
đã từng đưa tôi đi “thăm dân cho biết sự tình” khắp
Khu III Học Chánh trước đây! Phát cũng suýt soát thất thập
cổ lai hi rồi, cũng không mạnh khỏe gì cho lắm.
Quả
thật tôi vẫn còn may mắn có được những người bạn yêu
thương, bận tâm “chăm sóc”, hỗ trợ khi cần, những người
bạn trung kiên trong tình tương thân, tương ái -mà Phát là
một biểu tượng điển hình- lúc còn làm việc chung cũng
như lúc tôi ngồi tù “cải tạo”, ra tù, vượt trùng dương
tìm tự do, định cư và giờ đây, khi tôi chới với, hụt
hẫng nơi vùng đất không quen thuộc mà ngôn ngữ Shakespeare
là một trở ngại khá lớn cho con người đã quá quen sử
dụng ngôn ngữ Molière!
Vẫn
hay những lúc khó khăn, trắc trở mới nhận biết giá
trị nhân ái đích thực của một người bạn…
***
Chuyện
“nối vòng tay lớn” với các cựu Phục Hưng coi như bất
thành, vì thành viên năng nổ nhứt có thể tiếp tay hữu hiệu
cho tôi chu toàn “sứ mạng” lại bất khiển dụng “vì
lý do kỹ thuật” vào giờ chót, ngoài dự liệu! Bù lại,
liên tiếp bốn cuối tuần, Phát đưa tôi đến họp mặt tại
Café
Cali với anh em cựu giáo chức đã từng (cũng như chưa
từng) quen biết nhau từ lúc còn ở VN: Cựu “cấp trên”
của tất cả anh em đến họp mặt, TS Nguyễn Thanh Liêm,
nguyên
Thứ Trưởng Giáo Dục, các cựu Thanh tra Nguyễn Văn Ngàn,
Bùi Phong Quang, cựu Chánh Sở Học Chánh Bạc Liêu Huỳnh
Trung Nghĩa, cựu Phó Ty Giáo Dục Vĩnh Long
Đỗ Hữu Ngạn,
cựu Hiệu Trưởng Mạc Đỉnh Chi Sàigòn
Lý Di, cựu
GS Quốc Gia Nghĩa Tử Sàigòn Nguyễn Lộc Thọ, cựu GS
Petrus Ký Nguyễn Hồng Đảnh, cựu GS Petrus Ký, BS Nguyễn
Sơ Đông (đến từ Virginia), cựu GS Trường Sư Phạm, Viện
Đại Học Cần Thơ, Nguyễn Sanh Biên (đến từ Florida),v.v…quay
quần bên nhau, tay bắt mặt mừng, quen trước cũng choàng ôm
tôi, chưa quen cũng choàng ôm luôn, trước lạ sau quen mà! Thân
thiện y như lúc cùng làm việc ở các Hội đồng thi Tú tài,
trước 75. (Ngàn, Quang, Thọ, Đông là cựu đồng môn với
tôi ở Chasseloup-Laubat, tiền thân của Jean-Jacques Rousseau).
“Ấm lòng chiến sĩ” xiết bao, nơi xứ lạ quê người!
Số tôi vẫn còn đỏ!
Những
ngày không đi họp bạn, sinh hoạt thường nhật ở căn nhà
“tí hon” của Túy thật vui nhộn và ấm cúng. Những láng
giềng của Túy quá tốt bụng, lúc nào cũng sẵn sàng trợ
giúp cô bạn khả ái của tôi đang sống một mình trong căn
phố nằm trên đường Belfast -mà bạn bè tôi thường đặt
tên đùa là Con Đường Nổi Loạn, vì mang tên thủ đô
của Bắc Ái Nhĩ Lan- thuộc thành phố Garden Grove, các con của
Túy tứ tán khắp nơi, đứa Canada, đứa Mỹ, đứa còn ở
lại VN…
Sáng
sớm thức dậy, tôi lui cui xếp chiếc giường con mà ban đêm
tôi phải vất vả lôi ra từ căn buồng của gia chủ -cũng
rất nhỏ hẹp- mở ra, trải dài trong phòng khách ngả lưng
đi vào cõi mộng mơ. Phước ngơi nghỉ trên sofa kế cận,
Túy vào “chuồng” bé tí ti của mình. Tôi thường ngủ trễ
và khó ngủ nên được thưởng thức đều đặn tài nghệ
của hai nữ nhạc công: kèn trompette hòa tấu không ngưng nghỉ
với saxophone trong đêm thanh vắng! Nhờ vậy tôi lịm dần
trong “giấc ngủ cô đơn” về sáng. Có thể tôi cũng thổi
clarinette lúc nào mà không hay biết!
Điểm
tâm qua loa, “Quan Công (tôi) phò nhị tẩu” xuất
hành cuốc bộ để bảo trì sức khỏe cho còn có thể vui
vẻ họp bạn khá nhiều lần trong những ngày tới! Khu Túy
cư ngụ nhà cửa rất “dễ thương”, nhà nào cũng cỏ cây
hoa lá cành xum xuê, hầu hết cư dân là người Việt. Đẹp
nhất là giàn bông giấy đỏ thắm gần nhà thờ, tiếp giáp
khu chợ Đại Hàn. Quan Công và nhị tẩu thường ngồi bệt
trên lề đường, dưới giàn bông giấy rực rỡ đó, vừa
nghỉ chân vừa tránh nắng! Chạnh nhớ “…bất cứ thành
phố nào còn lưu lại trong ký ức chúng ta đều là thành-phố-mang-tên-em,
bất cứ con đường nào ta đã đi qua cũng đều là con-đường-xưa-em-đi…”
(*)
, tôi khe khẻ ngân nga:
con
đường mộng hoa xưa
vẫn
từng đôi từng lứa.
con
đường vào mộng mơ
con
đường mặn mà

Bộ
ba, sau đó dạo quanh các chợ Đại Hàn mua ít thực phẩm về
trổ tài “cordon bleu” nấu nướng “bồi dưỡng” -được
chút nào hay chút nấy- cho thân xác đã “hằn lên” dấu
ấn khó phai mờ của thời gian…
Trước
sân nhà Túy, thảm cỏ xanh mượt, tươi tắn, rất bắt mắt,
lôi cuốn hàng xóm đến ngả lưng phơi nắng trên băng ghế
xích đu độc nhất trong cả khu, hoặc trên băng ghế sắt
đối diện, thưởng thức cà phê buổi sáng, hay nhâm nhi bia
lạnh buổi chiều khi nắng còn le lói, chuyện trò bù khú,
cười đùa rôm rả. Thành, Đoàn Đệ, Ngọc
đi
làm về, cơm nước xong là tự động ra ngay điểm hẹn thường
nhật nầy với “Quan Công và nhị tẩu”! Nhà Thành sát nách
nhà Túy. Và Thành thường xuyên phụ giúp Túy bảo trì mọi
thứ trong nhà, chăm sóc cây kiểng mỹ miều đủ loại, điểm
tô sân trước và sân sau nhà. Hình ảnh quen thuộc với tôi
là vừa về tới nhà sau suốt một ngày quần quật với công
việc ở nhiệm sở, Thành vẫn hăm hở mở vòi nước…tưới
cây hơn cả tiếng đồng hồ! Thành rất vui tính, luôn sẵn
sàng giúp đỡ người chung quanh. Nhờ Thành, suốt thời gian
ở Cali Phước và tôi tham dự đầy đủ các Thánh lễ Misa.
Rõ ràng tôi vẫn còn may mắn được “quới nhơn phò hộ”!
***
Mới
đó mà đã một tuần trôi qua! Gần như Phát đều đặn đến
Con
Đường Nổi Loạn “phò” Quan Công và nhị tẩu
đi “bồi dưỡng” dài dài, hết phở gà, phở bò quá tuyệt,
tới croissant, pâté chaud, cà phê sữa đá “Coeur de Paris”
trứ danh, tới luôn cơm chay Bồ Đề trong khuôn viên
Little Saigon!
Trước
nguy cơ nếu không “phát ách” cũng phát phì tới nơi, Túy
đề nghị du ngoạn Sea Word ở San Diego. Để Phát ở nhà nghỉ
xả hơi, bộ ba chúng tôi qua Ramada Inn lấy vé đi Tour. Cuốc
bộ khắp khu đầy nghẹt du khách danh tiếng nầy, dưới cái
nắng nung nấu, cả ba mồ hôi vả như tắm, sụt ký thấy
rõ! Đã thế, tôi còn kiểu cọ tìm cảm giác mạnh (như chưa
đủ chữ với tài xế đu bay Sinh chăng?), lên tàu leo dốc,
đổ dốc…đứng tim chơi (chơi dại thiệt, tôi đã mổ tim
vì …nhồi máu cơ tim 16 năm trước đây), dù nhị tẩu hết
lời cản ngăn! Qua cơn sốt ruột chờ tôi xuống tàu, nhị
tẩu ôm bụng cười hăng hắc nhìn tôi mặt mày tái mét, lê
từng bước một, lảo đảo ôm ngực thở dốc, ngồi bệt
xuống nền xi măng sủng ướt, bên cạnh một thiếu nữ ngất
xỉu đang được cứu cấp! May là không bị heart attack. Già
mà còn ham!
Về
tới nơi lại…ăn! Châu, Kim Anh, Văn Đệ “lực sĩ
đẹp”, bạn của Túy rủ nhau đi ăn bún chả Hà Nội ở…
Cali! Cơ hội rất tốt và rất vui cho tôi được dịp trò
chuyện với Đệ, một cựu chiến hữu, cựu đồng tù
cải tạo và…cựu “kiến càng” (vì có thời tôi đến
rèn luyện cơ thể ở Phòng Tập Tự Do, Sàigòn). Xem ra hai
chúng tôi rất tương đắc. Quả nhiên: Đệ đã đọc đi đọc
lại nhiều lần hai tập truyện tôi tặng sau đó, và rất
nhiệt tình chia sẻ nhiều điều với tác giả mới tập tễnh
viết lách…
Lật
bật đã tới ngày sinh nhật của Túy. Cũng là một trong những
mục tiêu trong chuyến Cali du của chúng tôi: Lần đầu Túy
đến thăm, Phước đã đứng ra tổ chức mừng sinh nhật Túy
rất vui vẻ, với sự góp mặt của Hà và Thường, hai con
của Túy, định cư tại Canada...
Phước
đề nghị rời Pierrefonds sớm là để kịp thời góp mặt
chung vui mừng sinh nhật của Túy tại Cali. Có lẽ Túy
cũng rõ ý định của chúng tôi, nên lần nầy sinh nhật của
Túy được tổ chức hai ngày liên tiếp, cả hai lần đều
có Phát tham dự, với Thành và thân mẫu, Madame Quỳ
cùng Ngọc-Đệ. Một lần ở restaurant Cát, mà sáng sớm
hôm sau Thành và Phát phải thay phiên nhau cùng tôi tới trước
quán canh chừng, chờ nhân viên phục dịch mở cửa là xông
vào ngay tìm lại “hai bàn nạo” (prothèses dentaires) tôi đã
sơ ý tháo ra, rồi bỏ quên trên bàn tiệc, sợ đến trễ
họ dọn dẹp vứt vào thùng rác là mất toi hai ngàn đô! Đứng
từ 8.00 am tới 11.00 am, sưng vù cả hai bắp chuối! Một kỷ
niệm đẹp khiến tôi càng thêm cảm kích sự hết lòng “cứu
giúp” bạn của Thành và Phát…
Lần
thứ hai, BBQ trên thảm cỏ mượt xanh trước nhà Túy,
do Ngọc và Đoàn Đệ lo liệu mọi thứ; bà con chòm xóm thân
thương tham dự đông đủ, với sự góp mặt của một người
bạn Mỹ rất thích người Việt xóm nầy: Ron, tay bế
bồng cô bé Joy, một em Pékinoise rất xinh xắn…
Quả thật Túy được mọi người trong khu vực quí mến như
“cô
láng giềng khả ái”! Văn nghệ bỏ túi tiếp nối,
ra rít ra phết với dàn ca-ra-ô-kê tân kỳ -hiện tượng
phổ biến quá rộng rãi nơi nào có người Việt tị nạn
họp bạn!
***
Những
ngày kế tiếp tôi tìm mọi cách bắt liên lạc với bạn bè
đã quá lâu không gặp: Võ Trung Thứ (đang quá bận rộn
dọn nhà từ San Jose và Las Vegas về Santa Ana), Lê Hoàng Tông,
Lê Tấn Hội, Đặng Thanh Phong -những cựu đồng môn ở
Collège
de Vĩnh Long- và Nguyễn Văn Nhân, cựu phi công QLVNCH…
Hai
buổi họp mặt được Tông chủ trì tại căn phố dành
cho người cao niên rất khang trang, thông thoáng. Quí bà một
bàn gần bếp, quí ông một bàn ngoài salon, cho dễ dàng hát
bài “nam vô tửu như kỳ vô phong” mà không bị nhóm “yêu
nữ” (người nữ đáng yêu!) kia “đạp thắng” tới cháy
bố trên chưn cẳng quí tiên ông- ẩm sĩ, “nhắc chừng, cảnh
cáo”, gây khó khăn, cản trở! Bởi lý do kỹ thuật đó mà
Túy bị sung vào đội yêu nữ, Phát phải gia nhập cánh quân
tu…chai!
Thứ,
Tông và tôi, trước đây trong Ban Văn Nghệ Trình Diễn của
Collège de Vĩnh Long. Bộ ba nầy thường gặp nhau sau khi rời
trường mẹ, trước và sau 30.4.1975: Thứ và tôi, do căn duyên
chăng, thường phục vụ cùng đơn vị (Sư đoàn 5 BB, Bộ Quốc
Phòng, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, v.v…). Tông và tôi thường
xuyên duy trì liên lạc, khi còn ở quê nhà cũng khi xa lìa quê
hương. Hội thì từ lúc gặp nhau năm 1955 ở Đồn Lạc
Quới (Châu Đốc), nơi Hội trấn đóng khi ra Trường Sĩ
Quan Trừ Bị Thủ Đức, ít khi có cơ hội gặp lại sau lần
tái ngộ ở El Toro (Lake Forest) năm 1994…Phong, cũng vậy. Với
Hội và Phong tôi có vài kỷ niệm khó quên, không tiện kể
ra, e ngại sấm sét nổi lên bất tử từ phía các bà!
Đôi
ba lần Tông đề nghị Phước và tôi đến ở căn phố “mát
mẻ” nầy, thường để trống vì Tông và Túc chỉ
ở căn nhà đồ sộ trên El Toro. Nhưng chúng tôi vẫn thích
khu “con đường nổi loạn” hơn, tuy nhà hơi chật chội
nhưng ấm cúng và quá vui vì luôn nhộn nhịp. Vả lại ở
chỗ Tông đề nghị, chúng tôi không có phương tiện di chuyển
thuận tiện, vì khá xa khu thị tứ.
Lần
họp mặt nầy, Phong thông báo một tin buồn: cựu đồng môn
Bùi
Văn Bảy, nguyên Thiếu tá, cùng khóa 10 VBQG ĐL với
Phong, vừa vĩnh viễn giã từ anh em. Cựu đồng môn khác, Dương
Kim Thoại cũng đã qua đời vài năm trước đây. Sinh lão
bệnh tử, nào ai tránh khỏi...
Lần
họp mặt thứ ba, cũng do Tông sắp xếp, chúng tôi gặp lại
nhạc mẫu của Tông -cũng là mẹ vợ của anh ba Lê Tấn
Lợi của tôi- vẫn còn mạnh khỏe và minh mẫn, dù tuổi
hạc đã cao vút tầng xanh (104 tuổi!), trước khi đến dự
tiệc tại nhà con gái của Tông trên dốc cao của khu
đồi núi chập chùng San Clemente. Có Túy tháp tùng nhưng thiếu
Phát, bận giữ…cháu ngoại.
Tông
và Túc quả “sung túc” thật: con đông, cháu đếm không
xuể! Không biết chàng và nàng có nhớ hết tên chúng nó chăng!
Đông đúc thế mà trong ấm ngoài êm! Ngưỡng mộ và bái phục
chàng và nàng quá đỗi! Đại phúc, đại phúc!
***
Phát
đưa Phước và tôi đến thăm vợ chồng Nguyễn Đình Toàn.
Căn phố lầu của Toàn trông ra sân chơi một trường tiểu
học luôn náo nhiệt với bọn trẻ chí chóe đùa nghịch đuổi
bắt nhau, khiến đôi bạn già đỡ thấy “trống vắng”…Toàn
có vẻ yếu hơn nhiều so với lần tôi gặp năm 2005, chị
Toàn trông còn “sỏi" hơn.
Toàn
“tiết lộ” cho tôi nhiều điều “khó khá” về cây viết
Ham
Phê
Ác,
chuyên “thách thức thần linh…đâm nổ mặt trời”:
-Tao đã nhất quyết không nhìn mặt hắn, hai ngày sau 30.4.75,
khi bạn bè cho tao biết hắn “quậy” các đồng nghiệp
của hắn ở trường Nguyễn Trãi đến ngất ngư với đám
cán bộ tới “tiếp thu” trường, Toàn nghiêm mặt nói. Mầy
biết tao với hắn vốn rất thân. Thú thật, chính tao đã
“lancer” hắn… Nhưng tao dứt khoát cắt mọi giao tiếp với
hắn. Quả thật tao thất vọng ê chề về hắn! Tao không ngờ
hắn tệ lậu đến thế! Làm cách mạng 30 xong, hắn bèn vượt
biên nhưng bất thành. Vợ hắn vùi thây dưới đáy biển.
Hắn xin định cư ở Mỹ. Rồi lại trở lộn về VN hăm hở
tham dự đại hội nhà văn ở Hà Nội! Hắn còn nghĩ gì đến
cô vợ đã bỏ mạng vì chế độ độc tài đảng trị đã
xua nàng ra biển cả làm mồi cho cá nữa đâu! Nói hắn không
lập trường chưa đủ. Hoạt đầu, có lẽ đúng hơn…
-Ham nổi tiếng, bằng mọi giá, chắc còn chính xác hơn
nữa, tôi tiếp lời Toàn. Trao đổi với một đồng nghiệp
đến từ Florida, lập trường dứt khoát như mầy (“Nếu
phải chọn giữ vững lập trường mà đành cắt đứt liên
hệ với người bạn lập trường chao đảo thì tôi không
chút chi do dự”), tao nói với anh ấy và nói luôn với mầy
cùng bạn bè của chúng ta rằng: dấu chỉ hiển lộ nhất
về sự lương thiện tinh thần của con người là còn biết…xấu
hổ! Khối thằng tự cho là trí thức mà nham nhở hết
biết! Chữ “éhonté” sao mà quá chính xác: không
biết xấu hổ, mặt trơ răng bóng! Nói nôm na là không biết
hổ thẹn với lương tâm!
Toàn
gật gù cười nhẹ. Có lẽ Toàn quá não nề về một
số bạn, nếu không thay đổi màu da xoành xoạch như kỳ nhông
thì cũng “chơi cha” trên đầu bè bạn. Toàn nói phớt
qua về chuyện “chơi gác” Toàn của một ca sĩ thời danh
đang đặc trách chương trình văn học nghệ thuật cho một
đài truyền hình ở Mỹ. Tôi không lạ gì về “ngài” ca
sĩ nầy, có thời là bạn đồng tù “cải tạo” với tôi…
Rất
tiếc tôi không giữ được lời hứa trở lại thăm Toàn trước
khi rời Cali để Toàn có cơ hội trổ tài nấu nướng đãi
tôi một bữa cơm gia đình thanh đạm. Tôi nhớ mãi lời Toàn
nhắn nhủ nên thường xuyên liên lạc điện thoại chuyện
trò với nhau cho qua ngày tháng, vì ở tuổi quá thất thập
chúng tôi có thể ra đi “no return” bất cứ lúc nào. Vô
thường!..
***
Định
ngồi xe đò Hoàng lên San Jose gặp Hoàng và Thân, sau khi liên
lạc điện thoại, nhưng thấy trước không tiện, vì Hoàng
vừa vợ bệnh vừa bận dọn nhà mà bản thân cũng không được
khỏe, nên tôi còn chần chừ. Riêng Thân, tôi có phần e ngại
vì 36 năm rồi bặt tin nhau và sau khi gửi điện thư nhiều
lần cho bạn mà không được phúc đáp, chẳng biết đồng
nghiệp khi xưa giờ đây có gì thay đổi trong tình thân chăng.
Ngay khi vừa tới, gọi điện thoại nhắn tin cũng không thấy
bạn tôi sốt sắng gọi lại.
Ngoài
ra, một chuyện mất vui về Nguyễn Đồng Danh, thằng
bạn nối khố, đồng hương Bạc Liêu -mà tôi dự tính lên
tới nơi sẽ đến tá túc nhà nó- cũng khiến tôi chùn chân.
Hình như bạn tôi không còn nhận ra tôi là ai nữa rồi! Cố
ý làm ngơ để khỏi tiếp tôi hay “an-zai-mơ” lú lẩn?
Thêm
vào đấy, H.N.Biên, thằng bạn rất thân ở Đại
Học Sư Phạm Đà Lạt xưa kia, cũng khiến tôi khổ tâm, buồn
lòng không ít, hết hứng thú đến San Jose: Câu nói của N.S.Biên
xác định dứt khoát gạt bỏ tình bạn hơn là chối bỏ lập
trường bảo toàn lý tưởng của mình tác động mạnh mẽ
trên tâm tư tình cảm của tôi…
Cho
nên, một lần nữa, chuyện nối vòng tay lớn Phục Hưng lại
bất thành! Chỉ còn hy vọng mong manh NXHoàng ngồi xe đò Hoàng
xuống gặp tôi thôi!
May
thay, bỗng nhiên BPQuang nẩy ra sáng kiến mời các cựu đồng
môn Triết Đại Học Sư Phạm Đà Lạt họp mặt “dàn chào”
Lộc-philo-folie
tôi tại tư gia. Quang cho biết đã mời NXHoàng (San Jose). Trần
Quang Minh (San Diego), Trần Đức An (láng giềng của
Quang), NLThọ, v.v…Các cựu philo khác
(Nguyễn Ngọc Thọ,
Nguyễn Văn Tốt…) ở Chicago và Florida không đến được.
Dĩ nhiên một số còn kẹt ở quê nhà cũng vô phương đến
họp bạn. {Chắc chắn Nguyễn (Trộn) Văn và sư phụ
của hắn, Lý (Tránh) Trung, giáo sư “chết” lý
-cho tới giờ nầy vẫn còn ung dung chết lý vì XHCNVN “u
việt”- sẽ chẳng bao giờ dám vác mặt tới!}. Quang cho biết
tất cả đã nhận lời…Nhưng vào giờ chót Hoàng báo không
xuống Santa Ana được vì vợ trở bịnh nặng, Minh gửi điện
thư cho biết cảm nặng vẫn còn dây dưa, không tiện xê dịch.
Riêng An thì chỉ ngắn gọn nói với Quang: “Bận, không tới”.
Cũng
vẫn Phát đưa tôi đến điểm hẹn. Trông Quang có vẻ gầy
yếu hơn xưa. Bốn mươi năm rồi không có dịp gặp nhau, dù
cả hai đều phục vụ ở Sài Gòn.
Cuối
cùng buổi họp mặt cựu “Triết Đà Lạt” chỉ qui tụ
được ba mống Triết: Quang, Thọ và Lộc, cùng với các cựu
gõ đầu trẻ Ngàn, Nghĩa, Ngạn, Di, Nguyễn Hữu Phước
và…Dương Ngọc Sum xanh xao, vàng vọt, hốc hác, hầu
như sắp…”Sụm” tới nơi! Chuyện trò rôm rốp, cười
cợt hả hê vì vắng mặt các bà. Nhưng mấy chai rượu đỏ
quá ngon chỉ được Quang và tôi “chiếu cố” tận tình.
Kỳ dư, nếu không thuộc hệ phái “trà đá chanh đường”
thì cũng chẳng dám mó tới vì phải…lái xe!
An
không tới, tôi có thể đoán trước. Hoàng “kẹt” vì
lý do bất khả kháng, tôi có thể cảm thông, ngoại trừ
còn lý do “bí ẩn” gì khác -mà nếu có thì…tôi cũng đành
chịu thua thôi. Hai cựu giáo sư Phục Hưng nầy lẽ ra nên
cố gắng tới gặp tôi: lần thứ ba “mộng ước” nối
vòng tay lớn với các cựu Phục Hưng không thành! Chưa tới
thời điểm hay đành phải chờ tới xương tàn cốt rụi?
Riêng
với Minh tôi tự hỏi, ngoài chuyện cảm cúm ra, không biết
thằng bạn đồng môn ở Jean-Jacques Rousseau và bạn cùng khóa
I Triết ĐHSPĐL có buồn giận gì tôi mà tôi chẳng rõ chăng…
Thôi
thì cứ cho là các bạn vắng mặt đều có lý do
chính đáng để…vắng mặt vậy! Cho khỏi mất công suy diễn
“linh tinh” vô bổ…nhức đầu, nhức cổ!
***
Gọi
điện thoại một vòng tìm những bạn cũ trước đây ở Montréal,
hiện sang Cali sinh sống, tôi “tìm dấu” được nàng…Thơ
-hồng nhan đa truân- mỹ nhân một thuở “người ngoài
cười nụ người trong khóc thầm”, rất được giới văn
nghệ sĩ thương mến (trong số, có Kiệt Tấn, đến
từ Paris). Thơ mừng rỡ hẹn tới ngay thăm “người anh văn
nghệ mà Thơ hằng quí mến”…Trông Thơ rạng rỡ hẳn lên,
nét u buồn cố hữu thể hiện qua “môi cười mà lệ như
rơi” dạo nào giờ như đã tan biến qua “ánh mắt cười
theo miệng cười” mà tôi nhận ra ngay khi Thơ bước nhanh
tới choàng ôm Phước và tôi.
Giới
thiệu người bạn đường mới, Thơ tâm tình cuối cùng Thơ
cũng tìm được bến đỗ vững bền trong vòng tay đùm bọc
chở che của một người đàn ông rất mực yêu thương nàng,
người đàn ông mà Thơ hằng mong ước từ lâu… Mừng cho
Thơ biết bao! Coi như nàng đã được tạo hóa đền bù
những tháng năm dài gánh chịu quá nhiều gian khổ… Phép
mầu của tình yêu có khác! Love is many splendoured things!
Người
bạn cũ ở Xứ Tuyết rất nặng tình với tôi, Đào Khánh
Thọ -người bạn lúc nào cũng sẵn sàng phục vụ, chẳng
những bạn mình mà luôn cả bạn của bạn mình- dù bận bịu
chăm sóc chị Thọ bị tai nạn gẫy chân phải băng bột, di
chuyển rất khó khăn, vẫn chở chị đến đưa chúng tôi đi
viếng tượng Đức Mẹ ở Long Beach.
ĐKT
vốn là cựu đồng môn với tôi ở Lycée Nguyễn Đình Chiểu
(Mỹ Tho), cựu đồng nghiệp, cựu Trưởng Khu Học Chánh như
tôi, nhưng ở Vùng IV…Chúng tôi có quá nhiều kỷ niệm vui
buồn lẫn lộn, khi còn bên nhà cũng như lúc qua xứ người,
nhứt là giai đoạn cùng làm việc trong Ban Chấp Hành Hội
Ái Hữu Nguyễn Đình Chiểu-Lê Ngọc Hân Canada. Sau đó chúng
tôi vẫn duy trì liên lạc chặt chẽ khi Thọ chủ trương Đặc
San Trung Học Tống Phước Hiệp (Vĩnh Long)…Hai chúng tôi coi
nhau như người trong gia đình. Thọ đã thường xuyên an ủi,
trợ lực khi tôi phải đương đầu với những khó khăn, trở
lực khiến tôi vô cùng bực tức, nản chí trong thời gian
hai đứa phục vụ anh chị em NĐC-LNH. Là một phật tử thuần
thành nhưng Thọ không cuồng tín nên chúng tôi vẫn có thể
thân thiện trao đổi quan điểm về đạo và đời…
Một
bất ngờ thích thú: Khánh, cựu môn sinh trường Bồ
Đề (Bình Dương), dù chỉ sinh hoạt với tôi một niên học
thôi, năm 1967, đã bỏ nhiều công sức dò tìm tông tích tôi
trên Net, sốt sắng gửi điện thư, gọi điện thoại chào
mừng, vấn an “thầy cũ” trước khi tôi rời Montréal. Suốt
thời gian tôi qua viếng Cali, Khánh thường xuyên điện thoại
thăm hỏi, giúp tôi bắt liên lạc với hai cựu đồng nghiệp
ở Bồ Đề: Nguyễn Kim Long (Pháp văn) và Phạm Đình
Lân (Sử Địa).
Nghĩ
tới chuyện các cựu môn sinh, cựu đồng nghiệp trường Phục
Hưng không “mặn” lắm với chuyện nối vòng tay lớn, tôi
cảm thấy đôi chút xót xa. Chờ xem lần họp mặt với trường
Trịnh Hoài Đức (Bình Dương), dự trù tổ chức vào tuần
cuối tôi còn ở Cali diễn tiến ra sao…
Trong
khi chờ đợi, tôi vẫn phò nhị tẩu “cơ bản thao diễn”
đều đặn trên đường phố Garden Grove rợp nắng ban mai,
để rồi về đêm một mình lăn trở trên chiếc giường xếp,
lắng nghe “tiếng còi trong sương đêm” từ sofa bên phải
nỉ non tâm sự hòa quyện với tiếng “kèn trompette khóc dài
trong sương sớm” từ căn phòng tí hon bên trái nức nở tâm
tình, đồng trổi một hợp tấu khúc khá “mê ly”, thừa
khả năng đưa tôi vào cõi mộng mơ khi bình minh vừa chập
chững lố dạng với tiếng hát mơ xa lững lờ tan loãng trong
sương mai:
đứng
ở ngoài đầu rừng
đứng
ở đầu con sông
nhớ
về con đường cũ
mênh
mông
mênh
mông
***
Phát
chuyển lời anh NTLiêm mời tôi đến họp mặt với một số
anh em đồng nghiệp tại trụ sở Lăng Ông Lê Văn Duyệt
Foundation. Cũng là trụ sở của Tập San Nghiên Cứu Văn
Hóa Đồng Nai-Cửu Long. Trang trí bên trong rất uy nghiêm,
phản ảnh trung thực nơi thờ phượng Đức Tả Quân tại
Bà Chiểu (Gia Định). Đặc biệt, trong Hội Trường có bàn
thờ Tổng Thống VNCH Trần Văn Hương,. Tôi đứng nghiêm
cúi đầu chào di ảnh của cố Tổng Thống, nghe trong lòng
dấy lên niềm thương cảm vô biên…
Sau
đó anh em kéo nhau tới một buffet tiếp tục hàn huyên. Trong
câu chuyện trao đổi, tôi giải tỏa ngộ nhận về GS Nguyễn
Văn Kiết, cựu Tổng Trưởng Giáo Dục trong cái gọi là
Chánh
Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam của cái gọi
là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam trước đây:
Một
nữ và một nam đồng nghiệp, gốc Đức Hòa (Hậu Nghĩa)
kể lại có nghe lời phao đồn nhằm gỡ tội cho ông GS -cũng
dân Đức Hòa, một người đã thừa hưởng quá nhiều bổng
lộc, đặc quyền của VNCH mà vong ân bội nghĩa chạy theo
VC sau biến cố Tết Mậu Thân 1968- rằng ông ấy không “chủ
động” theo MTDTGPMN vào mật khu, sau khi bọn chúng thất bại
trong chiến dịch “Tổng Công Kích-Tổng Nổi Dậy”: Ông
đang dạo mát trước nhà, đột nhiên bị một cựu môn sinh
tới “bắt cóc”(!?), thúc ép ông “chém vè” theo chúng!
Ô
hô! Ô hô! Y như luận điệu gần đây ngụy biện cho Sư
Cộng Thích Đôn Hậu bị Việt Cộng “bắt cóc,
cưỡng bức” theo chúng ra…Hà Nội, sau vụ bọn chúng thảm
sát hàng ngàn đồng bào Huế, năm 1968!
-Thưa quí anh chị! Tôi biết rõ GS Nguyễn Văn Kiết đã có
khuynh hướng thiên cộng từ lúc tôi ở trọ nhà ông theo học
trường Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho). Ông “mê” và sung bái
Tố Hữu từ khuya rồi quí vị ạ! Tội là tội cho các cựu
môn sinh của ông luôn nêu cao truyền thống “tôn sư
trọng đạo”, đã hết lòng ngăn cản thừa phát lại thi
hành án lệnh của Tòa tịch biên gia sản khi đương sự theo
VC. Để rồi lúc ông “vinh qui áo cán bộ-nón cối” trở
về ông chẳng động một lóng tay cứu nạn cho họ mà còn
cao giọng kết án họ là…cực kỳ phản động! Còn nhiều
thứ khác chứng tỏ lập trường dứt khoát ủng hộ CS mà
tôi không muốn nêu ra vì ông đã vĩnh viễn xuôi tay…“Nghĩa
tử là nghĩa tận”, như cổ nhân thường khuyên bảo…
***
Cuối
cùng, Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Trịnh Hoài Đức
cũng chính thức mời tôi -với tư cách là cựu giáo sư và
cựu hiệu trưởng- đến họp mặt tại Bistro Đà Lạt.
Là cựu học sinh khóa I của trường, Phát cùng đi với tôi
tới điểm hẹn.
(Trước
đó, MyKoVĩnhAn, cựu nữ sinh THĐ gửi điện thư nhắc
nhở tôi: “Thầy nhớ là thương "tụi Phục Hưng" ít hơn
"tụi em ở Trịnh Hoài Đức" nha thầy!”. Tôi thấy tức cười:
em nào biết tôi muốn “thương” Phục Hưng hơn THĐ cũng
đâu được, vì ba lần toan tính nối vòng tay lớn PH đều
không thành!)
Tới
nơi tôi hơi ngạc nhiên thấy mọi người đứng lố nhố
ngoài cửa nhà hàng chứ không vào trong. Nghĩ bụng chắc mọi
người chờ tôi đến để cùng vào. Nào ngờ nhà hàng…đóng
cửa! Có thể đã dẹp tiệm mà chưa kịp hạ bảng hiệu cũng
nên! Không hiểu sao Ban Tổ Chức không điện thoại đặc tiệc
trước nhỉ? Hơi lạ đấy!
Hội
Trưởng Nguyễn Văn Diệp và Hội Phó Từ Minh Tâm
bèn tùy cơ ứng biến “giải tỏa bế tắc”, mời tất cả
qua Âu Lạc, tiệm cơm chay “de luxe” kế cận, do “Vô
Thượng Sư” Thanh Hải kinh doanh, cho đỡ phải xê dịch,
“vừa đánh (chén) vừa đàm (tiếu)”! Quả thật
tôi có căn duyên tu…chay đúng điệu hơn là tu…chai
dỏm! Trước mặt mọi thực khách: hàng hàng lớp lớp ly to
tổ bố tràn đầy nước…lạnh! “Nước hạnh phúc” có
chất men làm sao có chỗ đứng trong quán cơm chay nhìn đâu
cũng chỉ thấy toàn chai nước…suối!
Tôi
không nhớ hết các cựu môn sinh, ngoại trừ em Nguyễn Văn
Tiếp (đã từng nghe “thầy hiệu trưởng Lộc du học
bên Tây về, ngồi trong văn phòng ngẫu hứng ca Vọng cổ”!)
Về
phía đồng nghiệp, tôi được gặp lại lần thứ hai
Đoàn
Văn Vượng và Phó Đức Long (nhưng thiếu Nguyễn
Thanh Liêm và Nguyễn Trí Lục), tái ngộ với anh chị
Võ
Văn Minh-Nguyễn Thị Cam, sau 41 năm bặt tin (mà tôi còn
nhìn ra được), với Đinh Đức Vượng (mà tôi không
còn nhìn ra được nữa, sau lần gặp cuối cùng, ngày 30.4.75,
trong khuông viên trường Gia Long)…
Một
bữa cơm chay tịnh nhưng câu chuyện trao đổi suốt buổi
hội ngộ rất ư là mặn nồng! Không khí đại gia đình
vẫn còn bao trùm sư đệ THĐ! Tình nghĩa thầy trò vẫn còn
sâu đậm ở những thế hệ học sinh được giáo dục trước
1975, một nền giáo dục nhân bản, khai phóng, dân tộc,
tự do và…miễn phí!
***
Đón
NSĐông từ Virginia xuống, NLThọ ghé rước tôi đi họp mặt
với Ban Chấp Hành Gia Đình Hậu Nghĩa Hải Ngoại: chiến
hữu Đông là một trong những Mạnh Thường Quân và Thọ là
một thành viên BCH bên cạnh quí chiến hữu Nguyễn Thành
Toán, Đỗ Bảy, Bùi Văn Ngô, Vũ Hữu Trường, Mai Thế Nghĩa.
Tất cả đã từng phục vụ tại Tiểu Khu Hậu Nghĩa,
Sư đoàn 25 BB, hoặc các đơn vị bạn hoạt động trong phạm
vi lãnh thổ Tỉnh Hậu Nghĩa. Cá nhân tôi cũng được xem như
có liên hệ với Hậu Nghĩa vì Sở Học Chánh Hậu Nghĩa là
nơi tôi thường đến sinh hoạt nhiều nhất so với các Sở
Học Chánh khác thuộc Khu III Học Chánh.
Thọ
quí tôi đến độ cởi chiếc áo trận rằn ri khoát ngoài
(Jacquette) tặng tôi. Và Đông cũng mến tôi đến độ đích
thân mang chiếc mũ lưỡi trai mua từ Normandie -nơi duy nhất
có bán loại mũ đặc biệt mà Tướng Nhẩy Dù Bigeard thường
sử dụng- chụp lên đầu tôi!
Dịp
nầy, BCH tặng tôi quyển Đặc San Hậu Nghĩa, Xuân Tân Mão
2011. Trang bìa trình bày Quốc kỳ VNCH rạng
rỡ tung bay trước Tòa Hành Chánh Tỉnh, với ảnh cổng
Chùa
Giác Phước, cổng Thánh Thất Cao Đài và cổng Họ
Đạo Tha La gợi nhớ vô số kỷ niệm khó phôi pha theo
ngày tháng cho những ai đã từng sinh sống nơi biết bao quân
dân các chính VNCH đã đổ xương máu bảo vệ an ninh cho đồng
bào luôn bị CS khuấy nhiễu, sát hại dã man, tàn bạo…
Mở
đầu Đặc San, bốn trang dày đặc tên tuổi những quân cán
chính đã vĩnh viễn nằm xuống trên vùng đất không lúc nào
ngưng giao tranh, trang trọng “Tưởng Niệm Tử Sĩ Quân
Cán Chính VNCH Đã Hy Sinh cho Tỉnh Hậu Nghĩa”. Hai trong
bốn trang nầy liệt kê danh sách các chiến hữu bị VC
“bắn bỏ” ngày 30.4.75. Và những chiến hữu
chiến đấu tới viên đạn cuối cùng để rồi, nếu còn
sống sót, đều bị địch quân tàn sát…
Buổi
họp hôm ấy, các anh lượt duyệt kết quả cứu trợ
Thương Phế Binh VNCH tại Hậu Nghĩa. Đây là Hội Ái
Hữu thứ hai mà tôi được biết có chương trình và kế hoạch
trợ giúp cụ thể và trực tiếp TPB tại địa phương. Hội
kia là Hội Ái Hữu Biên Hòa…
Chạnh
nhớ lần tôi đến Hậu Nghĩa sinh hoạt với Sở Học
Chánh, ngày 20.4.1972, định ghé qua Tòa Hành Chánh Tỉnh chào
Đại
Tá Tỉnh Trưởng Nguyễn Văn Thành thì bàng hoàng
nghe Chánh Sở Đào Công Nghiệp báo tin Đại Tá vừa
tử trận…
Tôi
cúi đầu thinh lặng nghe tiếng gió rít bên song tung bụi
đường xoáy thành con trốt, nghe chừng như… Hồn tử sĩ
gió ù ù thổi…năm nào trong trận chiến Tết Mậu Thân,
những oan hồn vất vưởng trong chuỗi ngày u uất cuối tháng
Tư 1975, với tiếng hát bi thiết xa xa vọng lại:
Hỡi
người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy
này!
Bây
giờ anh ở đâu, bây giờ anh ở đâu?
Còn
trên đời này đang xông pha đèo cao dốc thẩm hay đã
về bên kia, phương trời miên viễn chiêm bao.
Trên
đầu anh cái nón sắt ngày nào ấp ủ mộng mơ của anh,
mộng mơ của một con người.
Hoạt
động của anh em Hậu Nghĩa Hải Ngoại quả thật khiến tôi
vô cùng khâm phục. Nhứt là nghĩa cử ân cần chăm sóc,
giúp đỡ anh em TPB và gia đình cô nhi tử sĩ…
Tiếng
hát cũng như giọng đọc diễn tả “vượt không gian
và thời gian” của danh ca Thái Thanh lại vang lộng trong đầu
tôi:
Trong
cái nón sắt của anh mặt trời vẫn còn đó ban ngày
và ban đêm, mặt trăng hoặc muôn muôn triệu triệu vì sao
vẫn còn đó, tất cả vẫn còn đó vẫn còn đó.
Nhưng
anh, bây giờ anh ở đâu? Con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh
trong mưa dầm, tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất
mẹ.
Dạo
tháng Ba, tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa nghe
như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.
Hỡi
người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ
lau sậy này!
Anh
là ai? Anh là ai? Anh là ai?
Hỡi
ôi!
Ba
chục Tết tơi bời xương máu
Triệu
oan hồn lảo đảo đồi nương…
Thương
ôi! Vì ai nên nỗi… “Tang thương đến cả hoa kia cỏ
nầy” !
***
Ngữ
mang số sách ấn hành giúp tôi -đợt I, 50 cuốn cho mỗi tập
truyện- để tôi kịp tặng thân hữu tại chỗ trước khi
rời Cali. Sẵn dịp “rước” bộ ba Phước-Lộc-Túy lên
Anaheim dùng bữa cơm gia đình.
Ngữ
ở trong khu phải nói là “kính cổng cao tường”, an toàn
tối đa. Muốn tới nhà, Ngữ phải dùng remote control mở ba
hàng cửa sắt! Nếu tự mình lái xe đưa nhị tẩu đến đây
chắc chắn tôi sẽ thành Lê Tấn…Lạc trong mê cung
với hàng hàng lớp lớp cổng sắt lù lù ngăn chặn!
Nhìn
bên ngoài, dáng dấp ngôi nhà đã hết sức đặc biệt. Nhưng
vào trong mới thấy hết được công sức đã đầu tư
để trang hoàng nội thất: lộng lẫy, rực rỡ… nếu muốn
nói là “hoành tráng”! Y như một Bảo Tàng Viện Nghệ Thuật,
với rất nhiều thứ có tính chất sưu tầm (collection). Đặc
biệt nơi thờ phượng trông như một mini giáo đường! Toàn
những đồ cổ có giá trị như di vật thánh thiện…
Khu
vườn phía sau nhà cũng được sắp xếp, trang trí rất bắt
mắt. Bảo trì “bảo tàng viện” bên trong, chăm sóc vườn
tượt bên ngoài, chắc Hương, vợ Ngữ không còn bao
nhiêu thì giờ nghỉ ngơi ăn uống!
Ấy
thế mà vợ chồng còn phải thay nhau trông coi một cơ sở
thương mại tự lập. Ngoài ra hai đứa còn
bỏ rất nhiều thì giờ làm việc thiện nguyện! Ấy là chưa
nói tới chuyện bếp núc mà Hương cũng thuộc hàng cordon bleu!
Hương
rất khéo tay, không những trong chuyện nấu ăn (Hương nấu
rất đạt và rất nhanh) mà còn trong chuyện thủ công. Hình
như không lúc nào Hương “ở không”, tay chân và đầu óc
lúc nào cũng hoạt động. Trong lúc Ngữ rất nhiệt thành bỏ
công, bỏ của ra in kinh sách và tài liệu huấn đức miễn
phí cho các giáo xứ thì rảnh tay đôi chút là Hương hỗ trợ
cho chồng, bỏ công sức làm hàng trăm, hàng nghìn chuỗi Mân
Côi, tặng cho các nhà thờ và tín hữu. Thắng, em của
Hương cũng bỏ công “chùa” design sách vở do Ngữ nhận
in giúp các hội đoàn và thân hữu…
Bữa
ăn rất vui vẻ, hợp khẩu vị. Món bò kho Hương nấu ngon
tuyệt.
Lúc
tạm biệt, Hương trao cho tôi 200 xâu chuỗi mang về Montréal
cho Dòng Phan Sinh Tại Thế và các đoàn thể trong giáo xứ.
Một
đôi vợ chồng lưu lại trong tôi nhiều thương mến và cảm
phục.
***
Đang
sắp xếp dần hành lý chuẩn bị vài hôm nữa về lại “căn
nhà ngoại ô Rêu-Phong” thì bất ngờ NLThọ phôn:
-Thay đồ gấp đi! Tao tới bốc mầy đi một nơi bảo đảm
mầy sẽ khoái chí!
Vừa
gác phôn đã nghe chuông cửa reo. Thì ra Thọ tới đậu
xe trước nhà rồi mới gọi điện thoại di động! Gấp dữ!
-Đi đâu vậy Thọ?
-Lên xe lẹ đi, tới nơi mầy sẽ biết! Ngạc nhiên thích thú
chứ không ngạc nhiên khó chịu đâu mà mầy lo sợ!
Nửa
tiếng sau, Thọ bấm chuông một ngôi nhà trông có vẻ
“bề thế”, quay mặt về hướng bờ biển, gió thoáng
mát dễ chịu...
-Giới thiệu mầy: anh Mai Thanh Truyết, gia chủ! Còn ông
“phi-lô” nầy là LTLộc đó Truyết!
-Tôi đọc rất nhiều bài viết của MTTruyết mà tới hôm
nay mới được giáp mặt anh. Rất hân hạnh!
-Tôi cũng mới được đọc bài “Họa phúc khó lường”
của anh, và cũng như anh, bữa nay mới “thấy mặt” anh.
Mời vào! Mời vào!
Cảm
tưởng đầu tiên của tôi là ông TS nầy rất bình dị
và nồng nhiệt (chaleureux) với anh em…Không khách sáo, không
kiểu cách, không kênh kiệu “ta đây”! Đúng là phong cách
đặc thù của dân “Nam Kỳ Lục Tỉnh”! Quả nhiên! MTTuyết
cũng dân Hậu Nghĩa như NLThọ…Tôi quả có duyên “khắn
khít” với dân Hậu Nghĩa, dù -cũng như NS Đông và một số
anh em đã phục vụ ở Hậu Nghĩa- tôi không phải gốc gác
Hậu Nghĩa!
Thọ
cặp nách chai rượu chát đỏ đem đặt trên bàn tiệc dọn
phía sau nhà đã có hai “đồng nghiệp” red wine chờ
sẵn! “Khí thế” dữ a! Ông TS của tôi coi bộ cũng thấm
nhuần “triết lý” đông phương lắm đó: Vô tửu
bất thành lễ! Chả bù với bữa cơm chay kèm nước lạnh
mà các cựu môn sinh và cựu đồng nghiệp bất đắc dĩ “phải
sao chịu vậy, chẳng vui trong lòng” cam tâm vui vẻ cạn
chén ly bôi trong lần họp mặt Trịnh Hoài Đức vừa qua!
Quán
rằng thịt cá ê hề…Gia chủ sành ăn nên tôm cua sò ốc
bò “lễnh nghễnh” trên bàn ăn, quá hạp gu thực khách!
Rượu đã ngon lại có bạn hiền, còn bonus hai đóa hoa hồng
kiều diễm biết nói -hiền thê của gia chủ và một thiếu
phụ Á lai Âu- cùng đối ẩm thì không cách chi khi “ra sân”
(sau thời gian khá dài “thiếu dợt” với mùa chay tịnh cơm
cá trà đá tại gia) tôi không say khướt, ngã ngựa tại chỗ,
“siêu thoát” lúc nào không hay biết!
Sáng
hôm sau, khi choàng tỉnh, tôi như người vừa tỉnh mộng, chưa
rõ tại sao tôi không ngơi nghỉ trên chiếc giường xếp như
thường lệ mà lại nằm trơ trên sofa!
Tôi
nhớ lờ mờ -không rõ mộng hay thực- tôi té xuống vực
sâu, chới với, quờ quạng đôi tay tuyệt vọng… Bỗng dưng
nắm níu được một bàn tay…Nhưng rồi lại bàn tay cứu
vớt ấy lại vuột khỏi bàn tay nắm của tôi…Tôi lại sờ
soạng kiếm tìm cái phao cứu vớt đó trong cảnh tranh tối
tranh sáng với hơi men nồng chưa hoàn toàn lắng động…Rồi
bừng tỉnh hẳn, nhận ra tôi đang siết chặt tay…tôi, hụt
hẫng:
Có
gì vừa mất ở đâu đây
Lòng
thấy mềm như rượu quá say
Hốt
hoảng chàng tìm trong bóng tối
Bàn
tay lại nắm phải bàn tay!
-Allô!
Thọ đây Lộc. Mầy cầm phone tay ra sân trước nhà nghe tao
kể chuyện đêm hôm qua ở nhà Truyết. Ngày mai Truyết đi
xa, muốn gặp mầy lần nữa trước khi mầy về Montréal. Tao
nói hơi khó vì tối hôm qua nó với tao phải “kè” mầy
về, tao không dám kéo mầy đi nữa sợ mấy bà “quạt”
tao chạy không kịp!
Thọ
kể là Truyết “kết” tôi lắm, vì hai đứa xem ra rất
“cùng băng tần” khi trao đổi quan điểm về nhiều vấn
đề chính trị, xã hội, văn chương, lịch sử, triết học,
v.v…Tâm đầu ý hiệp đến độ ba chai rượu đỏ không mấy
chốc đã cạn láng! Thọ không dám tham gia hết mình, chỉ
nhâm nhi chiếu lệ vì phải lái xe. Hai ẩm sĩ Truyết-Lộc
tửu nhập nhạc xuất, cùng cất giọng hợp xướng, đủ loại
ca khúc tây ta.
Cuối
cùng hai bạn đã phải dìu tôi ra xe. Nhưng đã yên đâu. Xe
vừa chuyển bánh là tôi nằng nặc đòi “vũ qua Bắc hải”!
Truyết
bảo Thọ nhấn ga vọt nhanh cho mau về tới nhà. Nhưng Thọ
cảnh cáo sẽ không kịp vì tôi sắp…vũ trong xe tới
nơi!
-Mầy biết không, tao phải de xe lại đậu trước nhà Truyết,
tao một bên, nó một bên kè mầy tới mấy bụi bông kiểng
cho mầy…vũ trên hoa lá! Mà mầy đâu còn sức tự lo
chuyện “vũ” đó! Xong xuôi đâu đó, tao nói với Truyết
rằng tao đâu ngờ thằng bạn hơn 40 năm mới được gặp
lại đã cho tao có cơ hội ngàn năm một thuở cầm “vòi
rồng” cho nó…tưới cây! Tao tin chắc rằng kỷ niệm độc
nhứt vô song nầy không thể nào hai đứa quên nổi!
Quả
thật bạn tôi hành sử với tôi hơn cả “huynh đệ như thủ
túc”!
***
Dù
đang lu bu với chuyện dời nhà, Thứ vẫn tạm gác qua mọi
vướng bận lái xe đến rước tôi rất sớm, ghé qua Coeur
de Paris mua cà phê sữa và croissant mang đi tới khu Phước Lộc
Thọ nhâm nhi, thương cảm ngắm nhìn người Việt xa xứ sinh
hoạt trước mặt và bên trong thương xá.
(Là
bạn đồng môn Jean-Jacques Rousseau với tôi, Thứ tốt
nghiệp Thủ Khoa Khóa 15 VBQG Đà Lạt. Hè Đỏ Lửa 1972, là
Trung đoàn phó kiêm Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn 9/Sư đoàn
5 BB, đang hành quân ở Lộc Ninh, Thứ bị thương nặng phải
tản thương về Tổng Y viện Cộng Hòa).
-Mỗi lần về Santa Ana, cứ 5 giờ sáng là tao mua cà phê và
một ổ bánh mì không đến đây ngồi nhìn đồng bào mình
hẹn nhau tới đây tán gẫu chuyện đời. Thiên hạ trách họ
nói chuyện trên trời dưới đất, không đâu ra đâu. Nhưng
tao hiểu và thương họ hết sức. Anh em mình đó Lộc à! Đàng
sau những tiếng cười đùa trông như vui vẻ, vô tích sự
là những mảnh đời rách nát bị bức rời khỏi một quê
hương tan tác, trôi dạt đến “vùng đất hứa” mà họ
khó có thể hội nhập hoàn toàn. Không bỏ lại quê hương
nhiều thảm kịch thì đa số cũng đang đối đầu với nhiều
bi kịch trong cuộc sống thường nhựt trên đất tạm dung!
Tao nói họ là anh em mình vì đa số đều đã khoác chiến
y như tụi mình, đã đổ mồ hôi, nước mắt trên quê cha
đất tổ, đã góp xương máu trên khắp chiến trường, đã
hứng chịu biết bao tủi nhục, uất hận trong các trại khổ
sai của bọn CSBV hung tàn, khát máu...
Tôi
thoáng thấy khóe mắt bạn tôi ươn ướt…
Đại
dương nọ từ đây đôi ngã
Tàn
binh đao keo rã hồ tan
Quê
hương anh tấm thân tàn
Xứ
người em gót bàng hoàng ngẩn ngơ
Mắt
tôi cay xè… “Chốn ấy quê hương…”. Nơi nầy:
Thân
đất khách một mình xui nhớ
Hương
đêm dần dần nở khúc thương
Cửu
Long Hồng Thủy Giang Hương
Ba
sông một mẹ đau thương ngút trời
Anh
em tôi! Những anh em nạn nhân của bạo quyền phi nhân!
Ngự
đó một lũ đần ăn máu
Hả
hê thay cường bạo sát nhân
Quê
hương còm cõi toàn dân
Trời
chưa hé sáng đêm vần vũ sa
Bạn
bè tôi! Những anh em cùng ở đảo được mệnh danh “cửa
ngõ của Tự Do và Tình Người” với tôi 33 năm trước
-do LM Đỗ Minh Trí (Gildo Dominici) đảm trách- giờ đây
xiêu lạc hà phương? Có khi tôi không còn nhận diện được
họ trong số anh em đang tụ họp tại khu Phước Lộc Thọ
nầy hay ở những anh em bất hạnh vô gia cư (homeless) mà sĩ
số càng lúc càng gia tăng, đang lang thang khắp nẻo đường
tiểu bang California, cố sinh tồn với đồng tiền bố thí
của người hảo tâm, động lòng trắc ẩn…
một
cơn gió bụi tơi bời
bạn
bè trăm đứa rã rời bốn phương
(galang)
đảo nhỏ nam dương
tấp
vô lây lất kiếm đường định cư
ăn
cơm chen lấn mệt đừ
nằm
queo ngóng đợi tháng dư năm dài
cali
texas sydney
bon
chen dựng lại tương lai mịt mùng
Cũng
có thể sau cùng họ đã có gia cư vĩnh viễn ở nghĩa trang,
hoặc đã thành cư dân dài hạn ở các nhà thương toàn khoa
hay bệnh viện tâm lý! Những bạn bè, anh em…
giựt
gân bức xúc lung tung
tai
biến mạch não đứa khùng đứa điên
đứa
may kiếm được nhiều tiền
ung
thư ập tới xuôi miền âm u
Đất
nước tôi phải chăng bị Tàu phù Cao Biền trù yếm như truyền
thuyết rất phổ biến trong dân gian, nên không thể nào được
hưởng thanh bình lâu dài cho ba tánh được an cư lạc nghiệp?
Phải chăng lá bùa yếm của Tàu phù nầy vẫn còn linh nghiệm
nên VN khó ngóc đầu lên nổi, khốn nạn dài dài? Và viễn
ảnh đất nước tôi đang trên đà biến thành một quận của
Trung Hoa Đỏ phải chăng là hệ lụy tất yếu, với bè lũ
Mafia VN đỏ lúc nào cũng sẵn sàng cắt đất đai, dâng sông
nước, hiến hải phận và các quần đảo cho Chệt bá quyền?
Đâu
ân oán những hàng cường quốc
Đọa
Việt Nam đầu cất chẳng lên
Nợ
đâu ai mượn ta đền
Chung
qui một lũ kênh kênh chia mồi
Trên
đường về, Thứ mở nhạc...
Dân
nước tôi, nòi giống hùng cường Lạc Long
Làm
gái toàn là Trưng Vương
Làm
trai rạng hồn Quang Trung
Tôi
không còn có thể kềm giữ được nước mắt tuôn tràn…
o-o-o
Chậm
thế nào rồi cũng tới lúc phải giã biệt nhau.
Tôi
thức sớm hơn mọi bận, gập chiếc giường xếp, lòng thấy
nao nao. Biết còn cơ hội trở lại gây náo nhiệt trong khu
phố đáng mến nầy với Túy và anh em hàng xóm khả ái, bạn
bè thân thương chăng?
Hôm
qua, từ giã Thứ, tôi chợt nhận ra -không như trước
đây nơi tôi luôn muốn tới khi không thể trở về thăm quê
nhà là Paris, vì có quá nhiều kỷ niệm khó phai mờ thời
sinh viên- giờ đây Cali đang chiếm trọn trái tim tôi, vì nơi
đây tôi nhìn thấy lại Sài Gòn trước khi “mất tên”,
cảm thông với những mảnh đời tan nát theo quê hương tan
tác…
Trong
khi chờ đợi Ngữ tới đưa Phước, Túy và tôi ra phi
trường, tôi thẫn thờ đếm bước trên hàng gạch đỏ phân
cách Belfast thành con đường lưu thông hai chiều, chạnh nghĩ
biết đâu đây chẳng là những bước cuối của mình trên
lối đi khó quên nầy. Ở tuổi quá thất thập, thời gian
góp mặt với đời chẳng còn được bao lâu, thường được
tính từng ngày, nếu không muốn nói là từng giờ, từng phút!
Vô thường…
thế
rồi cuộc đời là
những
cuộc tình chia xa
đi
lạc vào những phía không đường về
Nắng
đẹp vô song. Ngữ đảo xe một vòng cho tôi nhìn lại lần
cuối khu phố tôi đã thương mến đặt tên “Lady Belfast”.
Vẫn con đường với những lối đi quen…
con
đường thảnh thơi nằm
nghe
chuyện tình quanh năm
Sau
hai lần Phước và tôi choàng ôm giã từ Túy, nắm níu bịn
rịn, “bước đi nhưng chưa nỡ rời”, hình ảnh sau
cùng theo tôi lên phi cơ là dáng dấp khuất dần của Túy khi
chúng tôi bước lên cầu thang dốc ngược lên trời dẫn vào
khu chờ đợi. Mờ dần…mờ dần…
Nghe
đâu đây vang vang ca khúc trữ tình chia tay thuở nào…
“Je
pouvais t’imaginer toute seule abandonée
Sur
le quai dans la cohue des au-revoirs”…
J’ai
failli crier vers toi, j’ai failli courir vers toi
C’est
à peine si j’ai pu me retenir…” (**)
Trong
tiếng rít gầm của động cơ phản lực tung máy bay lên không
trung, tôi nhận ra ngày rời Cali quả thật tôi đã… “để
quên con tim” ở lại…chốn ấy anh em, ôi cảm tình!
Thôn
trang Rêu-Phong, Xứ Tuyết, cuối hạ 2011
Lê Tấn
Lộc
Ghi chú:
Thơ, văn, nhạc trong bài nầy được trích dẫn từ
Chinh
Phụ Ngâm, cũng như vay mượn của các nhà thơ Nguyễn
Bính, Kiệt Tấn, các nhạc sĩ Hoàng Trọng, Phạm Duy,.
(*)
Thư cho Kiệt Tấn (LTL)
(**) J’entends
siffler le train (Hedy West)