NHỚ TRẦN
DẦN
Ông khóc những người bay
không có chân trời
Tôi khóc ông
Nước mắt ta là giọt máu
hồng
Nhỏ cùng nhân thế
Nhỏ vào vũ trụ
Vẽ chân trời
Thành trái tim chung
(Nguyễn Thanh Giang)
Trong buổi tọa
đàm về cuốn tiểu thuyết “Những ngã tư và những ngọn
đèn” của Trần Dần tổ chức ngày 16 tháng 6 năm 2011 tại
Trung tâm Văn hóa Pháp ở Hà Nội, nhà thơ, dịch giả Dương
Tường đã tâm sự: Ở Việt Nam, nếu có một người xứng
đáng được nhận giải Nobel thì người đó là Trần Dần.
Theo Dương Tường: “Trần Dần là một người khổng lồ,
không dưới 30 tập thơ, ba tiểu thuyết, không kể những bản
thảo bị mối mọt hay thất lạc … Còn phải nhiều năm nữa
người ta mới đánh giá được kho tàng văn học do Trần Dần
để lại”. Theo Dương Thụ thì ngoài “Người người lớp
lớp” Trần Dần còn có sáu tiểu thuyết nữa.
Nói chung, người
ta nghĩ đến giải nobel văn học cho Trần Dần. Tuy nhiên, Trần
Dần còn có thể được xét tặng một giải nobel nữa: nobel
hòa bình, nobel chính trị. Bài viết này đề xuất vấn đề
đó.
Người coi sáng
tạo là lẽ sống
Có thể ghi nhận
những vần thơ trích trong trường ca “Hãy đi mãi” sau đây
là tuyên ngôn sống của Trần Dần:
“Tôi chửa có
khi nào quên táo bạo
chửa khi nào quên hát
........ quên đau .
Tôi yêu đất mẹ đây ---
....... có cỏ hoa làm chứng
Tôi yêu chủ nghĩa này
....... cờ đỏ cãi cho tôi
.
Nhưng
...... chẳng thể rúc kèn
củ rích ,
vác loa mồm kêu :
...... "Hiện tại rất thiên
đường !"
Không !
Thiên đường chúng ta
....... là nối đuôi nhau
....... vô tận triệu Thiên
đường .
Ði mãi
...... chẳng bao giờ thỏa
.
Tôi có thể mắc nhiều
...... tội lỗi,
chẳng bao giờ quá ngu đi
....... mắc tội : nằm !
Han rỉ
....... khác gì cái chết
?
Chết con tim chẳng còn dám
đau thương .
Chết khối óc
........... chẳng còn dám
nghĩ !
Nếu
..... tôi chửa đến ngày
thổ huyết
phổi tôi còn xâu xé mãi
.............. lời thơ .
Tôi có thể mặc thây
............. ngàn tiếng chửi
tục tằn
trừ tiếng chửi : ---
..........."Sống không sáng
tạo !"
………
Tôi vẫn nâng chiếc
đầu lâu
............... nặng nề sáng
tạo
như
.... nâng một viễn vọng
đài
Và trong trường ca “Đây,
Việt Bắc”:
“Hãy thù ghét
mọi ao tù
nơi thân ta rữa mục
mọi thói quen nếp-nghĩ
mù loà!
Hãy sống như
những con tàu
phải lòng
muôn hải lý
mỗi ngày
bỏ sau lưng
nghìn hải-cảng-mưa-buồn!”
Tư duy sáng tạo đánh vật
trong con người Trần Dần làm ông không thể chấp nhận hạnh
phúc đương thời: “Thôi đi những hạnh phúc - quần đùi
may sẵn! giầy dép - đóng sẵn! Số? Cỡ? Hạnh phúc chẳng
mua ở công ti-may mặc-sẵn? những si lip sách chẳng vừa…cóoc
sê jáo khoa ca mà thịt hở ” (Sổ thơ kể kệ 1976).
Ông cam đoan: “Chết đi,
tôi vẫn mất ngủ” (Sổ bụi 1988), cho nên đã mắng mỏ:
“Họ cứ vu oan mặt trời ngủ” (sổ bụi 1986).
Ông nhìn thấy niềm khắc khoải
sáng tạo cả nơi con chim rừng Việt Bắc:
“Chính
chiếc nôi Việt Bắc
bế bồng ta
qua
tất cả
tháng năm đầy lửa
nuôi ta
nuôi cách mạng lớn khôn
Ta bầu bạn
củ khoai môn
nương sắn
Bạn
con chim mất ngủ
rừng già…”
(Đây Việt Bắc)
Và ông kiêu căng, tự hào,
vững tin ở thành quả sáng tạo của mình:
“Anh mới đấm lên trời
dăm quả đấm
bây giờ anh
ngồi
chết
một gian buồng
bốn bức tường
nó giữ chịt người
anh
để giáo dục anh về nhiều
chuyện
và chuyện yêu
- là chuyện chúng mình...
Em đọc kỹ
trang thơ này nhé
Em đếm xem
bao chữ
bao vần
cũng tựa bao đêm
em ngắm sao trời
em đã thấy
một vì sao
ngất ngưởng
vì - sao - anh
nó chuyển bến bên trời
đuôi nó cháy - đúng là
vì sao dữ
Anh cho phép
em khóc nhiều
khóc nữa
Em ơi
tình yêu em
không có tuổi bao giờ
mươi thế kỷ
vì sao
anh
vẫn cháy...
(Tình yêu)
Dương Tường từng khẳng định
Trần Dần là nhà cách tân thơ số một của Việt Nam. Ông
giải thich:
"Suốt một thời gian dài, thơ
Việt Nam nằm trong quỹ đạo của Thơ Mới. Người đầu tiên
tạo nên một vết cắt, đưa thơ Việt Nam ra khỏi quỹ đạo
đó là nhà thơ Nguyễn Đình Thi. Nhưng Nguyễn Đình Thi không
đi hết con đường của mình. Còn Trần Dần, từ những ảnh
hưởng của Maiakovski, ông chuyển sang viết Jờ Joạcx, Mùa
sạch... với những cuộc tìm kiếm không ngừng đến cái
mới. Thơ Trần Dần đầy chuyển động, không bao giờ lặp
lại chính mình, nhưng vẫn giữ nguyên cái cốt cách Trần
Dần".
Trần Dần từng kêu gọi "Phải
chôn Thơ Mới" ...."phải viết khác đi, phải cách tân, phải
quên những thành tựu của tiền chiến để sáng tạo nên
những thành tựu mới, phải cướp được độc giả của
tiền chiến"...
“Tệ” hơn, ông
còn đòi “chôn” cả Nguyễn Du: “Với tôi, Du (Nguyễn
Du), Hương (Hồ Xuân Hương), Khiêm (Nguyễn Bỉnh
Khiêm), Quát (Cao Bá Quát) hay Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng
Chương là thầy. Nhưng học trò phải "chôn" thầy. Thơ nay
hầu như vẫn đặt nghĩa. Tôi đặt thơ là chữ. Con chữ nó
làm nghĩa. "Mai sau dù có bao giờ" là con chữ "Chữ tài liền
với chữ tai một vần" là đặt nghĩa”. Bởi vì, ông
tuyên bố: “Tôi đã leo nhiều ngõ cụt cổ điển”
(Sổ bụi 1979). Ông đòi hỏi nhà văn phải là: "Kẻ viết?
đạp đổ chân trời?xổng xích các chân mây?" (Sổ bụi
- 1985).
Bộ sách Trần Dần ghi 1954-1960
gồm ba quyển: quyển một là những suy nghĩ về sáng tạo,
quyển hai chụp lại thời kỳ đấu tố với những hình ảnh
khủng khiếp kinh hoàng, quyển ba viết về cuộc sống con người
trong những năm bị cầm tù.
Trong quyển một, có những
dòng sau:
- Người Sáng tạo
là đại biểu cho Tương lai. Nên hắn mâu thuẫn rất mạnh
với Hiện tại.
- Người Sáng tạo chỉ làm chủ được ở Tương lai. Còn
ở Hiện tại, hắn phải chịu như là thua, nhường cho những
kẻ tầm thường khác làm chủ.
- Nếu có chịu
được búa rìu của thành kiến mới có thể làm người sáng
tạo được. Phải có dạ lim trí sắt.
- Phải có gan đứng
lên trên dư luận, chửi mắng, mưa bão. Phải biết đạp mưa
xéo gió. Phải phá vỡ cái luân-lý-hiện-hành, những nguyên
tắc tục lệ hiện nay đang làm chủ. Đó là bỏ cái ba lô
của hiện tại, mới có thể xốc tới tương lai.
- Số phận người
sáng tạo bao giờ cũng phải chịu hiểu lầm, chịu
những sấm sét của cái cũ nó phản công. Vì người sáng
tạo là kẻ thù không đợi trời chung của cái cũ. Mà cái
cũ nó không chịu chết ngay, nó nhiều kế độc, hại ngầm
và hại ra mặt.
Điều kiện tiên
quyết để sáng tạo: Tự do -
Năm 1946, chàng trai
Trần Dần 20 tuổi đã dắt một bạn gái du ngoạn Huế. Sau
42 năm mưa dập gió vùi, tháng 5 năm 1988 ông mới có dịp trở
lại Huế cùng Phùng Quán - người vừa cùng ông được "trở
lại" Hội Nhà Văn Việt Nam - Hai nhà thơ ghé thăm Hội Văn
Nghệ tỉnh, gặp gỡ gần 100 nghệ sĩ và trí thức đang công
tác tại Huế. Trong buổi này, trả lời câu hỏi “Anh quan
niệm thế nào về đổi mới hiện nay?” của Hoàng
Phủ Ngọc Tường, Trần Dần đã nói: “Theo tôi, đổi
mới là tạo nên sáng tạo. Phải để cho các thế hệ tự
do sáng tạo. Nếu nói Trần-Dần-Giá-Trị, đấy phải là Giá-Trị-Tự-Do”.
Tự do với Trần Dần là giá
trị, là ý nguyện, là bản thể. Đến nỗi cảm thấy
Quả Đất này với ông thật chật chội: “Tôi chẳng phải
tù binh quả đất” (Sổ bụi 1979), vì ông nghĩ rằng:
“Tôi chôn rau ở tận trời sao. (Sổ thơ 1973).
Trong nhật ký
ngày 20/12/54 của Trần Dần người ta đọc được những dòng
sau: " Cơ quan văn nghệ chưa có gì thay đổi. Vẫn những
tư tưởng: "coi rẻ lao động nghệ thuật", "đơn giản coi
văn nghệ bộ đội là bộ đội", không tin văn nghệ". Vẫn
những chính sách gò bó, mệnh lệnh và máy móc "quân sự hoá
văn nghệ". Đời tôi chìm chết trong chính sách này, cũng như
những anh em khác. Khó lắm. Nhưng tôi nghe nhiều tiếng cất
lên. Phản đối. Bàn cãi. Mỉa mai. Và cả chửi bới. Cái
đó có nghiã là tiếng trống báo tử của những tư tưởng
và chính sách áp chế văn nghệ bộ đội. …”.
Đầu tháng 10 năm
1954, Trần Dần được cử đi Trung Quốc 2 tháng để viết
bản thuyết minh cho phim “Chiến thắng Ðiện Biên Phủ”.
Phụ trách đoàn là một cán bộ chính trị. Vì ý thức tổ
chức, lúc đầu Trần Dần rất phục tùng người cán bộ
chính trị khi dự thảo thuyết minh, và hoàn toàn theo sát những
vấn đề chính trị sẽ đặt ra khi thuyết minh. Nhưng rồi,
khi ông cán bộ công nông lập trường macxit thô bạo “tối
hậu quyết định cả từng câu chữ” thì Trần Dần bỏ
mặc, nhường cả phần “văn chương” cho đồng chí cán
bộ kia. Những dòng nhật ký trên ghi lại sự búc bối sau
chuyến đi đó.
Trần Dần phàn nàn:
“ Có thể nói ngày nay trong văn chương chúng ta có lắm
điều giả tạo (có thể nói đạo đức giả). Văn chương
viết theo hình thức, mẫu mực sẵn có, đơn giản hóa và
ấu trĩ. Các nhà văn đóng khung sẵn và bắt buộc sự thật
phải đi vào khung ấy”.
Ông đòi hỏi: “Trách
nhiệm cao cả của nhà văn là tôn trọng chân lý. Đó là tiêu
chuẩn cao cả để đánh giá nhà văn và tác phẩm. Tôn trọng
chân lý là bổn phận, là trách nhiệm, là căn bản, là phương
pháp của nhà văn trong công việc của họ”.
Ông nã súng liên tục
vào sự “bóp gò sự thực vào chính sách”:
"... Sự thực
lớn gấp triệu triệu lần bất cứ chỉ thị, lý luận nào...
Nếu như sự thực ngược lại chính sách chỉ thị, thì phải
viết sự thực chứ không phải là bóp gò sự thực vào
chính sách. Không bao giờ được biến chính sách, chỉ thị
thành định kiến "đinh ninh"... "... Người viết chỉ viết
do thôi thúc của thực tế.Những
chân lý lớn, nhỏ, anh ta tự giác thấy ở cuộc sống, ở
quân đội. Không phải viết để vừa lòng Tuyên huấn, vừa
lòng cấp trên. Để có cái danh phục vụ kịp thời. Một
triệu lần, không có mùi mè giác ngộ, phục vụ gì cả! Cái
áo không thể che được mùi thối trong ruột. Cách mạng không
cần những người vỗ tay hoan hô nhắm mắt. Những anh hót
ca chính sách. Thậm chí những anh "thày cúng chính sách", leng
keng bóp méo, nghèo nàn...”.
Ông ráo riết quảng
bá:
“Tôi nghe người ta nói đừng
viết cuộc sống telle qu'elle est (cuộc sống như nó đang
diễn ra) mà phải viết la vie telle qu'elle doit être! (cuộc
sống như nó phải được diễn ra) - Tôi lại hiểu rằng:
viết cuộc sống telle qu'elle est tức là viết cuộc sống telle
qu'elle doit être.- Tôi hiểu rằng không có gì đẹp hơn, không
có gì cao cả hơn, không có gì cộng sản hơn là: Sự Thực
không tô điểm, Sự Thực trần truồng. Và cũng không có gì
xấu hơn, không có gì yếu ớt hơn, phi cộng sản hơn là Sự
Thực tô điểm, Sự Thực mặc áo hồng, áo xanh, áo hoa. Tôi
nói rằng, dù áo hoa đó thích hợp, dù sự tô điểm đó là
tô theo phương hướng thực của cuộc sống thực, thì cái
áo đó và sự tô điểm đó vẫn cứ là không đáng tán thành.
Cuộc sống cởi truồng, nó có ý nghĩa như những sự tô điểm
và những bộ áo đẹp và lý tưởng nhất. Màu da của cuộc
đời toute nue, đó là tất cả các bộ áo của trần gian rồi]
(trích những dòng ghi từ 16/9 đến 1/10/54, trang 43-48).
Còn phải thấy rằng,
không phải đến dưới ách chuyên chính vô sản con người
tự do trong Trần Dần mới thấy ngột ngạt. Trong bài thơ
đầu tay viết trước cách mạng Tháng Tám Trần Dần đã thấy
“Những ngọn đèn mờ trên phố lạnh”, đã thấy
“núi Cô Sơn hờn tuế nguyệt”.
Bài thơ có tên
“Hồn xanh kỳ dị”: “Ta từ biển vắng về đây
mộng/ Gặp lúc Thăng Long lụi ánh đèn/ Những ngọn đèn mờ
trên phố lạnh/ Đời đương yên giấc biết ai tìm?/ Ôi kẻ
xa chơi lẻ trúc đình/ Quê nhà ai khóc? Lệ ai xanh?/ Hồn em
mây chở về đâu nhỉ?/ Có gặp buồn trong cuộc lữ trình/
Kìa núi Cô Sơn hờn tuế nguyệt/ Kìa vầng trăng héo nẻo
ra đi/ Nửa đêm trở giấc trong phòng lạnh/ Chợt thấy hồn
xanh đến dị kỳ”.
Và rồi Trần Dần đã cùng Trần
Mai Châu, Đinh
Hùng, Vũ
Hoàng Địch, Vũ
Hoàng Chương thành lập nhóm thơ tượng trưng “Dạ đài”
với
tuyên ngôn 16-11-1946: “Chúng tôi - một đoàn thất thố - đã
đầu thai nhằm lúc sao mờ...Chúng tôi đã sống, sống hết
cả những hình thức dương trần, đã đau khổ hết cả những
mối sầu vui nhân loại. Thế cho nên chúng tôi - thi sĩ tượng
trưng – chúng tôi có nói cũng chỉ là nói cái tâm trạng
của thời nhân, của những thời nhân đã có ngày cô độc…”
Tháng 2 năm 1955 Trần Dần viết
bản “Đề nghị Chính sách Văn nghệ”. Với sự góp
ý của Tử Phác, Đỗ Nhuận, Hoàng Cầm, Trúc Lâm, Hoàng Tích
Linh.
Bản Đề nghị dài 12
trang đánh máy nêu các yêu cầu tự do sáng tác, trả quyền
lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ, thủ tiêu hệ thống
chính trị viên trong các đoàn văn công quân đội, sửa đổi
chính sách văn nghệ trong quân đội ….
Ban đầu đã có nhiều ý kiến
thuận. Một vài cán bộ cao cấp trong quân đội như Lê Liêm,
Lê Quang Đạo, Trần Độ đã ủng hộ nhưng ông tướng Nguyễn
Chí Thanh - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị - bỗng vung đại
đao sát thủ: “Tinh thần bản đề nghị này chính là
một thứ tư tưởng tự do của tư sản. Nó chứng tỏ tư
tưởng tư sản đã bắt đầu tấn công vào các đồng chí!”.
Thế là Trần Dần đành xin
xuất ngũ, xin bỏ Đảng để được đạp qua những quy định
của sự kỳ thị độc ác về thành phần giai cấp, về lý
lịch gia đình, để sống chết với tự do ái tình, để cứ
thế mà xăm xăm yêu và sống với Bùi thị Ngọc Khuê, một
người con gái con nhà tư sản. … Hơn thế nữa, còn đi đạo.
“Tệ hại hơn”, còn bỏ thiên đường XHCN, theo địch vào
Nam.
… Thế là, ông kêu gọi dấn
thân vươn tới tự do dù quằn quại xót đau:
"Ðừng ngại mây che từng
cây số buồn rầu!
Ðừng ngại mở trong lòng
vài khung cửa nhớ...
Thì hãy lấy mùi soa đêm
chùi đôi mắt khổ
Hơn là mỏi răng nhai ràu
rạu vỉa hè"...
… Thế là, ông vật vã hành
xác, sám hối cùng tự do:
“Tôi vẫn thế! Vết nhăn
bổ dọc trán…
Tôi có gì đau?
Đau có vì gì?
Ai bảo tôi cách nào thoát
khỏi chấn song tôi?....
Lậy tất cả! Tha cho tôi
Cả những lỗi tôi làm
Cả những lỗi người khác
phạm
Tha cho tôi. Tôi không đánh
vỡ gì cả
Tôi chỉ đánh vỡ của
mọi người một mảnh sống: đời tôi”
(Đường Cùng - Tập
thơ Cổng Tỉnh)
Trong cơn vật vã, ông nhìn
thấy
“Ai mửa sao đêm đầy các
ngõ để hầm hập bồ hôi cơn sốt phố về đêm?”
(1959)
Và, xin hãy đọc lại bài thơ
“ Nhất định thắng”. Ở đấy đâu chỉ có cái điệp
khúc than thở: Bước đi không thấy phố, không thấy nhà mà
là lời kêu gọi thiết tha xả thân đấu tranh không chỉ cho
Thống nhất, Độc lập mà là Dân chủ. Dân chủ với Tự
do. Dân chủ để được Tự do.
“..... thành phố
..... thôn quê
Ðói no lành rách
Người đang vui
Người sống đang buồn
Tất cả !
.... Ra đường !
Ði !
.... hàng đoàn
.... hàng đoàn
Ðòi lấy tương lai :
HÒA BÌNH
.... THỐNG NHẤT
.............. ÐỘC LẬP
........................DÂN
CHỦ
Ðó là tim
.... là máu đời mình
Là cơm áo ! Là ái tình
Nhất định thắng”.
Mục tiêu cao cả và thiêng
liêng như vậy nhưng năm 1956 khi bài thơ “Nhất định thắng”
in trong “Giai Phẩm” thì Trần Dần đang bị giam ở Việt
Bắc.Tờ tạp chí bị tịch thu ngaỵ Trần Dần bị gọi về,
mang ra đấu tố giữa một cuộc hội nghị gồm đông đủ
các văn nghệ sĩ. Ông bị quy rằng trong các bài thơ của mình
đã dùng chữ "Người" viết hoa để ám chỉ, đả kích cụ
Hồ. Trại giam Việt Bắc, do vậy, với ông, vẫn được xem
là thoáng đãng quá, tự do quá, người ta phải tống ông vào
nhà pha Hỏa Lò ở Hà Nội cho hả cơn. Uất ức quá, Trần
Dần dùng lưỡi dao cạo cứa cổ, nhưng không chết. Trong bức
ký họa của Nguyễn Sáng, cái sẹo ở cổ Trần Dần được
đặc tả rất rõ.
Không phải chỉ ”quyết
Thơ phải khua gió bão” –
Có người nói Trần Dần “chết”
vì tự do vô kỷ luật. Quả có vậy. Không “chết”
sao được khi một anh bộ đội cụ Hồ mà dám xông tới tỏ
tình mãnh liệt đến mức nữ chiến sỹ đồng đội hoảng
hồn bỏ chạy.
Có người bảo Trần Dần “chết”
vì ngông nghênh quá. Không sai. Với một nhà thơ được tôn
vinh là ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam, đang
trên đường trở thành ứng cử viên Tổng Bí thư ĐCSVN mà
sao Trần Dần dám hạ bút phê:
"Nói chung thơ Tố Hữu
có rất nhiều cái lười biếng. "Ý lời tầm thường
(...), rất nhiều cái kiểu "lòng ta xao xuyến, rung rinh", - "chúng
bay chỉ một đường ra, một là tiêu diệt hai là
tù binh", - hoặc "đời vẫn ca vang núi đèo", hoặc
"Cụ Hồ sáng soi". Không phải là thiên lệch trích ra
một số câu như vậy, hãy đọc lại cả tập Việt Bắc xem,
ta thấy nhan nhản những lối lười, nhạt, cả lảm nhảm
nữa (...) Phá đường: "Nhà neo việc bận vẫn đi" - làm thì
thi đua -, thi đua kết quả thì rồi mai địch chết. Ta đi
tới: đủ cả Bắc Nam, Việt, Miên, Lào, Itsala, Itsarắc...
xem ra thì có vẻ đúng chính trị. Nhưng xét sâu xem? (...) Tố
Hữu nhìn sự vật nó chính trị công thức quá, lười tìm
tòi quá. Chỗ nào hay thì là lập lại Nguyễn Du, Tản Đà.
ca dao... Tố Hữu chưa đem tới một cái nhìn mới mẻ gì.
(Trần
Dần ghi, trang 141).
Nếu “chết” vì như
vậy thì thật oan và tội nghiệp cho Trần Dần. Ông không
ngông nghênh, không kèn cựa, không kỳ thị Tố Hữu. Hãy nghe
ông tâm sự trong buổi họp mặt năm 1992 cùng hơn trăm đồng
nghiệp và bạn đọc tại Huế:
“Tôi với anh Phùng Quán
còn thân hơn anh em. Nhưng thơ anh Phùng Quán là thơ quảng trường.
Cũng như anh Hoàng Cầm, anh Phùng Quán đọc thơ rất lôi hút
người nghe. Tôi lại không thích thơ để đọc (cho nhau
nghe). Tôi nghĩ cái tai ngu hơn cái mắt. Trần Dần thì con
mắt chạy vào trong, nhưng thơ thì mỗi người mỗi kiểu..
Có kiểu bầy thơ, thơ triển lãm. Tôi làm thơ mini ….”
Nào phải ông chỉ chê người
khác, ông chê cả chính mình:
"Tôi vừa viết xong cuốn
Người người lớp lớp. Viết về chiến tranh ở Điện
Biên Phủ đấy. Nhưng mà tôi chán rồi. Tại vì rằng
tôi ít thấy sự thực của chiến tranh trong đó quá. Và vì
rằng tôi ít thấy sự thực của bản thân tôi trong đó quá.
Chưa phải là chiến tranh, chưa phải là tôi. Cho nên tôi viết
tới hơn 300 trang mà không thích bằng một bài thơ tôi cũng
mới làm về chiến tranh: "Anh đã thấy" (mes douleurs) trên dưới
có 6 trang!" (Trần Dần ghi, trang 47).
Ở Trần Dần ta gặp lại quan
niệm phê phán rất trong sáng của Nietzsche: "Phê phán không
phải là phản ứng của sự phẫn hận mà là biểu hiện tích
cực của một lối sống tích cực: tấn công nhưng không trả
thù", “Phê phán là sự phá hủy trong tư cách là niềm vui,
là sự xâm hấn của kẻ sáng tạo”. Trần Dần từng nói:
“Nói tóm tắt: tôi ghét những lối tạo hình ảnh dễ
dãi, tầm thường, hủ lậu. Đó là đặc tính của những
người và những giai cấp sắp chết”.
Cho nên, chính Tố Hữu
đã nói rất đúng về lý do “chết” của Trần Dần:
“Hành động của bọn Nhân Văn không phải là câu chuyện
văn nghệ đơn thuần mà là cả một âm mưu chính trị”
(*)
Quả vậy, chính Trần Dần
thú tội đam mê chính trị:
“Tôi vẫn quyết Thơ phải
khua bão gió
Nhưng hôm nay
....tôi bỗng cúi đầu
Thơ nó đi đâu ?
....Sao những vần thơ
Chúng không chuyển, không
xoay trời đất ?
Sao chúng không chắp được
cõi bờ ?
Non nước sụt sùi mưa
Tôi muốn bỏ thơ
... làm việc khác
Nhưng hôm nay tôi mê mải
giữa trời mưa
Chút tài mọn
... tôi làm thơ chính trị”
Làm thơ chính trị, lại làm
văn chính trị nữa, như chính Trần Dần đã thú nhận:
“Còn sáng tác tôi chỉ
xin đơn cử vài ví dụ:
-
“Nói thật” (thơ) cho rằng
cán bộ ta không dám nói thực với Đảng, nên mới xẩy ra
như Cải cách ruộng đất, và công thức trong xã hội.
-
“Nhân văn làm lớn mọi con
người” (thơ) nhân để hoan nghênh Đại hội lần thứ hai
mươi để chửi cán bộ ta là không dám suy nghĩ, là chỉ suy
nghĩ bằng cấp trên. Chỉ có tôi (và báo Nhân văn) là có
óc suy nghĩ đối lập, không giao cho bất cứ ai suy nghĩ hộ
mình!
-
“Một bài thơ chưa có đề”.
Tôi đánh “Những nhà thơ ti tỉ đờn bầu” (ám chỉ trường
thơ Tố Hữu). Cho là xoàng cả. Chỉ có tôi là nhà thơ “Vận
tải trên mọi mặt trận của quần chúng hàng tấn cả gan”.
Tự xưng hùng xưng bá trong thơ ca như vậy.
-
“Chú bé làm văn” (truyện)
nhà chú khổ nhưng chú phải làm một bài văn “Tả cảnh
gia đình êm ấm của anh trong một buổi tối”. Thế là chú
bé nói giối suốt bài văn. Mục đích bài này là để vu cáo
cho ta giáo dục mọi người nói dối từ thuở bé, cho rằng
sự giáo dục của ta, là chỗ dựa, là cơ sở của nạn bôi
hồng trong văn nghệ.
-
“Mâu thuẫn với cả nước”
Tả một anh nhạc sĩ bất tài, chỉ có tài sử dụng lập
trường (ám chỉ Lương Ngọc Trác) nên được trên tin cậy.
Còn anh nhạc sĩ khác có tài, mâu thuẫn với anh nhạc sĩ kia,
thì lại bị kiểm thảo, đâm ra mắc lỗi “mâu thuẫn với
cả nước”. Bài này đánh và xuyên tạc chính sách đối
với cán bộ văn nghệ của Đảng.
-
Vân vân… như “Cái đầu
trọc”, “Mẹ sự đời”… đều là cái loại đả kích
vào các chính sách của Đảng cả. Nếu đọc cả một đống
như thế người ta sẽ cảm thấy sự lãnh đạo của Đảng
là một sự ngột ngạt, không thể nào sống nổi.
Đi đôi với những sáng tác
như thế tôi phát ra những luận điệu bênh che cho nó. Chẳng
hạn sáng tác phải phát hiện mâu thuẫn xã hội; người sáng
tác phải có quyền và có gan như nhà viết sử thời xưa,
vua chém đi hàng sáu người, đến người thứ bảy vẫn chép
sử đúng như sự thật, vua đành phải chịu vậy. Hoặc nói
người sáng tác phải đi đầu, bây giờ là phải đứng ở
mũi nhọn đấu tranh với chủ nghĩa Staline… Toàn là những
luận điệu phỉnh nịnh và hô hào người ta đi vào con đường
chống Đảng” (**).
Không chỉ làm thơ, làm văn,
dịch thuật cũng với ý đồ chính trị:
“Không những chỉ trong
sáng tác, ngay trong việc dịch tôi cũng vẫn nhằm quan liêu
mà đánh; Ví dụ dịch Bretch Cái mặt nạ hoặc Những người
ở trên không ở đó mãi đâu. Hoặc đánh vào lãnh đạo văn
nghệ, dịch Gorki, Tchékov cho người ta thấy sự lãnh đạo
của mình gò bó ngòi bút. Dịch Le portrait của Gogol để nói
một điểm: Vẽ cho bọn quý tộc là con đường tiêu ma nghệ
thuật. Hoặc góp thêm vào cái ảm đạm của tình hình, tôi
dịch Crime et Châtimentcủa Đốt, tôi nghĩ xã hội này thì
hoặc là cười (tiếu lâm) hoặc là khóc mà phản đối nó
mà thôi! Vân vân…”. (**)
Không chỉ “làm thơ chính
trị”, làm văn chính trị, làm dịch thuật chính trị,
ông còn hiệu triệu chính trị:
"... Ngày nay, trong văn chương,
kẻ thù ghê tởm là chủ nghiã công thức, giản
đơn sơ lược. Phải nói trắng ra là nó ở cả người
viết, ở cả xã hội... Cho nên chống công thức giản đơn
sơ lược không phải là chỉ làm ở người viết mà được
đâu. Nó phải là một mặt trận lan ra cả xã hội...”.
Không chỉ hiệu triệu, ông
còn cần cù làm tổ chức để thực hiện tư tưởng cách
mạng của mình.
Có thể xem Trần Dần là mảnh
sót của nhóm Dada. Nhóm Dada hoạt động chỉ trong bốn năm
1916-1920, nhưng nguồn sinh lực “hậu hiện đại” trong văn
học Việt Nam còn để lại dư hưởng trong “Xuân Thu nhã
tập”, “Thi sĩ Tượng trưng” mà hiện thân xuất sắc là
Trần Dần ở Hà Nội, Thanh Tâm Tuyền ở Sài Gòn.
Cầm tấm bằng tú tài Triết,
khi Kháng
chiến chống Pháp bùng nổ, Trần Dần trở về quê hương
Nam
Định tham gia công tác thông tin tuyên truyền ở huyện
Vụ
Bản rồi làm việc ở Sở Tuyên truyền Khu IV.
Năm 1948,
khi tham gia Vệ
quốc quân, ở Ban Chính trị Trung đoàn 148 Sơn La (nay thuộc
Sư
đoàn 316), ông đã cùng Trần Thư, Hoài Niệm tham gia sáng
lập nhóm văn nghệ quân đội đầu tiên - Nhóm Sông Đà.
Tham gia Nhân Văn Giai phẩm,
ông thú thật đã đi tiên phong xét lại chủ nghĩa Mác:
“Chúng tôi đi sâu vào kiểm
điểm sáng tác hơn nữa. Kiểm điểm sáng tác cho sâu mới
thật là khó sao! Cứ như phải rứt bỏ một mảng thịt của
mình …. Tôi chịu cái hình phạt ấy, nhẫn nại và đau khổ.
Hình phạt của một người bị bung dừ ... Tôi vừa là một
tội nhân, vừa phải cố tách mình ra, làm một đao phủ thủ,
hành hạ cái chủ nghĩa xét lại có thực trong tôi và đám
Nhân Văn." (Trần Dần ghi trang 244).
“Sau “Nhân văn”
tôi xin ra bộ đội … nhìn phe ta, Đảng ta như là Stalinisme,
và coi việc sáng tác là để đả kích vào đó”. (**)
Theo báo Nhân Dân, hiện tượng
ly khai ĐCSVN của Trần Dần đã dấy lên một phong trào cuốn
theo ông, bỏ Đảng.
Và ngày nay, phải chăng trong
các cuộc biểu tình ta còn nghe vang vọng lời giục giã của
Trần Dần:
“Nhưng sự kiện thế giới
trong nước ngấu trong tôi. Nhiều lúc tôi cũng mong có những
cuộc biểu tình, chủ yếu là văn nghệ, sinh viên và trí thức,
thật có trật tự không đổ máu, để mà yêu sách Trung ương
cải tổ chính sách nới rộng dân chủ!” (*)
Như để thanh minh cho Trần
Dần Goerge Boudarel từng viết: “Năm 1943, anh có quan hệ với
nhà xuất bản Hàn Thuyên in sách Macxit có khuynh hướng Trốtkít
(của Trương Tửu dưới bút danh Nguyễn Bách Khoa, Lương Đức
Thiệp) hoặc những cuốn sách tựu cho là thuộc Đệ Tam Quốc
tế. Liệu có thể suy ra đó là Trần Dần có tham gia chính
trị? Xét bối cảnh thì thấy xu hướng câu trả lời là chữ
“không” ”.
Tôi không đồng ý với
G. Boudarel, Trần Dần là người có ước nguyện chính trị
từ trong huyết quản. Ông đã làm chính trị vương đạo,
đã dấn thân quả cảm, đã hy sinh oanh liệt và rất vinh quang
vì làm chính trị.
Tôi cũng không đồng ý với
việc sửa mấy câu thơ của Trần Dần: "Tôi yêu đất nước
này có cỏ cây làm chứng / Tôi yêu chủ nghĩa này cờ đỏ
cãi cho tôi", thành ra: "Tôi yêu đất mẹ này có cỏ
hoa làm chứng / Tôi yêu đại nghĩa này nhật nguyệt cãi cho
tôi".
Chắc chắn Trần Dần, cũng
như chúng ta, đã từng yêu cái chủ nghĩa dương cao lá cờ
đỏ búa liềm. Nhưng đúng như Bí thư đảng
CS Nam Tư Milovan Djilas đã nói: "20 tuổi mà không theo Cộng
Sản, là không có trái tim, 40 tuổi mà không từ bỏ Cộng
Sản, là không có cái đầu".
Trần Dần,
cũng như Trần Độ theo Cộng sản để “Những mong xóa ác
ở trên đời” nhưng khi thấy nó quay lại tước đoạt tự
do của con người, của sáng tạo thì phải làm chính trị
để chống nó.
Viễn kiến Trần Dần
–
Sau 1954, trước hiện tượng
từng dòng người bỏ Miền Bắc di cư vào Nam, báo chí của
Đảng lên án họ là những phần tử phản động theo địch
phản bội tổ quốc, là bị lừa gạt theo Chúa, là ngại khó
ngại khổ bỏ quê đi tìm bơ thừa sữa cặn của tư bản,
đế quốc …. nhưng Trần Dần thì đã nhìn thấy cái nguyên
nhân sâu xa tự bên trong.
“Tôi muốn khóc giữ từng
em bé
Bỏ tôi ư? -- từng vạt
áo -- Gót chân
Tôi muốn kêu lên -- những
tiếng cọc cằn ...
- Không ! Hãy ở lại !
Mảnh đất ta hôm nay dù
tối
Cũng còn hơn
.... non bồng Mỹ triệu
lần ...
Mảnh đất dễ mà quên?
Hỡi bạn đi Nam
Thiếu gì ư? Sao chẳng nói
thực thà?
Chỉ là :
- thiếu quả tim, bộ óc
!
Những lời nói sắp thành
nói cục
Nhưng bỗng dưng tôi chỉ
khóc mà thôi
Tôi nức nở giữa trời
mưa bão .
Họ vẫn ra đi” .
(Nhất định thắng)
Cái nguyên nhân sâu xa ấy càng
được chứng thực, càng hiển hiện qua đợt di cư ào ạt
hơn sau thống nhất đất nước 1975.
Đánh thắng đế quốc Mỹ.
tổng bí thư Lê Duẩn huyênh hoang tuyên bố: Đất nước từ
nay vĩnh viễn sạch bóng quân thù. Nhưng Trần Dần tiên đóan:
“Mỗi bước đi lại một
bước trưởng thành
Thắng được Chiến tranh
... Giữ được Hòa Bình
Giặc cũ chết --- lại lo
giặc mới
Ðoàn quân ấy kẻ thù sợ
hãi
Chưa bao giờ mất bụng
dân yêu
Dân ta ơi ! Chiêm nghiệm
đã nhiều
Ai có Lý ? và ai có Lực
?
Tôi biết rõ đoàn quân
sung sức ấy
Biết nhân dân
... Biết Tổ quốc Việt
Nam này
Những con người từ ức
triệu năm nay
.... Không biết nhục
........ Không biết thua
.............. Không biết
sợ ! ”
(Nhất định thắng)
Quả nhiên, năm 1979 Đặng Tiểu
Bình đã dạy cho Lê Duẩn một bài học, và ngày nay rõ rang
ai cũng thấy: “ Giặc cũ chết … lại lo giặc mới”.
Chúng đang trắng trợn xâm lăng Biển Đông. Bọn giặc mới
này còn đáng lo hơn, đáng ghê tởm hơn, đáng khinh bỉ hơn
bất kỳ bọn giặc cũ nào.
Cho nên ngay từ chuyến đi làm
thuyết minh cho bộ phim “Điện Biên phủ”, được tiếp
xúc với nền văn hóa và xã hội Trung Quốc, trở về ông
đã nói lên dự cảm này: "Chớ nên theo đường lối văn nghệ
của Trung Quốc".
Trần Dần đã vạch rất đúng
nhiều nguyên nhân sâu xa tự bên trong của các sự kiện trong
và ngoài nước:
“Hồi ấy mọi chính sách
và nhận định về thời sự của Đảng ý kiến của tôi
đều đối lập. Ví dụ: Cải cách ruộng đất ruộng đất
theo tôi không thể gọi là thắng lợi căn bản. Vấn đề
Hung-ga-ri, tuy công nhận địch là nguyên nhân trực tiếp, song
tôi nhấn mạnh đến nguyên nhân sâu xa là tập đoàn Racôxi.
Vấn đề tự do và chuyên chính, tôi nói: Ta thừa chuyên chính
bố láo rồi, chỉ thiếu tự do thôi. Nhất là trong địa hạt
văn nghệ thì không thể nào dùng biện pháp hành chính được”.
(**)
Tổng bí thư Lê Duẩn không
chỉ huênh hoang tuyên bố vĩnh viễn sạch bóng quân thù mà
còn hợm hĩnh cho rằng đã lãnh đạo đánh thắng được đế
quốc trùm sò thì sẽ lãnh đạo làm cái gì cũng được. Nhưng
ngay trong “Trần Dần ghi” khi chiến tranh vùa kết thúc, Trần
Dần đã tiên liệu và nhắc nhở:
“Cho nên bạn nói Chiến
tranh là rèn luyện;- bạn cần nghĩ thêm Hoà Bình cũng rèn
luyện, mà còn rèn luyện hơn là chiến tranh nữa”
“Chiến tranh rèn luyện.
Chúng ta được nhiều điều. Nhưng [...] tôi nói nó là bộ
xương. Chiến tranh làm chúng ta rắn xương rắn thịt, làm
cho tâm hồn chúng ta có hình cốt, có cái khung rất tốt rất
bền. Nhung bạn đừng lầm bảo rằng bộ xương đó là người,
hình cốt và cái khung là tâm hồn rồi đó. Nói vậy là một
sự dối trá”
“Hoà Bình rồi, người
ta mới có thể biết trong chiến tranh người ta đã mất
mát và thu hoạch được những gì. [...] Tôi nói rằng chúng
ta mất nhiều hơn. Tại vì tôi nghĩ tới chiến tranh và tội
ác của nó. Và tại vì tôi so sánh những cái thu hoạch 9 năm
chiến tranh vừa qua với những cái thu hoạch lớn hơn gấp
bội nếu 9 năm qua là 9 năm kiến thiết Hoà Bình. [...] Vì
thế tôi muốn viết nhiều, muốn viết những cái tôi chưa
dám viết. Và tôi muốn viết không có kiểm duyệt”.
Cho nên sau chiến tranh Trần
Dần càng háo hức sống, để được sáng tạo cật lực hơn,
để được bù đắp những gì ông chưa tọai nguyện.
Hãy đọc đoạn thư ông gửi
lãnh đạo sau kết thúc chiến tranh năm 1975:
“Rồi đám cháy tắt. Đất
nước dập tắt cái đám cháy ngoại xâm ấy. Mỹ cút...Tôi
hy vọng...vấn đề cuộc đời tôi lại đặt ra, ít nhất
cũng với tôi, vợ con, gia đình, ở ngưỡng cửa của Đất
nước chiến thắng...Tôi vẫn hy vọng. tôi còn ít nhiều năm
tháng. Còn một phần đời. Một phần đời, một ngày cũng
đáng sống. Dù một buổi chiều. Nhất là trong khi ngày ấy,
buổi chiều ấy, phần đời ấy dù là bé bỏng nhưng nằm
ở ngưỡng cửa Khải hoàn môn. Tôi hy vọng. Tôi còn một
phần đời. Để sống nó. Để làm việc.Con cái. Sự gây
dựng. Sự chuộc lại...Tôi xin sự giúp đỡ. Sự rộng lượng.
Ở các anh. Ở tổ chức”.
… Và những dòng thơ bi tráng
này:
“Dù bị vứt bên lề đường
Dù bị tàn tật
Ta vẫn khăng khăng yêu Tổ
quốc thật lòng
Dù manh tải đùm thân
Bị gậy bơ vơ trời không
che đất không chở
Dù đêm nghe gió quét gậm
cầu
Chỉ vài ánh sao lu làm củi
lửa
Ta vẫn khăng khăng yêu Tổ
quốc thật lòng
Dù chỉ còn một bên tai
Tai sẽ đón tiếng chim ru
Còn một bên tay - tay sẽ
quờ quào
Vục một chút màu xanh quê
cũ
Cho đôi môi khô uống một
hụm trời”
(Hy vọng)
Cảm phục biết bao nhiêu! Thương
xót biết bao nhiêu! Phẫn hận biết bao nhiêu!
Di sản lớn của Trần Dần
-
Nhờ lao động cật lực, lao
động có năng suất, Trần Dần đã để lại cho đời
một kho tác phẩm đồ sộ. Ngoài “Về nẻo thanh tuyền”
(Dạ đài) 1946. Phạm Thị Hoài trong bài “Trần Dần: cuộc
đời, tác phẩm, thời đại” (in trongTrần Dần ghi) đã điểm
danh những tác phẩm sau đây:
1954: Anh đã thấy, Tiếng trống
tương lai (trường ca).
1955: Cách mạng tháng Tám, Nhất
định thắng (bản Hoàng Văn Chí, in lại trong Trần Dần
thơ, nxb Nhã Nam Đà Nẵng, 2007)
1957: Hãy đi mãi, Đi! Bài thơ
Việt Bắc (trường ca), (nxb Hội Nhà Văn 1991) 1959: Sắc lệnh
59 (thơ), Con tàu xã hội (thơ), 17 tình ca (thơ).1959-1960: Cổng
tỉnh (thơ), (nxb Hội Nhà Văn 1994) 1961: Đêm núm sen (tiểu
thuyết) 1963: Jờ Joạc (thơ) (in trong Trần Dần thơ,
2007) 1964: Mùa sạch (nxb Văn học 1997), Những ngã tư và những
cột đèn (tiểu thuyết) 1965: Một ngày Cẩm Phả (tiểu
thuyết) 1967: Con trắng (thơ văn xuôi, in trong Trần Dần
thơ, 2007) 1968:177 cảnh (hùng ca lụa) 1974: Động đất tâm
thần (nhật ký thơ) 1978: Thơ không lời - Mây không lời (thơ
- hoạ) 1979: Bộ ba: Thiên Thanh - 77- Ngày ngày 1980: Bộ ba: 36
- Thở dài - Tư Mã dâng sao. 1987: Thơ Mini. (in trong Trần
Dần thơ, 2007).
Đấy mới kể về số lượng.
Mà chỉ là phần nổi của số lượng. Nhà thơ Dương Tường
cho biết: “Tôi nhớ khi đám tang anh Trần Dần xong, tôi soạn
lại di cảo của anh. Bề bộn. Một mình tôi làm vài ngày
đầu không xuể. May quá nhờ được Phạm Thị Hoài vốn học
ở Đức, khoa Thư viện, tôi gọi đến soạn cùng. Thưa với
các anh chị và các bạn là hơn 200 hồ sơ di cảo còn nằm
đấy. Còn nhiều thứ ở Trần Dần mà chúng ta chưa biết
lắm. Thơ thì còn Tư Mã dâng sao, 177 cảnh Jờ Joạcx,
rồi 36 thở dài… Tiểu thuyết còn Đêm núm sen,
Một
ngày Cẩm Phả, Những ngã tư và những cột đèn…
Đúng là phần chìm của núi băng”.
Song le, còn một phần chìm
thiêng liêng nữa, phần chìm tinh túy nữa, phần chìm nằm
trong chất lượng tác phẩm, trong lõi cứng của sáng tạo.
Nhà thơ Nguyễn Duy suy tôn:
“Nếu đời viết của đa số người cầm bút là công cuộc
tìm tòi, gom nhặt, sàng lọc chữ nghĩa, thì Trần Dần là
người chế tạo ra hệ ngôn ngữ mới”. “Trần Dần lặng
lẽ mài giũa ngôn ngữ, là tấm gương, là người thầy của
tôi”.
Nhà lý luận văn học Phạm
Xuân Nguyên: “…những con chữ Trần Dần sẽ khuấy động,
khuấy đảo tâm cảm mỗi người đọc và gây ra những phản
ứng thơ mạnh mẽ có thể khiến bàng hoàng trước một khối
năng lượng sáng tạo cực mạnh, cực lớn từ gần nửa thế
kỷ trước soi chiếu và phóng nổ vào hôm nay” (***)
Phó giáo sư, tiến sĩ Trần
Ngọc Vương: “Sáng tạo đích thực bao giờ cũng cô
đơn và không được chia sẻ. Một sự sáng tạo được mọi
người tung hô ngay thì chắc chắn sau đấy sẽ bị quên rất
nhanh. Chúng ta ngồi đây, ít nhiều đều là độc giả có
chuyên môn, nhưng liệu chúng ta có đủ tinh để cảm nhận
và hiểu biết những gì Trần Dần viết cách đây 3-4-5 chục
năm về trước? Không có chuyện tất cả đọc và hiểu đúng
Trần Dần ngay được. Tập thơ vừa rồi tôi đã mang về
đọc một cách cẩn thận, nhưng cũng có những chỗ bị bần
thần, không hiểu nguyên ý tác giả thế nào. Nhiều chỗ tôi
không hiểu và tôi kính cẩn sự không hiểu ấy. Bởi ít nhất
người ta cũng làm cho một đầu óc không đến nỗi mít đặc
như mình không hiểu được, mà còn phải tìm để hiểu cho
ra được lâu lâu nữa. Thế là sáng tạo, thế là cái gì
đó mới”
Nhà bình luận văn chương xuất
sắc Thụy Khuê: “Trần Dần thơ, ngoài những tác phẩm
tạm gọi là classique đã in như Bài thơ Việt Bắc và
Cổng
Tỉnh, còn có những tác phẩm mới hơn. Những thử nghiệm
thơ độc âm Mùa sạch, biến tấu âm con OEE, và
thơ bè Con I, còn nhiều cường điệu và nệ hình thức,
hoặc lập dị như Jờ Joạcx. Ngược lại, với Sổ
bụi và thơ Mini, Trần Dần thực sự đã thành công,
hai tác phẩm này xác định tinh thần cách tân thơ của Trần
Dần, khác với Đặng Đình Hưng và Lê Đạt. Vậy lần công
bố này, tầm quan trọng và sự độc đáo nằm trong Sổ
bụi, và thơ Mini. Sổ bụi, tập hợp lối ghi
chép đặc biệt Trần Dần: đó là những bài thơ văn xuôi
cô đọng, mới, đầy biến ảnh, thể hiện cái mỹ học
khổ đau của ông một cách toàn diện.
Thơ Mini, là
những triết luận thu gọn đến cạn kiệt. Một Trần Dần
đi từ thực tại thi nhân để đến với tâm linh hiền triết”.
Giáo sư Phong Lê, "Trần Dần
vẫn cứ là một ẩn số đối với lớp người đọc như
tôi, muốn biết nhiều hơn về sức sáng tạo của ông, nói
đúng hơn về một khát vọng sáng tạo không ngớt hành hạ
ông, đến là quyết liệt và dai dẳng. Dai dẳng cho đến ngày
ông qua đời ở nhà riêng số 5 phố Vũ Hữu Lợi...” …..
Di sản Trần Dần không chỉ
có tác phẩm văn học, ông còn để lại cho đời một tấm
gương, một tấm gương lớn về nhân cách, nhân phẩm,
về ý chí. Trong nỗi nhớ Việt Bắc của Tố Hữu ta chỉ
thấy chủ yếu những “Trung ương Chính phủ luận bàn việc
công”, những ”Người đi rừng núi trông theo bóng người”,
nỗi nhớ trong Trần Dần mới thật sâu đậm nghĩa tình, thật
da diết:
“Ở đây
ta mắc nợ
núi rừng.
Một món nợ
khó bề trang trải.
Việt Bắc
cho ta vay
địa thế!
Vay từ
bó củi
nắm tên.
Vay từ
những hang sâu
núi hiểm.
Cả
trám bùi
măng đắng
đã nuôi ta.
Ta mắc nợ
những rừng sim bát ngát.
Nợ
bản mường heo hút
chiều sương.
Nợ củ khoai môn
nợ chim muông
nương rẫy.
Nợ
tre vầu
bưng bít
rừng sâu.
Nợ con suối
dù trong
dù đục,
Nợ
những người
đã ngã
không tên!
Ôi
thế kỉ muôn quên
ngàn nhớ!
Nợ này
đâu dễ trả
mà quên!
Đi!
Tất cả!
Dù quen tay vỗ nợ,
cũng chớ bao giờ
vỗ nợ
nhân dân!”
(Bài thơ Việt Bắc)
Ôi, nếu ta biết nhớ bằng
nỗi nhớ Trần Dần thì ngày nay cách biệt giầu nghèo đâu
đến nỗi lớn như thế này. Đâu đến nỗi hùa nhau mua quan
bán chức đê tiện đến thế này. Đâu đến nỗi tham nhũng
tàn bạo đến thế này …!
Trần Dần vốn là người
có tinh thần phản kháng hơi quá mạnh mẽ, mạnh mẽ đến
mức như thiền sư Quảng Nghiêm:
Nam nhi tự hữu xung thiên chí
Hữu hướng Như lai hành
xử hành
(Thanh niên tụ nó có cái
chí hướng tung thẳng trời xanh. Há có phải đi theo con đường
mòn của Đức Phật).
Lời lẽ ông đôi khi dữ dằn
như là ác khẩu:
“Yêu là chết: hai điều
đó đã hòa hợp với nhau từ ngàn năm nay. Muốn yêu chính
là sẵn sàng để chết. Tôi nói với các bạn như vậy đó,
hỡi những người khiếp nhược”
"Tôi thích những
cuộc đối thoại với nhau như tra tấn. Ðọc là tra tấn
có một chiều. Ðối thoại là tra tấn lẫn nhau."
“Thơ là mạng
sống, là lý lịch thực của đời tôi”….
Trách làm chi cái sự
đại ngôn ngay từ “Bản Tuyên ngôn Tượng trưng”, khi Trần
Dần chưa đầy 20 tuổi:
“Thế cho nên chúng
tôi – Thi sĩ Tượng trưng – chúng tôi đón về đây tất
cả những thế giới quay cuồng, chúng tôi sẽ bắt một vầng
trăng phải lặn, một ánh sao phải mờ đi ……và một bài
thơ phải vô cùng linh động”
Song le, bao quát hơn
cả, bản chất hơn cả, ta vẫn thấy ông là người có một
niềm tin vừa đáng kính nể, vừa đáng cảm thương. Nièm
tin vừa sắt đá, vừa ngây thơ, vừa sáng suốt, vừa dại
khờ …
Mấy lần rồi nhưng
cứ đọc lai đọan văn sau đây trong bài “Con người Trần
Dần” của Hoàng Cầm tôi vẫn không cầm được nước mắt:
“…….Lần đầu tiên tôi vào
thăm anh, với một món quà nhỏ: Một túm nhãn tôi mua ngoài
phố. Anh vồ lấy ăn ngấu nghiến rồi cười oang oang: “Thi
đua với các cậu làm thơ nhé!”.
Thấy tôi rơm rớm nước mắt,
anh bỗng hạ thấp giọng:
“Đừng buồn cho mình. Mình
cũng nhiều khuyết điểm lắm: có tự kiêu, có nóng nảy,
có tự do vô kỷ luật thật. Nhưng không bao giờ không trung
thành với Đảng, dù bị mắc tiếng oan, dù bị kỷ luật.
Và mình tin những cái độc đoán của một vài cá nhân rồi
đây sẽ không còn nữa. Đảng là một khối sáng suốt. Tương
lai chúng mình, Đảng sẽ đảm bảo, dù bây giờ Đảng có
thể chưa hiểu mình.”
……..Mùng hai Tết, tôi ăn
bữa cơm cuối cùng với Trần Dần. Giữa hai tợp rượu, đã
thấy những cơn bão đe doạ, mà lần này chắc ghê hơn lần
trước. Chị K. không biết gì vẫn vui vẻ ngồi bóc bánh,
rồi xếp dọn ba lô cho chồng để anh ăn xong thì lại đi
công tác.
Không khí văn nghệ như sắp
sửa có trận bão. Không biết từ đâu cái tin “Trần Dần
phản động” “Trong Giai phẩm có mấy tên phản
động” bỗng truyền ra rất nhanh. Những tin không hay dồn
đến, bổ vây tôi và anh Trần Dần còn đang ăn dở miếng
bánh chưng Tết. Chị K. tái mặt, để rơi đôi đũa, nước
mắt đã vòng quanh:
“Thế là thế nào hả các
anh? Phen này lại bị bắt nữa thì tôi sống thế nào được?
Các anh rủ nhau làm những chuyện gì mà khổ sở thế không
biết!”
Trần Dần cũng tái mặt, anh
cắn chặt môi, xốc ba lô lên vai, an ủi vợ:
“Em đừng lo. Tin đồn bậy
bạ đấy thôi. Anh đi công tác đây, gần đến tháng đẻ,
em đừng lo nghĩ gì cả.”
Nhưng chị K. không thể bình
tĩnh được. Chị tiễn chồng ra cửa khóc oà lên:
“Anh ơi… Anh có về nữa
không, anh ơi!” ”
……
Trần Dần cứ thế mà
tin yêu, mà mong ước, mà chờ đợi, mà vật vã vươn
tới.
Và, ông đã để lại
cho đời không chỉ một tài sản văn học lớn, một tinh thần
cách mạng sáng tạo mà còn một tấm gương học hỏi, lao
động cần cù. Nguyễn Trọng Tạo kể:
“Tôi khâm phục sự học của
ông. Ông học bằng cách đọc thế giới (sách), đọc và quan
sát suộc sống, học làm người nghĩa là làm một nhân cách
cá biệt, đôi khi như kẻ lập dị giữa đời, giữa đám
đông. Học bằng cách làm việc cật lực cho văn thơ. Học
bằng cách ngồi dịch sách, dich tài liệu để kiếm sống.
Năm 1983, nhạc sĩ Văn Cao nhờ tôi sang nhà Trần Dần mời
ông đến nhà uống rượu nhân 60 tuổi, tôi chú ý vết đen
trên tường sau chiếc ghế ông ngồi. Cái vết đen như một
hình nhân, như cái bóng của ông. Ông đã ngồi dựa tường
như vậy suốt mấy chục năm, để đau khổ, để cô đơn
toàn phần, để suy nghĩ, để đọc và để viết”.
* * *
Năm 1997, một ngày Hà Nội
âm u giá buốt, nhà thơ Khương Hữu Dụng khi ấy đã gần
trăm tuổi đến bên quan tài Trần Dần khóc và đọc hai câu
thơ cổ:
Nhất thất cước thành thiên
cổ hận. Tái hồi đầu thị bách niên thân.
(Lỡ một bước nghìn năm
ân hận. Quay đầu lại đã thành người trăm năm).
Tôi rất kính và yêu nhà thơ
Khương Hữu Dụng. (Trong thập niên 60 thế kỷ trước, sau
một buổi tọa đàm thơ ở báo Văn Nghệ, tôi đèo cụ về
(bằng xe đạp). Đến cổng, cụ níu lại trò chuyện. Đứng
lâu mỏi chân, cụ lôi tôi lên nhà đàm đạo đến gần hai
giờ sáng, để tiếp tục giảng giải rằng cụ khen mấy bài
thơ vừa đăng trên “Tác Phẩm Mới” của tôi là khen thật.
Về nhà, tôi phải khóa xe để ngoài, trèo tường vào). Tuy
nhiên, ở chỗ này, tôi không đồng ý với Cụ.
Tôi cũng rất nể phục
nhà bình luận văn chương Thụy Khuê, nhưng tôi cũng không
đồng ý nhận xét này: “Tháng 12 năm 1959, Trần Dần thốt
lên: "Chao ôi! Con đường để đi tới chỗ "Ðúng" mới
nhiều máu làm sao". Con người “ Nhất định thắng”
ấy,
đã thua, đã hàng, chấp nhận ly khai những lý tưởng ngày
trước của mình”.
Trần Dần không lỡ bước,
không thua, không đầu hàng cái gì cả.
Cho đến bây giờ, nhìn lên
trờì sao đất nước, nhìn vào lịch sử văn học Việt Nam,
tôi vẫn thấy một Trần Dần rất đáng mãn nguyện.
“Tôi có nghèo đâu, trăng
sao lủng liểng.
Mây phơi dằng dặc khắp
chân trời.
Hương hỏa của tôi, kho
nào chứa xuể?
Ê hề vũ trụ sao bay.
Tôi di lại cho ai giờ?
Tầng tầng mây, lục địa
lục địa của cải”.
(Sổ bụi 1979).
Kỷ niệm 85 năm ngày sinh Trần
Dần.
Hà Nội 23 tháng 8 năm 2011
Nguyễn Thanh Giang
Số nhà 6 – Tập thể Địa
Vật lý Máy bay
Trung Văn – Từ Liêm – Hà
Nội
Mobi: 0984 724 165
(*) Tố Hữu – “Qua cuộc
đấu tranh chống nhóm phá hoại Nhân Văn Giai phẩm trên mặt
trận văn nghệ”.
(**) Tạp chí Văn nghệ
số 12, tháng 5 năm 1958 – “Những lời thú nhận bước
đầu của một số phần tử trong nhóm phá hoại Nhân văn-Giai
phẩm”.
(***) Phạm Xuân Nguyên – “Trần
Dần – Thơ ở đâu?”