| (Trích Ðặc San Chiến Hữu,
Khu Hội CTNCTVN/ CT)
Lời Giới Thiệu: Phạm Văn
Thành sinh năm 1960 tại Biên Hòa, vượt biên năm 1982 và định
cư tại Pháp tháng 10/ 1983. Trong 10 năm định cư tại Pháp,
PV Thành đã tham gia tích cực vào nhiều tổ chức đấu tranh
của người Việt tại Châu Ậu Dĩ nhiên, như nhiều người
khác, PV Thành cũng đã trải qua nhiều kinh nghiệm thương đau
trong những năm tháng ngược xuôi khắp Châu Âu cho lý tưởng
đã theo đuổi, từ tổ chức tranh đấu này, đến hội đoàn
người Việt khác.
Tháng 3/ 1993, cùng với Phạm
Anh Dũng, Lê Hoàn Sơn (Phá). Phạm đức Hậu, Ðỗ Hườn (đã
chết ) Trần Tư, Nguyễn Muôn, Ðỗ Hồng Vân (Hoa Kỳ) và Nguyễn
Ngọc Ðăng (canada); PV Thành trở lại Việt Nam, trong “Chiến
Dịch Ðông Xuân” do “Liên Ðảng” tổ chức, với mục
đích phát động một cuộc nổi dậy chống chính quyền Cộng
Sản tại Sài Gòn và những thành phố lân cận. Kế hoạch,
cuối cùng, bại lộ và tất cả đều bị bắt, PV Thành lãnh
án 12 năm tù.
Chúng tôi mạn phép không
đánh giá (đúng, sai, khôn, dại,...) việc làm của Phạm văn
Thành và những người cùng vụ, như một số người khác
đã làm. Tuy nhiên, thiết nghĩ, nếu quốc nội có thêm được
nhiều Ðoàn Viết Hoạt, Nguyễn Ðan Quế,... và hải ngoại
có thêm nhiều Lý Tống, Trần Mạnh Quỳnh, Phạm Văn Thành
cùng chiến hữu... thì có lẽ cục diện đất nước đã thay
đổi khá nhiều.
Trong thời gian bị giam cầm
trong các trại tù (có thời gian chung trại với Giáo Sư Ðoàn
Viết Hoạt, Lý Tống, Thày Tuệ Sĩ,...) PV Thành vẫn tiếp
tục cuộc đấu tranh cho Tự Do và Nhân Quyền. Dĩ nhiên, anh
đã bị ngược đãi, hành hạ. Một số người tại hải ngoại
biết đến PV Thành, qua “Bạch Thư” anh gởi cho nhà nước
cộng sản Việt Nam cùng Công luận quốc tế, qua trung gian
Ủy Ban Tối Cao Về Nhân Quyền tại Liên Hiệp Quốc.
Bản Bạch Thư này đã là
một trong những tài liệu được dẫn chứng trước những
hội nghị Quốc Tế về Nhân Quyền tại Âu Châu nhưng năm
1995,96 và 97...với nhưng sự quan tâm đặc biệt của nhiều
vị dân biểu Hoa Kỳ cũng như của các hãng thông tấn AP,
AFP Và Reuteur...đã gây nhiều lúng túng cho phía đối phương
cộng sản VN trong nhiều năm trời.
Trong số báo này, chúng tôi
xin giới thiệu một đoản văn của PV Thành, “Ðôi Gà và
Ðiệu Múa Loài Công” anh viết tại trại A.20 Phú Yên năm
1993. Người viết bài lúc đó đang bị cách ly nên đã trở
thành “khán giả” bất đắc dĩ của một điệu múa... ngoạn
mục chứa đựng nhiều chua chát.
Bài viết chớp nhoáng, lợi
dụng giấy và bút của cán bộ chấp pháp trong thời gian điều
tra đặc biệt...dã được anh em đồng chí của PVT chuyển
ra khỏi nhà tù và tới với các cơ quan nhân quyền LHQ tháng
11 năm 94. Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người Việt Nam đã in
trong mọt số báo Xuân Quê Mẹ đặc biệt về Nhân Quyền
1996.
Xin trân trọng giới thiệu
sau khi đã nhờ tác giả "hiệu đính" lại nhưng đoạn văn
không thể đọc ra trên bản thảo chính năm 94.
* * *
Ðể ăn Tết, lão sư (*1) nhờ
căng-tin mua một đôi gà. Chiều 28, đôi gà được mang về:
“lăm cân hai nạng đấy nhá” (5kg200). Tiếng anh chàng quản
chế lập đi lập lại với ông già mất dạy nhiều lần càng
làm cho những đôi mắt của đoàn tù đói tập trung vào đôi
gà một cách...nhiệt tình hơn.
Ðấy là một đôi gà chọi,loại
gà nòi cồ, lông đen mượt, chân chì, cặp đùi đỏ chót
không một sợi lông. Ðiều quái gở là cả hai con đều có
những cái mào to tướng!... Trông thì oai vệ lắm nhưng cứ
nghĩ đến một cuộc chọi gà, người ta lại thấy ái ngại
thay cho cái vương miện đẹp đẽ huy hoàng ấy.
“Nó chỉ được cái mã, ngữ
này mà đá nhau thì chỉ có chết thảm vì cái mào”. Ðã
có vài tiếng xì xào khi lão sư tất bật cởi dây trói chân
cho đôi gà. Lão lại còn cẩn thận ngậm từng bụm nước
giếng, dẩu mỏ phun phì phì lên đầu và người cả hai con!
Trông lão lom khom phun nước cho hai con gà mà mắc cười!
Anh em ở đây chẳng ai ghét
được lão cả; nên thoáng một lát, đã có ngay một vòng
vây người bao quanh lấy lão sư và đôi gà vừa được cởi
trói.
Nhà này là “nhà 3” trong
số 9 “nhà” của cái mà người ta gọi là “Trại Giam Bộ
Nội Vụ-A 20”.Từ hơn một năm nay nhà này có một sự kiện
khác thường. Ðó là sự xuất hiện đột ngột của nhóm
Chính Trị Việt Kiều. Này là Trần Tư, nọ là Lý Tống, kia
là Mạnh Quỳnh. Sự xuất hiện này lại nhịp nhàng kéo theo
sự có mặt của những con gà tươi rói, chạy lăng quăng quanh
sân tù với những sợi dây buộc lòng thòng dài ngoẵng ở
một chân! Có con lại còn được đeo thêm gần phần tư hòn
gạch ống cho tiện việc... vồ bắt.
“Việt Kiều toàn ăn gà”.
Ðâu đấy quanh trại người ta đã nghe thấy những tiếng
lầm bầm của đám lính quản giáo! Ăn gà! Chỉ nội cái âm
thanh ngữ nghĩa ấy thôi, cũng đã đủ làm cho tất cả những
thằng tù đù chính trị hay hình sự - cho tất cả nhũng thằng
quản chế và gia đình khu gia binh; cho cả những người dân
sống trong những bản làng chung quanh Huyện Ðồng Xuân ấy...
đều có thể phải cúi đầu xuống để dấu đì cái cục
adam khốn khổ cứ di hành ngược xuôi lên xuống vô trật
tự trong cái khung cổ èo uột của con người sống nơi vùng
đất chó ăn đá gà ăn sỏi; vùng đất mà mỗi năm Tết đến,
trại tù tổ chức mổ những 7, 8 con Bò cho tù ăn! Nghe trên
báo cáo thì quả là một cái Tết..no béo cho mọi thằng tù.Nhưng
có ai ngờ được rằng ở vùng đất lam sơn chướng khí ấy,
con Bò mà trại mổ cho tù...chỉ to hơn được con chó bẹc-giê,
hay phước đức lắm thì cũng chỉ nhinh nhỉnh cỡ bằng mọt
con nghé ngọ của miền Nam xanh tươi trù phú!!!
Trong đội “Việt Kiều”-
đội 10, hay còn gọi là "đội bù" - lại có cả một tên
ngoại kiều quốc tịch Sinh-Ga-Po, Sư Tử Thành bị bắt vì
tội đưa ra đưa vào Việt Nam hàng tấn vàng! Ông "tướng
tàu" này còn rất trẻ, tiêu tiền như nước..! Và cái tiếng
"ăn gà" đã trở thành cái tiếng chết dính gắn cho Việt
Kiều. Khổ nỗi lại là Chính trị Việt kiều! Cái tiếng
này ra tới ngoài dân...quả là một sự tai hại mang bóng dáng
của một tầm chiến lược rất ư là...đồ thâm!
Trở lại với hai con gà. Lão
sư - một ông giáo sư bị bắt nhốt đã gần mười năm vì
tội ăn cướp... chính quyền - tấm tắc khen hai con gà nhiều
thịt. Có tiếng khào khào của một người nào đó cất lên;
tiếng của Tống, Lý Tống.
- Gà này mà ăn với uống cái
gì? Toàn xương thôi! Mà có cào ra được miếng thịt thì
cũng phải nhai tới thời... "đa nguyên" mới hòng nuốt được.
Mọi người cười ồ lên vì
câu nói có ý “bắn phá lung tung” của Lý Tống. Lão sư
cũng chẳng vừa gì, con người chỉ có da bọc xương ấy lắc
lư thân mình trên cặp chân cà quỷnh, tay trái điểm điểm
vào con gà đứng gần.Vừa cười khằng khặc, vừa nói nhát
gừng.
- Thằng căng-tin ấy thế mà
giỏi! Xương to này, thịt dai này... đều là những yêu cầu
của lão cả. Ðám tiệc chúng lão chịu phần thịt, mà thịt
này thì... bỏ mẹ thằng phần rượu rồi đây!
Ánh mắt lão sư như sáng hơn,
long lanh hơn khi lão ân cần kéo dài chữ rượu Vòng tròn lại
cười, lại có tiếng cất lên: “Bố tếu quá, bố ơi“
- Bố gì, bố láo thì có chứ
bố con gì với cậu giờ nàỵ.. mà cái thằng trời đánh,
góp giấy (*) mua rượu chửa Tối nay “chèo” (*) nó vào bán
đãy - Lão vừa nói vừa khua khua bàn tay về phía người thanh
niên Việt kiều - ừ, góp tiền rượu đi rồi tớ với cậu
sẽ bố bố con con, nhá.
- Ðúng là mất dạy, đồ-mất
đậy hữu ích...
Tiếng nói cất lên từ phía
thành giếng, âm giọng Quảng Nam nghe như có mùi thuốc súng.Lão
sư vẫn không ngẩng đầu lên. Mắt cứ nhìn chòng chọc vào
mặt con gà lão vừa phun nước, gằn giọng.
- Này Trạng, đừng có mà chơi
chữ với lão nhá. Phải nói là đồ mất lớp chứ ai lại
đi gọi lão là mất dạy bao giờ. Học tới chức Trạng rồi
mà ăn nói như vậy, e có ngày bị đi... tù đấy, khổ lắm
nghe Trạng.
Lại cười, vòng tròn nhìn
hai lão già thày giáo dễ thương nhất trại mà quên bẵng
đi cái điểm tập trung chú ý là cả hai anh chàng gà chọi;
cho đến khi nghe một tiếng “oác”, cả vòng tròn mới quay
nhìn nơi phát ra tiếng gà kêu thất thanh ở góc sân. Thì ra
một trong hai con gà của lão sư đã khôn lanh thoát khỏi vòng
vây người, chạy bay lại phía bầy gà mái nơi góc sân.
Ở đó, anh chàng đụng đầu
ngay với anh gà tồ của ông Lý Cọp - tên ông là Hổ, Lý
Hổ - mua đã được hơn tuần lễ. Thế là một trận quyết
đấu đã xảy ra, xảy ra ngay trước mắt các chị gà mái
đương “tuổi căng tròn” nên hai chàng đều đầy vẻ quyết
đấu! Hầu hết mọi người trong “nhà” đã ùa ra, hò hét,
bu quanh hai con gà.
- Ðá, đá bạt mạng đi Cọp...
túm lấy đầu nó. Níu xuống. Níu xuống.Thế... thế... dộ.
dô, xé cái mào nó ra...đừng nhẩy nữa, mất sức...
Góc sân tù bỗng chốc trở
thành một bãi đá gà. Lão Cọp - ông già này về từ Thái,
ở đây đã gần 7 năm, nghe đâu là y tá của ông Hoàng Cơ
Minh- đầu quấn cái khăn rằn đỏ trắng; có lẽ lão vừa
ngủ dậy- lão phải thức đêm làm..nhiệm vụ trực buồng-
nên cái giọng Sóc Trăng còn nhừa nhựa men ngủ nướng:
- Mấy thằng cha mắc "dzựt
"! Gà của tui là gà "thựt", cho đá với gà nòi khác chi đập
"chớt" gà tụi..
Lão vừa nói vừa khệnh khạng
chạy lại gần vòng vây đá gà! Thì ra lão cũng thích coi cái
trò này.
Có điều trùng hợp là cái
tướng của lão vừa đi vừa chạy nó cũng giống y như cái
tướng chạy của một con gà vừa...thua cuộc đá, người
ta gọi là gà bị “roóc”. Mà thật vậy, con gà của lão
đang có vẻ “roóc” thật! Ðôi mắt đã không còn nhìn trừng
trừng vào mắt đối thủ nữa. Nó bắt đầu thỉnh thoảng
hươi ra xa; chắc hẳn cu chàng đang tìm đường xé rào mà...vọt,
hầu mong giữ được mục tiêu bảo tồn nòi giống!
Mục tiêu mà bất cứ anh chàng
gà trống nào cũng rất...có trách nhiệm khi biết được rằng
mình sắp lên tớị.thớt và bàn.
- Gà Lý Cọp tả tơi rồi ông
Cọp ơi...
Con gà tồ cúi sát đầu gần
đất, bộ lông cổ sặc sỡ xòe ra như chóp nấm hoa, hai chân
trụ bộ chẳng khác gì một anh gà thượng đài chuyên nghiệp.
Tư thế quyết chiến này đối nghịch hẳn với ánh mắt láo
liên của nó. Con gà sắp bỏ chạy và đám đông đang chờ
xem nó sẽ chạy như thế nào.
Trên căn gác nhà 3, qua những
ô cửa ngang dọc những chấn song sắt, người ta có thể nhìn
toàn cảnh và cũng cái toàn cảnh ấy đã cho hiện ra một
điệu múa Công kỳ lạ.
Cái đám người đang quây thành
vòng tròn ấy,rất vô tình nhưng đã tuần tự vẽ thành một
bức tranh hoành tráng và hết sức sinh động. Hai con gà di
chuyển đến đâu, vòng tròn chuyển động theo đến đấy;
có những cái lưng khom khom; có những cánh tay vung xuôi vung
ngược, đồng bộ và rập nhịp theo những cú phóng mình lên,
đập cánh xuống hoặc những cú đá vòng "hồi mã thương"
đầy vẻ điệu nghệ của đôi gà. Họ đã chia thành hai phe
rõ rệt.Một phe bênh gà Lý Cọp vốn đang có vẻ thua cuộc
và phe còn lại ủng hộ con gà của lão sự Họ vui thật,
hò hét, chỉ trỏ, cười la,... thậm chí nhẩy bổ cả lên
nhau lên mỗi khi con gà phe mình đá được một cú trúng đích
- Ðừng sợ, Lý Cọ..ọ...p...đừng
sợ.
- Ðừng chạy Lý Cọp... nó
giành hết mái của mày cho mà cội
Tiếng hò hét đã tăng cường
độ, trở thành những tiếng gào mang chất giọng tấn công
quyết liệt.Tội nghiệp lão Hổ. Lão đứng cạnh cây bông
kiểng, phía sau lão là thày Tuệ Sỹ, bên trái là ông Hoạt
giáo sư, khuất hẳn sau cành dừa sát nhà ăn là vị thi sĩ
già luôn nhìn đời bằng nửa con mắt- ông cụ chỉ còn có
một mắt,bị bắt cùng với ông Hoạt, dễ thương đến vô
cùng- Tất cả đều im lặng, họ chỉ cười... mà duy cái
nụ cười của lão Hổ là khác thường.
Mắt lão đã híp hẳn lại,
độc quyền phần mở chỉ còn dành riêng cho bên cánh trái.
Lưng bụng lão ngả nghiêng,ưỡn ẹo và cũng "giật giật cà
tưng" y như anh chàng bị bệnh động kinh có đôi chân đặt
giẹo; y như những lần lão bị cái đầu roi điện của bọn
chấp pháp tai quái dí vào be sườn!Môi lão giật giật liên
hồi, chứng tỏ lão bị khích động ở trên mức bình thường
rất nhiều. Lão là người để bị khích động? Có thể lắm
vì quê quán của lão là vùng đất của những con người thường
mang hai dòng máu Miên Việt lẫn lộn.
Hình ảnh con gà thân yêu của
lão phải chăng đang làm lão liên tưởng đến những ngày
tháng sống bạt mạng giữa vùng đất biên thùy Miên Thái;
hay gợi nhớ lại những tháng ngày xâm nhập kinh hoàng đầy
khói pháo và máu thịt anh em? Có lẽ chỉ có những thứ hình
ảnh ấy mới đủ làm cho lão...cứng gân đến như vậy
Vòng vây càng lúc càng kín
thêm. Khoanh tròn đã dầy lại dầy thêm sau khi cả bên phía
nhà bốn cũng túa ra nhập vào chận cổ vũ, làm thành một
vòng nhẩy múa thứ hai đầy sức lực. Sự sinh động vì thế
mà càng sinh động hơn, sinh dộng một cách đáng thương,sinh
động một cách tội nghiệp. Tội nghiệp đến rơi nước
mắt.
Người ta dù cố tránh cũng
vẫn phải nhìn một sự thật chua lòm, ấy là cả hai vòng
tròn đã vô tình - nhưng rất tận tình - làm thành một con
Công vĩ đại, quây tròn lấy hai con gà đá. Con Công cũng lông
cũng cánh và sặc sỡ không kém gì bộ lông của hai con gà...
Vâng! Chính họ đã là hinh
dáng của mọt con Công sặc sỡ...với những mảnh vải đưọc
chắp nối đủ kiểu, đủ màu mà họ đang mang trên thân thể,
đang gọi là quần áọ Những quần và áo tuyệt đại đã
quá sức chịu đựng so với thời gian và sự lao nhọc trường
kỳ khốn khổ; những quần và áo đáng ra đã bị ném đi
từ vài ba năm về trước,nhưng cái lạnh và sự thiếu thốn
đã là yếu tố cộng sinh cho sự sống, sự tồn tại của
những thứ được gọi là quần và áo ấy. Chúng được đắp
thêm, được vá vào bằng tất cả những gì có khả năng
để làm cho nó đừng rách thêm! Cái cũ hợp đồng với cái
mới; mảnh to hòa giải với mảnh nhỏ bằng những bàn tay
đàn ông thô vụng, bằng những đường chỉ của những chiếc
kim mà có thể lật cả thế giới tự do lên cũng không thẻ
tìm thấy được dù chỉ một nửa cái thân kim tương đồng
như thế.
Những áo và quần tả tơi
mới cũ lẫn lộn, chắp nối đủ kiểu trong một hình thức
"đa nguyên đến tận cùng" ấy...mỗi lần xem được một
cú đá hay của gà nhà,lại tức thì nhẩy cẫng lên. Cũng
thế, mỗi khi gà nhà bị đòn đau, tóe máu, lão đảo...lại
ôm đầu giậm chân kêu trời ai oán. Chính cái sự cặp nhịp
rất đồng bộ với từng phát thắng thua, hí hửng hay đau
hận nhịp nhàng ấy, cộng với cái thứ quần áo sặc sỡ
một cách quái gở kia đã làm thành hình tượng một con Công
đang trong phút xuất thần của điệu vũ. Ðiệu Vũ Của Một
Loài Công.
Những cái đầu gần như không
tóc trên những khuôn mặt vàng da ủng thịt. Ðám thiếu niên
17, 18, nhảy nhót cạnh những cái đầu râu tóc bạc phơ. Kia
là ông giáo sư ngồi chồm hổm; nọ là đám xì-ke nhớn nhác
lạc thần. Mỗi khuôn mặt là một dáng vẻ khác biệt trong
trạng thái thưởng thức một dịp vui hiếm có trong sân tù.Tiếng
gào trộn với tiếng cười làm cả những tên lính gác trên
chòi canh cũng buông súng,nhoài người chênh vênh ra mép ngoài
vọng gác để hòa nhập một lần vui giải trí.
...Nhưng những cái đầu trên
những ô cửa buồng tù đã không còn cười được nữa! Mà
ai còn có thể cười được trong cảnh ngộ này nhỉ? Con Công
Vĩ Ðại ở dưới sân kia vẫn còn vung chân múa tạy Ðiệu
múa Công quái gở vẫn còn đang tiếp diễn, và hai con gà “nhạc
công” đã bắt đầu phờ phạc, rệu rạo.
Từng phần tử một của con
Công ấy; phần đông đã có trên mười năm tuổi... tù. Còn
những đám thiếu niên mới đến kia, mười năm sau họ sẽ
ra sao?
Một sân tù với những bức
tường trắng bao quanh nghễu nghện, với lố nhố dày đặc
những con người.Những con người đã đứt hẳn sự sống
với với xã hội bên ngoài. Những con người ẩn nhẫn, những
con người bạt mạng,và những con người đạo đức cao dầỵ
Cả một xã hội, cả một tổ quốc, cả một non sông! Trong
một khoảnh khắc bất chợt, dã hiện nguyên hình dưới khoảng
sân kia, trong hình dáng của mọt con Công đang loạn cuồng.
Loạn cuồng quên mất mất cả bản thân...
...Gió chiều phần phật uốn
vòng những tàu lá dừa dày đặc, đập cả xuống những vòng
tường rào kẽm gai cao ngất nghểu chi chít những miểng chai
lởm chởm và những hoa gai sắt hoen rỉ, làm nên những âm
thanh phành -phạch phành -phạch một cách quái dị. Hình như
tất cả cũng đang múa. Ðiệu múa man dại của một loài Công
mất trí.
A20 Phú Yên /1994
Phạm Văn Thành
(*1) lão sư: tên gọi đặt
cho một vị giáo sư tù chính trị tại trại A20, người Bình
Ðịnh, bị bắt năm 84 vì liên quan đến người của anh Trần
văn Bá...
(*) quản chế :tập hợp sĩ
quan và hạ sĩ quan công an cs mang súng dài luôn kèm sát các
đội tù lao động khổ sai và tuần hành suốt đêm trong và
chung quanh trại tù. Trong tập hợp này có nhiều người chỉ
là thanh niên bị bát buộc thi hành nghĩa vụ quân sự. Da phần
là người của Tỉnh.Quản chế khác với quản giáo. Quản
giáo chỉ mang súng ngắn trong người. Thông thường, cứ 10
người tù thì có mọt quản giáo. Ðây là sĩ quan công an cs
đặc trách về mọi sinh hoạt tư tưởng cũng như tổ chức,
giao khoán công việc, thúc bánh lao động, thưởng phạt và
quyết định tiêu chuẩn phần ăn,xét đoán giảm hay đề nghị
tăng thời gian phạt tù cho tù nhân trong đôi mà mình quản
lý.Thành phần này có nhiều bổng lộc và nhất định phải
là đảng viên cốt cán, hầu như không có người miền Nam
trong đội ngũ nàỵ Giữa đọi ngũ quản giáo và quản chế
luôn có sự xung khắc.
(*2) “chèo”: tiếng lóng để
gọi hàng ngũ công an cs. Mượn hình ảnh người cầm chèo
để bơi, đẩy thuyền lướt đi. Ðối lại với tập thể
tù mang tôi danh chống "chính quyền CM"; lấy hình tượng người
cầm sào để chống cho con thuyền không đụng vật cản trước
mặt, hoặc đẻ đẩy lùi thuyền lại phía sạu..
(*) "đồ mất dậy hữu ích".
Hầu như tất cả tù chính trị đều gọi các ông giáo sư
tù chống CQ bằng chữ : đồ mất dậy. Ám chỉ việc những
vị nhà giáo này bị bắt buộc phải rời bục giảng. Không
cho bén mảng đèn trường lớp để dạy học sinh. Chữ này
làm cho khá nhiều người ngỡ ngàng khi mới tiếp cận sinh
hoạt đời tù của A20. Một trại từ nằm giữa biên giới
Việt Lào và tỉnh Phú Yên; đã có trên 2000 nấm mộ không
bia rải rác chung quanh trại tính tới năm 93!!!
(*) Giấy: tiền âm phủ. Trại
tù thu tiền thật (cs) của thân nhân tù gởi, dựa theo đó
phát lại cho tù những tấm giấy đặc biệt của Bộ nội
vụ ghi số tiền tương đương và ấn định tiêu chuẩn được
sử dụng hàng tháng. Tính đến tháng 10/98, đối với những
tù nhân có sự thăm nuôi thường xuyên của gia đình, mỗi
tháng họ có quyền mua đồ ăn của "căn tin" trong trại với
tiêu chuẩn tối đa là 150 ngàn đồng VN/tháng. Bất kỳ người
đó có nhiều tiền gởi đến cỡ nào. (tương đương khoảng
11usd/tháng).
Trường hợp ngoại lệ chỉ
dành cho tù nhân có quốc tịch nước ngoài hoặc những tù
nhân không còn mang tinh thần chống đối. Ðây phải được
nhìn là mọt chiến thuật rất nham hiểm của đối phương.
|