|
CHƯƠNG III (Phần
2 - Phần 1)
Bàn về một vài
nét của trận Ðại Hoàng và
trận Ðại Thủy
Chiến Bạch Ðằng.
Nhưng không phải chỉ có những
chiến công hiển hách, mà văn hiến Thăng Long ngày càng phát
triển, sản sinh ra những công nghệ nổi tiếng cả về mặt
kỹ thuật khoa học.
Ở Khâm Thiên Giám, đời Trần nhà
Khoa học Đặng Lộ làm ra máy “Lung Linh nghi” (Viễn vọng
kính quan sát bầu trời. Vạch ra đường đi của các vì sao
mà soạn ra lịch riêng cho nước Đại Việt.) Như thế chứng
tỏ rằng nền khoa học thiên văn (Astronomy) của tiền nhân
ta còn tiến trước cả Phương Tây mấy thế kỷ. Thời mà
các nhà khoa học tự nhiên nổi tiếng như Nicolas, Copernicus,
Giordano, Buno, Galileo, Kepler, thế kỷ XVI mới bắt đầu hiểu
về sự vận hành của vũ trụ một cách sơ khai.
Văn học nghệ thuật phát triển
trong bối cảnh lịch sử của nó, và mang dấu ấn thời đại
sản sinh ra nó.
“Nam Quốc Sơn Hà nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại
thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm
phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại
hư.”
Dịch:
Nước Nam là của người Nam ở
Hẳn nhiên trời đã định
phận rồi
Dân nào ngỗ nghịch sang xâm
chiếm
Sẽ bị người Nam đánh bại
thôi.
(Giác Lượng Tuệ Đàm Tử)
Hùng khí của Đại Việt đã
thấm vào các tác phẩm văn học.
Đến đời Trần, Hưng Đạo Vương
viết “Hịch Tướng sĩ”, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ
Lão, Trần Khánh Dư, Đoàn Nhữ Hài, giỏi chiến trận, tài
ngoại giao, hay thơ mà hào khí ngất trời. Đặc trưng của
thơ còn mang nặng cả về trách nhiệm đối với quốc gia,
cũng như cái đẹp hùng vĩ hoành tráng vẫn có sự yêu thích
thiên nhiên của thi nhân.
Xã tắc lưỡng thời lao thạch
mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim
âu,
(Trần Nhân Tông)
Ở hàng tướng soái như Lý Thường
Kiệt, Trần Hưng Đạo là khí khái của những con chim đại
bàng bay vút lên tận chín tầng mây, vượt xa ngàn dặm chứ
không phải chỉ là những con chim bé bỏng yếu đuối tuyệt
vọng. Thăng Long những ngày đánh giặc Nguyên đã xa rồi,
nhưng các bô lão, các ông thầy ở các làng xã vẫn kể lại
cho con cháu nghe, cho học trò nghe, những câu chuyện chém đầu
tướng Toa Đô ở Tây Kết, Ô Mã Nhi bị tóm ở sông Bạch
Đằng, tướng PhànTiếp nhẩy xuống bể, bị quân ta lấy
câu liêm móc lên, và đâu đâu cũng thấy người ta đọc “Hịch
Tướng Sĩ” của Hưng Đạo Vương, hoặc ngâm thơ Trần Quang
Khải, Phú Bạch Đằng của Trương Hán Siêu... Thế là những
câu chuyện năm xưa, như những viên than hồng âm ỉ cháy trong
lòng người. Đó là thời gian Nguyễn Trãi viết “Cáo Bình
Ngô”.
Văn học, nghệ thuật phát triển
trong bối cảnh lịch sử của nó, và mang dấu ấn của
thời đại đã sản sinh ra nó.
Thăng Long nổi tiếng của văn vật,
hay chữ, hay thơ, có lúc hùng tráng, có lúc lâm ly, có lúc
mỉa mai, có lúc bằng những lời thanh lịch của một vị
phu nhân trẻ tuổi, học thức như Bà Huyện Thanh Quan, Hồ
Xuân Hương, làm cho cả bọn “mũ áo” xênh xang cũng không
dám xem thường. Thơ Xuân Hương quyến rũ, làm cho say mê, các
bà, các cô thời ấy đâm ra thích làm thơ và ngâm thơ, ngâm
thơ cũng có nhiều lý thú. Vì thế, mà thơ của họ vẫn còn
lưu lại dân gian đến ngày nay. Phái nam, Nguyễn Giản Thanh
soạn phú “phụng thành xuất sắc”. Tiếp đến Nguyễn Siêu,
ông là một vị thày có tiếng tăm rất lớn, ông viết nhiều
sách: Phương Đình Toàn Tập, là bộ sách rất lớn: gồm văn,
thơ, địa chí, kinh tế, văn học… Nổi bật là lòng yêu
nước. Còn Cao Bá Quát, người thời ấy gọi là “Thánh Quát”,
bạn văn chương của ông Siêu, là người Phú Thị, Gia Lâm
lớn lên ở Hà Thành, thông minh tuyệt vời, văn chương vào
loại nhất đời.
Một vài nét về Thăng Long thời
Lý.
Sau khi dời đô về Thăng Long.
Vua xây dựng tám điện và ba cung, phía trước dựng điện
Càn Nguyễn làm chỗ coi chầu, bên tả làm điện Tập Hiến,
bên Hữu dựng điện Giảng Võ. Lại mở cửa Phi Long thông
với cung Nghênh Xuân, cửa Ðán Phượng thông với cửa Viễn,
hướng chính Nam dựng điện Cao Minh, đều có thềm rồng,
trong thềm rồng có hành lang dẫn ra xung quanh bốn phía. Sau
điện Càn Nguyễn dựng hai điện Long An, Long Thụy làm nơi
vua nghỉ. Bên tả xây điện Nhật Quang, bên hữu xây điện
Nguyệt Minh, phía sau dựng hai cung Thủy Hoa, Long Thụy làm chỗ
ở cho cung nữ. Dựng kho tàng, đắp thành, đào hào. Bốn mặt
thành mở bốn cửa, phía Ðông gọi là cửa Trường Phù, phía
Tây gọi là cửa Quảng Phúc, phía Nam gọi là cửa Ðại Hưng,
phía Bắc gọi là cửa Diệu Ðức. Lại ở trong thành làm
chùa Ngư Hưng Thiên và tinh lầu Ngũ Phượng. Ngoài thành về
phía Nam dựng chùa Thắng Nghiêm. (Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư,
Tr 241) Khu cung điện được gọi là Đại Nội, xung quanh có
một vòng thành bao bọc gọi là Cấm Thành, phía ngoài có một
vòng thành thứ hai gọi là Hoàng Thành hay thành Thăng Long,
thành được đắp bằng đất, phía ngoài có hệ thống hào
bảo vệ thông ra ngoài qua 4 cửa: Trường Phù ở phía Đông.
Quảng Phúc ở phía Tây. Đại Hưng ở phía Nam và Diệu Đức
ở phía Bắc. Tại mỗi cửa đều có quân cấm vệ canh gác.
Đại Nam Nhất Thống Chí còn ghi rõ trục chính của thành
Thăng Long là sông Hồng. Đoạn chảy qua vùng này dài 1215 trượng
(khoảng 5 km) Trong đó trên địa bàn Vĩnh Thuận dài
945 trượng và huyện Thọ Xuân dài 300 trượng. Hệ thống
đê của thành Thăng Long có chức năng bảo vệ hệ thống
giao thông chống giặc ngoại xâm, lại vừa có chức năng ngăn
lũ lụt.
Thành có bốn cổng lớn, phía Nam
là cổng Đại Hưng. Đây là cổng chính của thành. Từ Đoan
Môn ra đến Bờ Ðầm, rẽ sang tay trái, đến hết các đầm,
gần góc thành mới là cổng Đại Hưng mở ra đường Hàng
Bột là đường cái nối giao tiếp nhau, phía Tây và phía Nam
đến. Ngoài cổng có đình Quảng Văn, chỗ treo các cáo thị
của triều đình, và là nơi giảng các luật lệ cho dân biết.
Đông có cổng Trường Phù, Tây có cổng Quảng Phúc. Cổng
Diệu Đức mặt Bắc, rất quan trọng, vì mở ra các phường
bên lộ, có thể đoán là dốc Tam Đa bây giờ cạnh cột cờ.
Ngoài cửa có Ðiện Thụy Chương là chỗ nhà vua thường tổ
chức các đại điển, là những ngày hội lớn, như ngày Phật
Đản vua thường thỉnh những vị cao tăng nói pháp cho cả
triều đình lẫn dân chúng nghe. Thời kỳ này Phật Giáo toàn
thịnh nên xây dựng nhiều chùa. Ngôi to nhất có lẽ là chùa
Chân Giáo, dựng ở bờ đầm, có cầu đi qua Đầm được
đặt tên là Ngoạn Thiềm, nghĩa là ngắm con Thiềm Thừ, ngắm
trăng, ở thành Thăng Long, thì nào là chùa Trấn Quốc, Báo
Thiên, Nhị Thiên, Thiên Phúc, Sùng Nghiêm, Diên Hựu v.v… Dưới
là mấy cái hồ đẹp như những tấm gương. Khu vực xung quanh
hồ Tây cũng nhan nhản những chùa. Còn bên hồ Lục Thủy,
lại sừng sững bóng ngọn tháp cao vút trên bầu trời xanh.
xa kinh thành Thăng Long nhiều dặm, người ta còn nhìn thấy,
gọi là tháp Đại Thắng Tứ Thiên, hoặc Bảo Thiên. Tháp
Bảo Thiên cùng với chuông Quy Điền, tượng Phật chùa Quỳnh
Lâm và vạc Phổ Minh là một trong bốn kỳ tích lớn nhất
(đại khí) của nước ta. Ngôi tháp này trở thành biểu
tượng cho sức mạnh của đất nước Đại Việt trong nhiều
thế kỷ. Tháp Báo Thiên còn mang một ý nghĩa thiêng liêng
như hồn dân tộc; cho nên, dù triều Lý đã làm nhiều chùa
và xây nhiều tháp, nhưng những chùa tháp này vẫn không có
thể bằng chùa tháp Báo Thiên.
Việc Vua Lý Thánh Tông cho xây dựng
tháp Báo Thiên (Đại Thắng) như một sự khẳng định quyết
sách mới để đưa đất nước phát triển vào quỹ đạo
to lớn và sự gắn liền giữa Phật giáo và Dân Tộc. Ðại
Việt Sử Ký Toàn Thư tập I Tr 271 ghi: “ Bính Thân năm thứ
3 (1056), mùa hạ, tháng 4 xuống chiếu khuyến nông làm chùa
Sùng Khánh xây Tháp Báo Thiên phát một vạn hai ngàn cân đồng
để đúc chuông lớn. Vua đích thân làm bài minh “khắc trên
chuông.”[2] Nhân dân ta thời ấy vẫn dùng tên
Báo Thiên để gọi những gì nằm chung quanh ngôi bảo tháp
như chùa Báo Thiên, Chợ Báo Thiên, Phường Báo Thiên.
Tất cả tháp chùa, chợ đều quay
mặt về hướng đông nhìn ra chiếc hồ lớn mầu nước xanh
biếc gọi là hồ Lục Thủy (Đến thời nhà Lê mới đổi
tên gọi là hồ Hoàn Kiếm). Trước cửa tiền Tháp là
một bãi cỏ rộng bạt ngàn chạy dài đến mép hồ, bên kia
là những ruộng dâu xanh như tấm thảm trải dài đến tận
bờ sông Cái. Ở khu phía Nam kinh thành Thăng Long còn có một
khu hồ lớn gọi là Đại Hồ, nó còn to hơn cả Tây Hồ.
Đúng ra, đó là một đại hệ thống những hồ ăn thông với
nhau gồm nhiều nhánh, nhiều đoạn ở giữa lại có những
cồn đất trồi lên cao như hòn đảo nhỏ và tùy theo hình
thể, hoặc địa danh từng địa phương, có nơi gọi là hồ
Phượng Hoàng, có đoạn gọi là hồ Bích Câu, lại có đoạn
gọi là Đầm Vạc, Đầm Sậy v.v… Thời đó, hồ khá nổi
danh là hồ Lục Thủy và Tây Hồ vì khu vực ấy có Quốc
Tử Giám ở vùng trên và Thiên Giám ở vùng giữa. Vùng dưới
Tứ Thiên giám khu hồ rộng phình ra quanh năm hơi nước bốc
lên, mặt hồ lúc nào cũng phủ sương mờ ảo. Chiều hôm,
buổi sớm bình minh, văng vẳng tiếng chuông chùa thong thả
vang lên rồi chìm vào không trung tắt lịm, rồi lại nối
tiếp”... (Xin xem TTPGNT- đồng tác giả)…
Bạn đọc xem bài thơ dưới đây
có thể hiểu được hình dáng và tầm quan trọng của
tháp.[3]
Ðề 1* Báo Thiên
Tháp
“Trấn áp đông tây giữ đế
đô,
Hiên ngang ngọn tháp đứng trơ
trơ.
Non sông vững chãi tay trời chống,
Kim cổ khôn mòn đỉnh tháp nhô,
Thỉnh thoảng gió lay chuông ứng
đáp,
Đêm đêm sao xế đuốc khôn
mờ.
Tới đây những muốn dầm ngòi
bút,
Chiếm cả dòng sông mài mực
thơ.
Chính bản:
Trấn áp đông tây củng đế
kỳ 2*,
Khuy nhiên nhất tháp độc nguy
nguy.
Sơn hà bất động kình thiên
trụ 3*,
Kim cổ nan ma lập 4* địa chùy
5*.
Phong bãi chung linh thời ứng
đáp,
Tinh di đăng chúc dạ quang huy.
Ngã lai dục thử 6* đề danh
7* bút,
Quản lĩnh xuân giang tác nghiễn
trì.
(Đào Thái Tôn dịch) [4]
Khảo đính:
1* VATT: không có chữ đề.
2* TVTL1: kỳ. 3* TVTL2: thủ. 4* TVTL2: khâu (cũng
đọc là Kỳ) 5* Chúng tôi ngờ chữ này là chữ duy.
Sử
ký có câu: “Thiên trụ chiết, địa duy khuyết”. 6* TVTL2:
thử. 7* VATT chứ: Danh nhất thi: Chữ danh có bản
chép là chữ thi. 8* TVTL2: phong
Đến thời vua Lê Chúa Trịnh, Thăng
long vẫn còn khí chất. Trong sách Vân Ðài Loại Ngữ Tập
I Tr 234 của cụ Lê Quý Ðôn có chép: “Đầu niên hiệu
Càn Long (1736) vua Cao Tông nhà Thanh có người Tàu hay thơ, đáp
thuyền buôn đến trấn Sơn nam. Có bài phú chơi xuân trên
sông Nhị, và vịnh tám cảnh kinh đô nước An Nam”. Qua đó,
chúng ta có thể hình dung được tháp Báo Thiên được xây
dựng lại thời Lê, sau khi quân Minh phá đi để lấy đồng
đúc súng vào năm 1408.
Báo Thiên Hiếu Trung [2]
“Tháp xanh kinh hống hám danh
khu,
Vạn tượng yên hàm hỗn độn
khô.
Thụ sắc phù trầm cung điện
hiểu,
Thủy quang thượng hạ hải thiên
vu.
Liêm lung hoa vũ tiêu ngân lậu,
Sơn ánh trang lâu hoán chá cô.
Thủy thị vô ưu cao chẩm ngọa,
Khẳng vong phạm hưởng tỉnh
mê đồ?”
Dịch thơ:
“Tháp cao chuông giộng danh khu,
Muôn hình hỗn độn khói mù
phân khai.
Sắc cây cung điện sáng soi,
Dưới trên ánh nước biển trời
mờ xa.
Cách rèm lâu cạn mưa hoa,
Lầu trang núi giọt hót hòa gà
gô.
Nào ai yên giấc không lo,
Chịu quên chuông Phật mê đồ
tỉnh ra?”
Tính đến đây, tám trăm năm, đã
là Quốc Ðô, bao nhiêu tinh hoa của đất nước chung đúc
lại thành một đất văn vật, mặc dù thành cũ đã xiêu vẹo.
Bao nhiêu dinh thự khu Hàng Kèn, Trường Thi, Tiền Tích, bờ
Hồ Gươm, Hồ Tây đã mang vẻ hoang tàn:
Lối xưa xe ngựa, hồn thu thảo.
Nền cũ, lâu đài, bóng tịch dương…
Trở lại tìm hiểu một vài
nét về sinh hoạt văn hóa thời Lý-Trần.
Nhờ thi ca lưu lại chúng ta có thể hiểu
phần nào sinh hoạt văn hóa thời Lý, Trần. Tôi tạm dẫn
một vài bài thơ dưới đây:
Thú Quê Nhà
“Loạn xong, vườn cũ mái nhà
xưa,
Ham học, mừng ta có trẻ thơ.
Hoa rụng chim kêu bên ngõ vắng
Mộng tàn gió mát dưới song
trưa.
Tâm hồn thanh thảnh ngàn lo hết,
Học vấn sâu xa, tự thế thư.
Dục vọng, chớ nên lừa gạt
mãi,
An nhân chí đã thuận u cư.
(Bài đề sau tập thơ Quan Lộ Ba
do Nguyễn Đức Tâm, Đào Phương Bình dịch (trong văn thơ Lý
Trần)
“Trung hưng vạn vận vượt đời
xưa,
Thời thịnh muôn dân ngợi hát
ca.
Tướng võ, quân hầu đều biết
chữ,
Thợ thuyền thư lại cũng hay
thơ
Ngang trời, dọc đất, lòng cầm
chắc,
Dẹp Bắc chinh Nam việc sẵn
lo
Khảo trọn trường văn xem thi
võ,
Lão thần xong hẹn biết bao giờ.”
Tướng võ, quân hầu đều biết
chữ,
Thợ thuyền thư lại cũng hay thơ.
Ðể đối chiếu với loại người
nổi bật ở thủ đô Hà Nội ngày nay như Ðỗ Mười, Lê
Khả Phiêu, Nông Ðức Mạnh… Ta có thể thấy đây là giữa
những người công dân thủ đô Thăng Long thế kỷ thứ X
có học, lịch lãm. Với những người “Sơ Khai” vô học
thô lỗ thế kỷ XXI là những kẻ “man di” sinh trưởng giữa
các bộ lạc người Mán Mường trên vùng núi hoang dã Bắc
Việt, hoặc trong hang Pắc Bó. Nó xa lạ với không gian xã
hội, văn minh tự do, nhưng sinh thể do Hồ Chí Minh tạo ra
còn mang dấu ấn “trồng người”!
Ngược dòng lịch sử mời bạn đọc
trở lại thời vua Lê Chúa Trịnh.
Dù nhiều sinh hoạt không còn sầm
uất như thời Lý, Trần. Nhưng dân chúng người Nam, Bắc,
Đông, Đoài vẫn đến Kẻ Chợ, thuyền ngược xuôi vẫn
vào cửa Giang Nguyên, đem đồ thổ sản đến chợ Bạch Mã,
chợ Cầu Đông. Một tháng sáu phiên đã biến cả thành Thăng
Long thành một chợ khổng lồ. Các đồ khảm, đồ thêu, hộp
sơn, tranh màu đủ loại vẻ đẹp chưa từng thấy, khách hàng
là những trí thức sành, và cả giới trí thức người Tầu
cũng đến đây làm thơ.
Bạch mã Sấm Thị [5]
“Nghị tụ hòa phóng noãn thị
trần,
Phân phân vũ tụ táp kiên xuân.
Chu xa tịnh chí đam trường nhật,
Thương mãi thù suy tập chúng
luân.
Miếu đề phi lôi đa ám thất,
Lô tiền hạo khí hữu đường
thần.
Hoàng hôn bất tỷ thương lương
địa.
Hộ hộ phân đăng đấu tửu
tân.”
Dịch:
“Gió hòa bụi chợ người đầy,
Ống tay phất phới vòng vai xuân
hòa.
Ngày dài vui rộn thuyền xa,
Bán buôn xô đẩy, xe đà tụ
vây.
Sau đền nhà tối sấm bay,
Đường thần hạo khí ở ngay
trước lò.
Hoàng hôn chốn lạnh chẳng so,
Nhà nhà đèn lửa, khách lo tạc
thù.”
Chú Thích: Vân Ðài Loại Ngữ I
Tr 238
Kỹ Thuật
Dọc hai bên bờ sông Hồng thời đó,
có rất nhiều bến đò nằm sát với nhiều khu phố phường
tạo thành mạng lưới giao thông chính nối liền trung tâm
buôn bán của Thăng Long với các châu huyện gần xa. Những
tài năng khéo của khắp miền đất nước tập hợp về đây
lập ra phố, ra phường tạo nên những kỳ tích văn minh, văn
hóa. Nghề đúc đồng đã làm ra “tứ đại khí”,
bốn báu vật của nước Đại Việt trong đó có hai cái ở
Thăng Long (Chuông Quy Điền và Tháp Báo Thiên).
Kỹ thuật xây dựng bằng đá:
Trong việc dựng tháp Phổ Minh. Sau Hồ Quí Ly dùng kỹ thuật ấy
xây Tây Ðô ở An Tôn, Thanh Hóa. Có những khối đá tính
ra nặng trên 16 tấn, có tảng đá dài 7m, cao 1m50 đưa lên
cao làm cổng thành.
Kỹ thuật tơ tằm: Ðã sản
xuất được các hàng tơ, lụa, gốm, đan, lĩnh và có dệt
màu rất đẹp.
Kỹ thuật làm giấy dầu dùng
làm mui cho võng khi trời mưa, sau lại dùng giấy bạc in ở đời
Hồ.
Kỹ thuật đúc súng Thần công
do Hồ nguyên Trường sáng chế.
Kỹ thuật đóng thuyền, thuyền
chiến đóng ván mỏng, nhẹ đi nhanh như bay. Có chỗ chứa
cho 30 đến 100 lính chèo (theo lời chứng của Trần Phu là
phó sứ chức Lang Trung Bộ Lữ, Chánh Sứ là Lương Bằng,
Thượng Thư Bộ Lại Sứ Mông Cổ, tới Ðại Việt tháng Giêng
Quý Tỵ (1292) lưu lại nước ta 32 ngày. Tìm hiểu về nghệ
thuật quân sự, họ Trần viết: “Thuyền nhẹ và dài, ván
thuyền rất mỏng đuôi giống như cánh uyên ương. Hai bên
mạn cao hẳn lên. Mỗi chiếc có 30 người chèo, nhiều thì
hàng trăm người, thuyền chạy nhanh như bay.[6], [7]
Nghề gốm sứ đã tạo ra những
ngói vàng, ngói bạc điểm tô cho các mái cong của các cung
điện, chùa chiền.. Trong hội đèn Quảng Chiếu có đèn làm
hình nhà sư, vặn máy biết giơ tay cầm dùi đánh chuông, gõ
mõ, nghe tiếng sáo biết quay mặt lại. Trong hội đua thuyền
trên sông Hồng, có máy kim ngao hình con rùa lớn bơi được
trên mặt nước, mắt rùa lúng liến, miệng rùa phun nước,
đầu rùa cử động, biết cúi đầu chào. Văn Miếu, Miếu
văn chương văn vật đã ra đời chỉ trong vòng 60 năm sau khi
định đô, và trường Đại học đầu tiên của nước ta
là Quốc Tử giám, được thành lập, năm 1070. Trường Đại
Học Văn Chương và Văn Khoa học này còn trước cả trường
Đại Học Bolgnê của Ý Đại Lợi (La Mã) gần nửa
thế kỷ, và trước cả trường Đại Học Sorbonne, Paris của
nước Pháp một trăm năm. Quốc Tử Giám là trường Đại
học quốc gia, đã đào tạo bao nhiêu nhân tài như Lý Thường
Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải v.v…
(Chùa Báo Thiên, đến thời Pháp
thuộc đóng ở Thăng Long (Hà Nội) đã bị cố đạo
Puginier, dựa vào Pháp, cưỡng chiếm, lấy đất chùa Báo Thiên
làm ngôi nhà thờ Kito giáo lớn Hà Nội, hiện tồn tại đến
ngày nay.)
Đi sang phía Tây là làng Đông, có đền
Đồng Cổ, hàng năm các quan đến đây thề: “hiếu với
cha mẹ, trung với vua”. Thời Cộng Sản bây giờ thì họ
chỉ dạy dân: “hiếu với Mac Lê, trung với Đảng”.
Tất cả đã là những biểu tượng
của một nền văn minh tân kỳ. Còn Hà Nội thời Hồ Chí Minh
gò được khung xe đạp Thống Nhất, nhưng không đúc được
bi, cứ phải nhập bi của nước ngoài. Và nhờ nước bạn
Trung Quốc xây dựng được khu gang thép Thái Nguyên, mà chỉ đúc
được chảo gang, nồi gang và lưỡi cày… Hiện giờ là hang
ổ của trộm cướp và gái mãi dâm.
Thăng Long thời xa xưa, lối sống
tinh tế phóng khoáng đầy chất văn hóa đã đi vào đời
sống kinh đô. Tranh dân gian Hàng Trống, Hàng Nón in đậm nét
tươi vào thời gian. Nhạc và hát múa dân gian còn rung vang
âm hưởng trong dân gian qua các làn điệu chèo, tuồng, trống
quân… và các hội tế nổi tiếng khắp đồng bằng Bắc
Bộ như Hội Gióng, Hội Láng, Hội Đàm v.v…
Một vài nét về giao thông:
Hệ thống giao thông thời ấy,
sông Tô Lịch, Kim Ngưu ăn thông với sông Hồng và hồ Tây,
vừa là hệ thống giao thông, vừa là hào lũy thiên nhiên chống
giặc ngoại xâm.
Về Dân Số:
Thăng Long lúc bấy giờ đã hình
thành cấu trúc Sĩ, Nông, Công, Thương, bao gồm những người
thuộc Hoàng Gia, quan lại, quân lính, sư sãi, nô tỳ cùng các
tầng lớp nông dân, thợ thủ công, thương nhân, cho đến
nay chưa có một tư liệu nào xác định được chính xác dân
số Thăng Long thời Lý, nhưng con số không thể dưới vạn,
riêng thành phần quân lính cũng phải có hàng vạn thì sau
đó mới có thể điều động đánh nhà Tống. Khó có thể
nói con số năm bẩy ngàn, ấy là chỉ nói riêng ở kinh đô.
Thăng Long Thời Trần:
Thời Trần, Thăng Long vẫn là Kinh
Đô của Đại Việt. Cấu trúc Thăng Long thời này so với
thời Lý gần như không mấy thay đổi.
Thời kỳ này các bộ phận dân
cư tiếp tục phát triển mạnh. Sự phồn vinh chốn kinh đô
thu hút dân tứ phương đổ về đây. Có nhiều đợt di cư
liên tiếp của thợ thủ công và thương nhân các vùng ngoại
thành vào Thăng Long.
Nhà Trần hoạch định Thăng Long
gồm 61 phường. Sự phát triển của Thăng Long có tác động
lớn đến các vùng lân cận. Một số người trong tôn thất
và tầng lớp quan lại lập phủ và thái ấp quanh kinh thành
như Trần Khắc Chân lập ấp tại Hoàng Mai; Trần Nhật Duật,
Trần Quang Khải v.v… đều có trại ấp ở quanh Thăng Long.
Các làng làm nghề thủ công cũng được thành lập ở các
vùng ven đô như làng gốm Bát Tràng, nghề dệt lụa, dệt
gấm, nghề nhuộm, rèn sắt, làm bạc…đã phát triển. Dân
tứ phương về tụ hội đem đến kinh đô các nghề truyền
thống của khắp các vùng đất nước như nghề gốm Bát Tràng
vốn do những thợ gốm vùng Tam Ðiệp, Ninh Bình mang tới.
Sau này nhà Nguyễn, lấy Huế làm
kinh đô, cũng có nhiều thợ khéo làm tinh vi, mỹ thuật,
các mặt hàng như áo, mão, cân đai, xây dinh thự rất
đẹp. Nhưng có những nghề không thể bằng đất Thăng
Long. Nghề in sách vẫn ở phố Hàng Gai, từ đó phân phối
đi khắp nước. Những bộ sách to như mấy tập thơ của công
chúa Diệu Liên, mấy chục quyển của Thượng Sơn Công, đều
phải đem in ở Hà Nội, bộ “Khâm Định Việt Sử”, cả
một pho sách to cũng in ở đó, cho đến quyển lịch sử hàng
năm mà triều đình gửi cho các nha môn gọi là “lịch ban”,
cũng khắc ở Liễu Chàng, chỉ có tờ bìa là phải gửi vào
Huế lấy dấu của Vua thôi. Trong kia có nhiễu Bình Định,
những gấm, sa, vẫn phải đặt ở Hà Nội, cho các làng Na,
Mõ làm, các nhà buôn khi cất một chuyến hàng to vẫn phải
đến Thăng Long cũ.
Về quan hệ với nước ngoài:
Dưới thời Trần thuyền buôn thông
thương với các nước. Vóc đoạn của Âu tây. Vải màu
châu chấu, lông chim trả, Kim-la Java, gấm nam, chim ưng, cá sấu,
tê giác, voi, trầm hương, dầu hương... không gì là không
có, đều là những món đời sau ít có.
Văn hóa giáo dục thời Trần cũng
rất được chú trọng. Chế độ thi cử thời kỳ này,
chặt chẽ hơn thời Lý. Xuất hiện nhiều nhà văn hóa kiệt
xuất của Thăng Long như Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát,
Mạc Đỉnh Chi…
Thăng Long thời này ba lần bị giặc
Nguyên Mông xâm lược, cả ba lần đều chiến thắng vẻ vang.
Chiến thắng Đông Bộ đầu kết thúc cuộc kháng chiến lần
thứ nhất. Chiến thắng Vạn Kiếp kết thúc cuộc kháng chiến
lần thứ hai. Và chiến thắng Bạch Đằng kết thúc cuộc
kháng chiến lần thứ ba. Trong vòng 30 năm (1258-1288).
Con người Thăng Long dũng cảm từ dân đến
những anh hùng hào kiệt như Trần Quốc Tuấn, Trần Thủ
Độ, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần
Bình Trọng, Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Toản, đến người
dân như bà Chúa Kho, người làng Võ Trại (Giảng Võ ngày
nay) được giao nhiệm vụ trông kho Phụng Thiên. Khi quân
Nguyên Mông tiến vào, đã phân tán tất cả lương thực trong
kho không để lọt vào tay giặc, rồi ba anh em họ Đỗ có
công chiêu mộ lính cùng đánh giặc giữ nước… Đều được
người dân Thăng Long không quên ơn họ nên đã lập đền
thờ họ tại nhiều nơi ở Kinh đô.
[1]
“Sử nhà Trần” nhà xuất bản Hải Phòng 2003 của tác giả
Trần Xuân Sinh.
[2]
Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư Tập II Tr 240 Nhà XB Văn Hóa Thông
Tin Hà Nội 2000.
[3]
Bài Tháp Báo Thiên trong thơ văn Lý Trần tr 116. Tháp Báo Thiên
ở phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương thành Thăng Long tức
là phố Nhà Thờ Lớn, Hà Nội ngày nay, tháp này do vua Lý
Thánh Tông xây dựng từ năm 1057. Năm 1426, Vương Thông phá
Tháp đế lấy đồng làm binh khí.
[4]
Bài Báo Thiên Hiếu Trung dẫn trong sách Vân Ðài Loại Ngữ
Tập I tr 234 của Lê Quý Ðôn. Bản dịch của Tạ Quang Phát
phủ Quốc Vụ Khanh, Văn Hóa xuất bản 1972.
[5] Bài
Bạch Mã Sấm Thị cũng trong sách Vân Ðài Loại Ngữ Tr. 237.
Bạch Mã tên một ngôi đền thờ Thần Bạch Mã ở phố Hàng
Buồm Hà Nội. Ngày xưa ở đây có chợ gọi là Bạch Mã.
[6]
Dẫn sách “Văn Minh Việt Nam” của Lê Văn Siêu. Sài Gòn
XB Tr. 468.
[7]
Trần Lương Trung trong Thiên An Nam tự sự. Giao Chỉ Cảo đi
sứ nước ta năm 1292.
|