Liên Lạc: Nguyệt-San Việt-Nam
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC., V5V-5C8, Canada
Phone  +  Fax: (604)  879.1179 - Email: nsvietnam@yahoo.com
 Trang bìa
Do Hải Triều & Nhóm NSVN phụ trách
Hãy tiếp sức cho Nguyệt-San Việt-Nam sống đến ngày Sài Gòn - Hà Nội được tự do 
bằng cách giúp đỡ hoặc mua các tác phẩm do Nguyệt-San Việt-Nam giới thiệu. 
Xin liên lạc trực tiếp với tòa soạn theo địa chỉ trên. 


Bài Mới Nhất



Chụp Mũ


Mùa Xuân Đen


Máu và nước mắt 
trên lưng Trường Sơn.


Những Trận Đánh Không Tên 
Trong Quân Sử tập 2.


Thơ chiến đấu của Hải Triều,
Lê Khắc Anh Hào, Ý Yên,
Trần Thúc Vũ.


 




Sáng Tác - Thơ Văn

“Thăng Long Xưa Hà Nội Nay”
Trần Nhu

CHƯƠNG III (Phần 2 - Phần 1

Bàn về một vài nét của trận Ðại Hoàng và 
 trận Ðại Thủy Chiến Bạch Ðằng. 

Nhưng không phải chỉ có những chiến công hiển hách, mà văn hiến Thăng Long ngày càng phát triển, sản sinh ra những công nghệ nổi tiếng cả về mặt kỹ thuật khoa học.

Ở Khâm Thiên Giám, đời Trần nhà Khoa học Đặng Lộ làm ra máy “Lung Linh nghi” (Viễn vọng kính quan sát bầu trời. Vạch ra đường đi của các vì sao mà soạn ra lịch riêng cho nước Đại Việt.) Như thế chứng tỏ rằng nền khoa học thiên văn (Astronomy) của tiền nhân ta còn tiến trước cả Phương Tây mấy thế kỷ. Thời mà các nhà khoa học tự nhiên nổi tiếng như Nicolas, Copernicus, Giordano, Buno, Galileo, Kepler, thế kỷ XVI mới bắt đầu hiểu về sự vận hành của vũ trụ một cách sơ khai.

Văn học nghệ thuật phát triển trong bối cảnh lịch sử của nó, và mang dấu ấn thời đại sản sinh ra nó.

“Nam Quốc Sơn Hà nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận  tại thiên thư
Như  hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.” 

Dịch:

Nước Nam là của người Nam ở
Hẳn nhiên trời đã định phận rồi
Dân nào ngỗ nghịch sang xâm chiếm
Sẽ bị người Nam đánh bại thôi.
(Giác Lượng Tuệ Đàm Tử)

Hùng khí của Đại Việt đã thấm vào các tác phẩm văn học.

Đến đời Trần, Hưng Đạo Vương viết “Hịch Tướng sĩ”, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Đoàn Nhữ Hài, giỏi chiến trận, tài ngoại giao, hay thơ mà hào khí ngất trời. Đặc trưng của thơ còn mang nặng cả về trách nhiệm đối với quốc gia, cũng như cái đẹp hùng vĩ hoành tráng vẫn có sự yêu thích thiên nhiên của thi nhân.

Xã  tắc lưỡng thời lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu,
(Trần Nhân Tông)

Ở hàng tướng soái như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo là khí khái của những con chim đại bàng bay vút lên tận chín tầng mây, vượt xa ngàn dặm chứ không phải chỉ là những con chim bé bỏng yếu đuối tuyệt vọng. Thăng Long những ngày đánh giặc Nguyên đã xa rồi, nhưng các bô lão, các ông thầy ở các làng xã vẫn kể lại cho con cháu nghe, cho học trò nghe, những câu chuyện chém đầu tướng Toa Đô ở Tây Kết, Ô Mã Nhi bị tóm ở sông Bạch Đằng, tướng PhànTiếp nhẩy xuống bể, bị quân ta lấy câu liêm móc lên, và đâu đâu cũng thấy người ta đọc “Hịch Tướng Sĩ” của Hưng Đạo Vương, hoặc ngâm thơ Trần Quang Khải, Phú Bạch Đằng của Trương Hán Siêu... Thế là những câu chuyện năm xưa, như những viên than hồng âm ỉ cháy trong lòng người. Đó là thời gian Nguyễn Trãi viết “Cáo Bình Ngô”.

Văn học, nghệ thuật phát triển trong bối cảnh lịch sử  của nó, và mang dấu ấn của thời đại đã  sản sinh ra nó.

Thăng Long nổi tiếng của văn vật, hay chữ, hay thơ, có lúc hùng tráng, có lúc lâm ly, có lúc mỉa mai, có lúc bằng những lời thanh lịch của một vị phu nhân trẻ tuổi, học thức như Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, làm cho cả bọn “mũ áo” xênh xang cũng không dám xem thường. Thơ Xuân Hương quyến rũ, làm cho say mê, các bà, các cô thời ấy đâm ra thích làm thơ và ngâm thơ, ngâm thơ cũng có nhiều lý thú. Vì thế, mà thơ của họ vẫn còn lưu lại dân gian đến ngày nay. Phái nam, Nguyễn Giản Thanh soạn phú “phụng thành xuất sắc”. Tiếp đến Nguyễn Siêu, ông là một vị thày có tiếng tăm rất lớn, ông viết nhiều sách: Phương Đình Toàn Tập, là bộ sách rất lớn: gồm văn, thơ, địa chí, kinh tế, văn học… Nổi bật là lòng yêu nước. Còn Cao Bá Quát, người thời ấy gọi là “Thánh Quát”, bạn văn chương của ông Siêu, là người Phú Thị, Gia Lâm lớn lên ở Hà Thành, thông minh tuyệt vời, văn chương vào loại nhất đời.

Một vài nét về Thăng Long thời Lý.

Sau khi dời đô về Thăng Long. Vua xây dựng tám  điện và ba cung, phía trước dựng điện Càn Nguyễn làm chỗ coi chầu, bên tả làm điện Tập Hiến, bên Hữu dựng điện Giảng Võ. Lại mở cửa Phi Long thông với cung Nghênh Xuân, cửa Ðán Phượng thông với cửa Viễn, hướng chính Nam dựng điện Cao Minh, đều có thềm rồng, trong thềm rồng có hành lang dẫn ra xung quanh bốn phía. Sau điện Càn Nguyễn dựng hai điện Long An, Long Thụy làm nơi vua nghỉ. Bên tả xây điện Nhật Quang, bên hữu xây điện Nguyệt Minh, phía sau dựng hai cung Thủy Hoa, Long Thụy làm chỗ ở cho cung nữ. Dựng kho tàng, đắp thành, đào hào. Bốn mặt thành mở bốn cửa, phía Ðông gọi là cửa Trường Phù, phía Tây gọi là cửa Quảng Phúc, phía Nam gọi là cửa Ðại Hưng, phía Bắc gọi là cửa Diệu Ðức. Lại ở trong thành làm chùa Ngư Hưng Thiên và tinh lầu Ngũ Phượng. Ngoài thành về phía Nam dựng chùa Thắng Nghiêm. (Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tr 241) Khu cung điện được gọi là Đại Nội, xung quanh có một vòng thành bao bọc gọi là Cấm Thành, phía ngoài có một vòng thành thứ hai gọi là Hoàng Thành hay thành Thăng Long, thành được đắp bằng đất, phía ngoài có hệ thống hào bảo vệ thông ra ngoài qua 4 cửa: Trường Phù ở phía Đông. Quảng Phúc ở phía Tây. Đại Hưng ở phía Nam và Diệu Đức ở phía Bắc. Tại mỗi cửa đều có quân cấm vệ canh gác. Đại Nam Nhất Thống Chí còn ghi rõ trục chính của thành Thăng Long là sông Hồng. Đoạn chảy qua vùng này dài 1215 trượng (khoảng 5 km) Trong đó trên địa bàn Vĩnh Thuận dài 945 trượng và huyện Thọ Xuân dài 300 trượng. Hệ thống đê của thành Thăng Long có chức năng bảo vệ hệ thống giao thông chống giặc ngoại xâm, lại vừa có chức năng ngăn lũ lụt.

Thành có bốn cổng lớn, phía Nam là cổng Đại Hưng. Đây là cổng chính của thành. Từ Đoan Môn ra đến Bờ Ðầm, rẽ sang tay trái, đến hết các đầm, gần góc thành mới là cổng Đại Hưng mở ra đường Hàng Bột là đường cái nối giao tiếp nhau, phía Tây và phía Nam đến. Ngoài cổng có đình Quảng Văn, chỗ treo các cáo thị của triều đình, và là nơi giảng các luật lệ cho dân biết. Đông có cổng Trường Phù, Tây có cổng Quảng Phúc. Cổng Diệu Đức mặt Bắc, rất quan trọng, vì mở ra các phường bên lộ, có thể đoán là dốc Tam Đa bây giờ cạnh cột cờ. Ngoài cửa có Ðiện Thụy Chương là chỗ nhà vua thường tổ chức các đại điển, là những ngày hội lớn, như ngày Phật Đản vua thường thỉnh những vị cao tăng nói pháp cho cả triều đình lẫn dân chúng nghe. Thời kỳ này Phật Giáo toàn thịnh nên xây dựng nhiều chùa. Ngôi to nhất có lẽ là chùa Chân Giáo, dựng ở bờ đầm, có cầu đi qua Đầm được đặt tên là Ngoạn Thiềm, nghĩa là ngắm con Thiềm Thừ, ngắm trăng, ở thành Thăng Long, thì nào là chùa Trấn Quốc, Báo Thiên, Nhị Thiên, Thiên Phúc, Sùng Nghiêm, Diên Hựu v.v… Dưới là mấy cái hồ đẹp như những tấm gương. Khu vực xung quanh hồ Tây cũng nhan nhản những chùa. Còn bên hồ Lục Thủy, lại sừng sững bóng ngọn tháp cao vút trên bầu trời xanh. xa kinh thành Thăng Long nhiều dặm, người ta còn nhìn thấy, gọi là tháp Đại Thắng Tứ Thiên, hoặc Bảo Thiên. Tháp Bảo Thiên cùng với chuông Quy Điền, tượng Phật chùa Quỳnh Lâm và vạc Phổ Minh là một trong bốn kỳ tích lớn nhất (đại khí) của nước ta. Ngôi tháp này trở thành biểu tượng cho sức mạnh của đất nước Đại Việt trong nhiều thế kỷ. Tháp Báo Thiên còn mang một ý nghĩa thiêng liêng như hồn dân tộc; cho nên, dù triều Lý đã làm nhiều chùa và xây nhiều tháp, nhưng những chùa tháp này vẫn không có thể bằng chùa tháp Báo Thiên.

Việc Vua Lý Thánh Tông cho xây dựng tháp Báo Thiên (Đại Thắng) như một sự khẳng định quyết sách mới để đưa đất nước phát triển vào quỹ đạo to lớn và sự gắn liền giữa Phật giáo và Dân Tộc. Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư tập I Tr 271 ghi: “ Bính Thân năm thứ 3 (1056), mùa hạ, tháng 4 xuống chiếu khuyến nông làm chùa Sùng Khánh xây Tháp Báo Thiên phát một vạn hai ngàn cân đồng để đúc chuông lớn. Vua đích thân làm bài minh “khắc trên chuông.”[2]  Nhân dân ta thời ấy vẫn dùng tên Báo Thiên để gọi những gì nằm chung quanh ngôi bảo tháp như chùa Báo Thiên, Chợ Báo Thiên, Phường Báo Thiên.

Tất cả tháp chùa, chợ đều quay mặt về hướng đông nhìn ra chiếc hồ lớn mầu nước xanh biếc gọi là hồ Lục Thủy (Đến thời nhà Lê mới đổi tên gọi là hồ Hoàn Kiếm). Trước cửa tiền Tháp là một bãi cỏ rộng bạt ngàn chạy dài đến mép hồ, bên kia là những ruộng dâu xanh như tấm thảm trải dài đến tận bờ sông Cái. Ở khu phía Nam kinh thành Thăng Long còn có một khu hồ lớn gọi là Đại Hồ, nó còn to hơn cả Tây Hồ. Đúng ra, đó là một đại hệ thống những hồ ăn thông với nhau gồm nhiều nhánh, nhiều đoạn ở giữa lại có những cồn đất trồi lên cao như hòn đảo nhỏ và tùy theo hình thể, hoặc địa danh từng địa phương, có nơi gọi là hồ Phượng Hoàng, có đoạn gọi là hồ Bích Câu, lại có đoạn gọi là Đầm Vạc, Đầm Sậy v.v… Thời đó, hồ khá nổi danh là hồ Lục Thủy và Tây Hồ vì khu vực ấy có Quốc Tử Giám ở vùng trên và Thiên Giám ở vùng giữa. Vùng dưới Tứ Thiên giám khu hồ rộng phình ra quanh năm hơi nước bốc lên, mặt hồ lúc nào cũng phủ sương mờ ảo. Chiều hôm, buổi sớm bình minh, văng vẳng tiếng chuông chùa thong thả vang lên rồi chìm vào không trung tắt lịm, rồi lại nối tiếp”... (Xin xem TTPGNT- đồng tác giả)…

Bạn đọc xem bài thơ dưới đây có thể hiểu  được hình dáng và tầm quan trọng của tháp.[3]

Ðề  1* Báo Thiên Tháp

“Trấn áp đông tây giữ đế đô,
Hiên ngang ngọn tháp đứng trơ trơ.
Non sông vững chãi tay trời chống,
Kim cổ khôn mòn đỉnh tháp nhô,
Thỉnh thoảng gió lay chuông ứng đáp,
Đêm đêm sao xế đuốc khôn mờ.
Tới đây những muốn dầm ngòi bút,
Chiếm cả dòng sông mài mực thơ.

Chính bản:

Trấn áp đông tây củng đế kỳ 2*,
Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy.
Sơn hà bất động kình thiên trụ 3*,
Kim cổ nan ma lập 4* địa chùy 5*.
Phong bãi chung linh thời ứng đáp,
Tinh di đăng chúc dạ quang huy.
Ngã lai dục thử 6* đề danh 7* bút,
Quản lĩnh xuân giang tác nghiễn trì.
(Đào Thái Tôn dịch) [4]

Khảo đính:

1* VATT: không có chữ đề. 2* TVTL1: kỳ. 3* TVTL2: thủ. 4* TVTL2: khâu (cũng đọc là Kỳ) 5* Chúng tôi ngờ chữ này là chữ duy. Sử ký có câu: “Thiên trụ chiết, địa duy khuyết”. 6* TVTL2: thử. 7* VATT chứ: Danh nhất thi: Chữ danh có bản chép là chữ thi. 8* TVTL2: phong

Đến thời vua Lê Chúa Trịnh, Thăng long vẫn còn khí chất. Trong sách Vân Ðài Loại Ngữ Tập I Tr 234 của cụ Lê Quý  Ðôn có chép: “Đầu niên hiệu Càn Long (1736) vua Cao Tông nhà Thanh có người Tàu hay thơ, đáp thuyền buôn đến trấn Sơn nam. Có bài phú chơi xuân trên sông Nhị, và vịnh tám cảnh kinh đô nước An Nam”. Qua đó, chúng ta có thể hình dung được tháp Báo Thiên được xây dựng lại thời Lê, sau khi quân Minh phá đi để lấy đồng đúc súng vào năm 1408.

Báo Thiên Hiếu Trung [2]

“Tháp xanh kinh hống hám danh khu,
Vạn tượng yên hàm hỗn độn khô.
Thụ sắc phù trầm cung điện hiểu,
Thủy quang thượng hạ hải thiên vu.
Liêm lung hoa vũ tiêu ngân lậu,
Sơn ánh trang lâu hoán chá cô.
Thủy thị vô ưu cao chẩm ngọa,
Khẳng vong phạm hưởng tỉnh mê đồ?”

Dịch thơ:

“Tháp cao chuông giộng danh khu,
Muôn hình hỗn độn khói mù phân khai.
Sắc cây cung điện sáng soi,
Dưới trên ánh nước biển trời mờ xa.
Cách rèm lâu cạn mưa hoa,
Lầu trang núi giọt hót hòa gà gô.
Nào ai yên giấc không lo,
Chịu quên chuông Phật mê đồ tỉnh ra?”

Tính đến đây, tám trăm năm, đã là Quốc Ðô, bao nhiêu tinh hoa của đất nước chung đúc lại thành một đất văn vật, mặc dù thành cũ đã xiêu vẹo. Bao nhiêu dinh thự khu Hàng Kèn, Trường Thi, Tiền Tích, bờ Hồ Gươm, Hồ Tây đã mang vẻ hoang tàn:

Lối xưa xe ngựa, hồn thu thảo.
Nền cũ, lâu đài, bóng tịch dương…

Trở lại tìm hiểu một vài nét về  sinh hoạt văn hóa thời Lý-Trần.

Nhờ  thi ca lưu lại chúng ta có thể hiểu phần nào sinh hoạt văn hóa thời Lý, Trần. Tôi tạm dẫn một vài bài thơ dưới đây:

Thú  Quê Nhà

“Loạn xong, vườn cũ mái nhà xưa,
Ham học, mừng ta có trẻ thơ.
Hoa rụng chim kêu bên ngõ vắng
Mộng tàn gió mát dưới song trưa.
Tâm hồn thanh thảnh ngàn lo hết,
Học vấn sâu xa, tự thế thư.
Dục vọng, chớ nên lừa gạt mãi,
An nhân chí đã thuận u cư.

(Bài đề sau tập thơ Quan Lộ Ba do Nguyễn Đức Tâm, Đào Phương Bình dịch (trong văn thơ Lý Trần)

“Trung hưng vạn vận vượt đời xưa,
Thời thịnh muôn dân ngợi hát ca.
Tướng võ, quân hầu đều biết chữ,
Thợ thuyền thư lại cũng hay thơ
Ngang trời, dọc đất, lòng cầm chắc,
Dẹp Bắc chinh Nam việc sẵn lo
Khảo trọn trường văn xem thi võ,
Lão thần xong hẹn biết bao giờ.”

Tướng võ, quân hầu đều biết chữ,
Thợ thuyền thư lại cũng hay thơ.

Ðể  đối chiếu với loại người nổi bật ở thủ đô Hà Nội ngày nay như Ðỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Ðức Mạnh… Ta có thể thấy đây là giữa những người công dân thủ đô Thăng Long thế kỷ thứ X có học, lịch lãm. Với những người “Sơ Khai” vô học thô lỗ thế kỷ XXI là những kẻ “man di” sinh trưởng giữa các bộ lạc người Mán Mường trên vùng núi hoang dã Bắc Việt, hoặc trong hang Pắc Bó. Nó xa lạ với không gian xã hội, văn minh tự do, nhưng sinh thể do Hồ Chí Minh tạo ra còn mang dấu ấn “trồng người”!

Ngược dòng lịch sử mời bạn đọc trở lại thời vua Lê Chúa Trịnh.

Dù  nhiều sinh hoạt không còn sầm uất như thời Lý, Trần. Nhưng dân chúng người Nam, Bắc, Đông, Đoài vẫn đến Kẻ Chợ, thuyền ngược xuôi vẫn vào cửa Giang Nguyên, đem đồ thổ sản đến chợ Bạch Mã, chợ Cầu Đông. Một tháng sáu phiên đã biến cả thành Thăng Long thành một chợ khổng lồ. Các đồ khảm, đồ thêu, hộp sơn, tranh màu đủ loại vẻ đẹp chưa từng thấy, khách hàng là những trí thức sành, và cả giới trí thức người Tầu cũng đến đây làm thơ.

Bạch mã Sấm Thị [5]

“Nghị tụ hòa phóng noãn thị trần,
Phân phân vũ tụ táp kiên xuân.
Chu xa tịnh chí đam trường nhật,
Thương mãi thù suy tập chúng luân.
Miếu đề phi lôi đa ám thất,
Lô tiền hạo khí hữu đường thần.
Hoàng hôn bất tỷ thương lương địa.
Hộ hộ phân đăng đấu tửu tân.”

 Dịch:

“Gió hòa bụi chợ người đầy,
Ống tay phất phới vòng vai xuân hòa.
Ngày dài vui rộn thuyền xa,
Bán buôn xô đẩy, xe đà tụ vây.
Sau đền nhà tối sấm bay,
Đường thần hạo khí ở ngay trước lò.
Hoàng hôn chốn lạnh chẳng so,
Nhà nhà đèn lửa, khách lo tạc thù.”
Chú Thích: Vân Ðài Loại Ngữ I Tr 238

Kỹ Thuật

Dọc hai bên bờ sông Hồng thời đó, có rất nhiều bến đò nằm sát với nhiều khu phố phường tạo thành mạng lưới giao thông chính nối liền trung tâm buôn bán của Thăng Long với các châu huyện gần xa. Những tài năng khéo của khắp miền đất nước tập hợp về đây lập ra phố, ra phường tạo nên những kỳ tích văn minh, văn hóa. Nghề đúc đồng đã làm ra “tứ đại khí”, bốn báu vật của nước Đại Việt trong đó có hai cái ở Thăng Long (Chuông Quy Điền và Tháp Báo Thiên).

Kỹ  thuật xây dựng bằng đá: Trong việc dựng tháp Phổ  Minh. Sau Hồ Quí Ly dùng kỹ thuật ấy xây Tây Ðô ở An Tôn, Thanh Hóa. Có những khối  đá tính ra nặng trên 16 tấn, có tảng đá dài 7m, cao 1m50 đưa lên cao làm cổng thành.

Kỹ  thuật tơ tằm: Ðã sản xuất được các hàng tơ, lụa, gốm, đan, lĩnh và có dệt màu rất đẹp.

Kỹ  thuật làm giấy dầu dùng làm mui cho võng khi trời mưa, sau lại dùng giấy bạc in ở đời Hồ.

Kỹ  thuật đúc súng Thần công do Hồ nguyên Trường sáng chế.

Kỹ  thuật đóng thuyền, thuyền chiến đóng ván mỏng, nhẹ đi nhanh như bay. Có chỗ chứa cho 30 đến 100 lính chèo (theo lời chứng của Trần Phu là phó sứ chức Lang Trung Bộ Lữ, Chánh Sứ là Lương Bằng, Thượng Thư Bộ Lại Sứ Mông Cổ, tới Ðại Việt tháng Giêng Quý Tỵ (1292) lưu lại nước ta 32 ngày. Tìm hiểu về nghệ thuật quân sự, họ Trần viết: “Thuyền nhẹ và dài, ván thuyền rất mỏng đuôi giống như cánh uyên ương. Hai bên mạn cao hẳn lên. Mỗi chiếc có 30 người chèo, nhiều thì hàng trăm người, thuyền chạy nhanh như bay.[6], [7]

Nghề gốm sứ đã tạo ra những ngói vàng, ngói bạc điểm tô cho các mái cong của các cung điện, chùa chiền.. Trong hội đèn Quảng Chiếu có đèn làm hình nhà sư, vặn máy biết giơ tay cầm dùi đánh chuông, gõ mõ, nghe tiếng sáo biết quay mặt lại. Trong hội đua thuyền trên sông Hồng, có máy kim ngao hình con rùa lớn bơi được trên mặt nước, mắt rùa lúng liến, miệng rùa phun nước, đầu rùa cử động, biết cúi đầu chào. Văn Miếu, Miếu văn chương văn vật đã ra đời chỉ trong vòng 60 năm sau khi định đô, và trường Đại học đầu tiên của nước ta là Quốc Tử giám, được thành lập, năm 1070. Trường Đại Học Văn Chương và Văn Khoa học này còn trước cả trường Đại Học Bolgnê của Ý Đại Lợi (La Mã) gần nửa thế kỷ, và trước cả trường Đại Học Sorbonne, Paris của nước Pháp một trăm năm. Quốc Tử Giám là trường Đại học quốc gia, đã đào tạo bao nhiêu nhân tài như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải v.v… 

(Chùa Báo Thiên, đến thời Pháp thuộc đóng ở Thăng Long (Hà Nội) đã bị cố đạo Puginier, dựa vào Pháp, cưỡng chiếm, lấy đất chùa Báo Thiên làm ngôi nhà thờ Kito giáo lớn Hà Nội, hiện tồn tại đến ngày nay.)

Đi sang phía Tây là làng Đông, có đền Đồng Cổ, hàng năm các quan đến đây thề: “hiếu với cha mẹ, trung với vua”. Thời Cộng Sản bây giờ thì họ chỉ dạy dân: “hiếu với Mac Lê, trung với Đảng”.

Tất cả đã là những biểu tượng của một nền văn minh tân kỳ. Còn Hà Nội thời Hồ Chí Minh gò được khung xe đạp Thống Nhất, nhưng không đúc được bi, cứ phải nhập bi của nước ngoài. Và  nhờ nước bạn Trung Quốc xây dựng được khu gang thép Thái Nguyên, mà chỉ đúc được chảo gang, nồi gang và lưỡi cày… Hiện giờ là hang ổ của trộm cướp và gái mãi dâm.

Thăng Long thời xa xưa, lối sống tinh tế phóng khoáng đầy chất văn hóa đã đi vào đời sống kinh đô. Tranh dân gian Hàng Trống, Hàng Nón in đậm nét tươi vào thời gian. Nhạc và hát múa dân gian còn rung vang âm hưởng trong dân gian qua các làn điệu chèo, tuồng, trống quân… và các hội tế nổi tiếng khắp đồng bằng Bắc Bộ như Hội Gióng, Hội Láng, Hội Đàm v.v…

Một vài nét về giao thông:

Hệ  thống giao thông thời ấy, sông Tô Lịch, Kim Ngưu ăn thông với sông Hồng và hồ Tây, vừa là hệ thống giao thông, vừa là hào lũy thiên nhiên chống giặc ngoại xâm.

Về  Dân Số:

Thăng Long lúc bấy giờ đã hình thành cấu trúc Sĩ, Nông, Công, Thương, bao gồm những người thuộc Hoàng Gia, quan lại, quân lính, sư sãi, nô tỳ cùng các tầng lớp nông dân, thợ thủ công, thương nhân, cho đến nay chưa có một tư liệu nào xác định được chính xác dân số Thăng Long thời Lý, nhưng con số không thể dưới vạn, riêng thành phần quân lính cũng phải có hàng vạn thì sau đó mới có thể điều động đánh nhà Tống. Khó có thể nói con số năm bẩy ngàn, ấy là chỉ nói riêng ở kinh đô.

Thăng Long Thời Trần:

Thời Trần, Thăng Long vẫn là Kinh Đô của Đại Việt. Cấu trúc Thăng Long thời này so với thời Lý gần như  không mấy thay đổi.

Thời kỳ này các bộ phận dân cư tiếp tục phát triển mạnh. Sự phồn vinh chốn kinh đô thu hút dân tứ phương đổ về đây. Có nhiều đợt di cư liên tiếp của thợ thủ công và thương nhân các vùng ngoại thành vào Thăng Long.

Nhà  Trần hoạch định Thăng Long gồm 61 phường. Sự phát triển của Thăng Long có tác động lớn đến các vùng lân cận. Một số người trong tôn thất và tầng lớp quan lại lập phủ và thái ấp quanh kinh thành như Trần Khắc Chân lập ấp tại Hoàng Mai; Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải v.v… đều có trại ấp ở quanh Thăng Long. Các làng làm nghề thủ công cũng được thành lập ở các vùng ven đô như làng gốm Bát Tràng, nghề dệt lụa, dệt gấm, nghề nhuộm, rèn sắt, làm bạc…đã phát triển. Dân tứ phương về tụ hội đem đến kinh đô các nghề truyền thống của khắp các vùng đất nước như nghề gốm Bát Tràng vốn do những thợ gốm vùng Tam Ðiệp, Ninh Bình mang tới.

Sau này nhà Nguyễn, lấy Huế làm kinh đô, cũng có  nhiều thợ khéo làm tinh vi, mỹ thuật, các mặt hàng như áo, mão, cân đai, xây dinh thự rất  đẹp. Nhưng có những nghề không thể bằng đất Thăng Long. Nghề in sách vẫn ở phố Hàng Gai, từ đó phân phối đi khắp nước. Những bộ sách to như mấy tập thơ của công chúa Diệu Liên, mấy chục quyển của Thượng Sơn Công, đều phải đem in ở Hà Nội, bộ “Khâm Định Việt Sử”, cả một pho sách to cũng in ở đó, cho đến quyển lịch sử hàng năm mà triều đình gửi cho các nha môn gọi là “lịch ban”, cũng khắc ở Liễu Chàng, chỉ có tờ bìa là phải gửi vào Huế lấy dấu của Vua thôi. Trong kia có nhiễu Bình Định, những gấm, sa, vẫn phải đặt ở Hà Nội, cho các làng Na, Mõ làm, các nhà buôn khi cất một chuyến hàng to vẫn phải đến Thăng Long cũ.

Về quan hệ với nước ngoài:

Dưới thời Trần thuyền buôn thông thương với các nước. Vóc  đoạn của Âu tây. Vải màu châu chấu, lông chim trả, Kim-la Java, gấm nam, chim ưng, cá sấu, tê giác, voi, trầm hương, dầu hương... không gì là không có, đều là những món đời sau ít có.

Văn hóa giáo dục thời Trần cũng rất được chú trọng. Chế độ thi cử thời kỳ này, chặt chẽ  hơn thời Lý. Xuất hiện nhiều nhà văn hóa kiệt xuất của Thăng Long như Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát, Mạc Đỉnh Chi…

Thăng Long thời này ba lần bị giặc Nguyên Mông xâm lược, cả ba lần đều chiến thắng vẻ vang. Chiến thắng Đông Bộ đầu kết thúc cuộc kháng chiến lần thứ nhất. Chiến thắng Vạn Kiếp kết thúc cuộc kháng chiến lần thứ hai. Và chiến thắng Bạch Đằng kết thúc cuộc kháng chiến lần thứ ba. Trong vòng 30 năm (1258-1288).

Con người Thăng Long dũng cảm từ dân đến những anh hùng hào kiệt như Trần Quốc Tuấn, Trần Thủ  Độ, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần Bình Trọng, Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Toản, đến người dân như bà Chúa Kho, người làng Võ Trại (Giảng Võ ngày nay) được giao nhiệm vụ trông kho Phụng Thiên. Khi quân Nguyên Mông tiến vào, đã phân tán tất cả lương thực trong kho không để lọt vào tay giặc, rồi ba anh em họ Đỗ có công chiêu mộ lính cùng đánh giặc giữ nước… Đều được người dân Thăng Long không quên ơn họ nên đã lập đền thờ họ tại nhiều nơi ở Kinh đô.

  • Trần Nhu.


[1] “Sử nhà Trần” nhà xuất bản Hải Phòng 2003 của tác giả Trần Xuân Sinh.  
[2] Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư Tập II Tr 240 Nhà XB Văn Hóa Thông Tin Hà Nội 2000.  
[3] Bài Tháp Báo Thiên trong thơ văn Lý Trần tr 116. Tháp Báo Thiên ở phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương thành Thăng Long tức là phố Nhà Thờ Lớn, Hà Nội ngày nay, tháp này do vua Lý Thánh Tông xây dựng từ năm 1057. Năm 1426, Vương Thông phá Tháp đế lấy đồng làm binh khí.  
[4] Bài Báo Thiên Hiếu Trung dẫn trong sách Vân Ðài Loại Ngữ Tập I tr 234 của Lê Quý Ðôn. Bản dịch của Tạ Quang Phát phủ Quốc Vụ Khanh, Văn Hóa xuất bản 1972.  
[5] Bài Bạch Mã Sấm Thị cũng trong sách Vân Ðài Loại Ngữ Tr. 237. Bạch Mã tên một ngôi đền thờ Thần Bạch Mã ở phố Hàng Buồm Hà Nội. Ngày xưa ở đây có chợ gọi là Bạch Mã.  
[6] Dẫn sách “Văn Minh Việt Nam” của Lê Văn Siêu. Sài Gòn XB Tr. 468.  
[7] Trần Lương Trung trong Thiên An Nam tự sự. Giao Chỉ Cảo đi sứ nước ta năm 1292.

| Trang bìa NSVN Online |
| Ðầu trang | Bình Luận | Tin Tức| Sáng Tác | Thơ Cho Quê Hương |