CHƯƠNG III
Bàn về một vài
nét của trận Ðại Hoàng và
trận Ðại Thủy
Chiến Bạch Ðằng.
Trận Đại Hoàng
Đây, chắc hẳn
phải là một trận đánh rất lớn vì đoàn quân của Toa
Đô đã tiến qua Ái châu (Thanh hoá) đến Trường yên (Ninh
bình) để kết hợp với đại quân của Thoát Hoan. Từ Thăng
long truy kích xuống, trong khi quân Đại việt cũng tập trung
về Đại hoàng, mà ngoài vua Trần Nhân Tông trực tiếp chỉ
huy, còn có các tướng Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải...
Chủ trương của địch
là tạo thành hai gọng kìm hòng bao vây, tiêu diệt toàn bộ
lực lượng kháng chiến của quân dân ta và cơ quan lãnh đạo
đầu não. Về phía ta, chắc chắn là đã tổn thất nặng,
như sẽ thấy dưới đây. Vua Trần Nhân Tông đã ra lệnh cho
Trần Hưng Đạo điều động quân ở các lộ về, mà riêng
quân của các vương, con của Trần Hưng Đạo, đã lên tới
20 vạn. Hơn nữa, Trần Hưng Đạo rút khỏi Nội bàng trong
một tình thế hết sức bức bách nguy khốn. Đại việt sử
ký toàn thư viết về việc rút quân khỏi trận đánh này
một hình ảnh bằng cách kể lại chuyện tỳ tướng Yết
Kiêu chờ đợi Hưng Đạo Vương tại bãi Tân: “Trước đây,
Hưng Đạo Vương có gia nô tên là Dã Tượng và Yết Kiêu.
Ông đối đãi với họ rất hậu. Khi quân Nguyên đến, Yết
Kiêu giữ thuyền ở Bãi tân, Dã Tượng thì đi theo Hưng Đạo.
Lúc quan quân thua trận, quân thuỷ đều giải tán, vương muốn
theo chân núi mà đi, Dã Tượng nói: “Yết Kiêu chưa thấy
đại vương, tất không dời thuyền đi chỗ khác.” Vương
đi ngay đến Bãi tân, chỉ có thuyền của Yết Kiêu còn đấy.
Vương mừng lắm, nói rằng:”Chim hồng hộc có thể bay cao
được là nhờ vào sáu trụ xương cánh. Nếu không có thì
cũng như chim thường thôi.” Vương nói xong thì thuyền chèo
đi, quân của giặc đuổi theo không kịp. Vương đến Vạn
kiếp, chia quân đóng giữ Bắc giang.
Thế đủ biết
mặt trận Nội bàng tan vỡ trong tình huống nguy khốn, thậm chí
có vẻ bị bất ngờ. một phản ảnh nữa ta có thể thấy
qua việc vua Trần Nhân Tông, khi được cấp báo về tình hình
chiến sự Nội bàng, đã bỏ ăn sáng, dong thuyền suốt ngày
ra Hải đông để gặp Trần Hưng Đạo, như Đại việt sử
ký toàn thư đã mô tả: “Lúc ấy vua ngự chiếc thuyền nhỏ
sang lộ Hải đông. Ngày đã gần chiều, vua chưa ăn cơm sáng,
có tiểu tốt là Trần Lai đem dâng cơm gạo xấu. Vua khen là
trung, ban cho tước thượng phẩm, kiêm chức tiểu tư xã hữu
triều môn ở Bạch đằng.”
Việc vua bỏ ăn đi
thuyền cả ngày để gặp Trần Hưng Đạo, chứng tỏ mặt
trận này đóng một vai trò hết sức quan trọng trong chiến
lược quốc phòng của nhà Trần thời đó.
Trần Hưng Đạo
và vua Trần Nhân Tông đã bàn bạc những gì trong cuộc hội
kiến chớp nhoáng ở Hải đông? Ngày nay không ai được
biết. Việc mặt trận Nội bàng tan vỡ, do thế đòi hỏi
phải có những quyết định chiến lược mới để đối phó
với giặc. Ta đã biết Nội bàng 200 năm trước Lý Thường
Kiệt chủ trương tác chiến ở đây và đã phá được quân
Tống. Vậy có thể chủ trương ban đầu Trần Hưng Đạo và
vua Trần Nhân Tông đã chọn Nội bàng là nơi tác chiến. Nay
phải thay đổi phương án tác chiến mới, Đại việt sử
ký toàn thư tập II trang 80 có ghi:”Tháng 3 ngày Giáp tuất,
mồng 1, hai vua bỏ thuyền đi bộ đến Thuỷ chú 26, lấy thuyền
ra sông Nam triệu 27, tức huyện Thuỷ dương, vượt biển Đại
bàng 28 vào Thanh hoá. Và ở trang 74 Đại việt sử ký toàn
thư ghi: “Hưng Đạo vương vâng mệnh điều quân dân các
lộ Hải đông, Vân trà, Ba điểu chọn những người dũng
cảm làm tiên phong vượt biển vào nam. Thế là tinh thần quân
ta lên dần, các quan thấy vậy, không đạo nào không tới
tập hợp. Vua làm thơ đề ở [45A] đuôi thuyền rằng:
Cối kê cựu sự quân
tu kỳ,
Hoan, Diễn do tồn
thập vạn binh.
Sự thay đổi
phương án tác chiến, chiến lược thể hiện trong phương
pháp chỉ đạo chiến tranh của vua Trần Nhân Tông. Phương
án này thường được các nhà quân sự hiện nay gọi là “rút
lui chiến lược và phản công chiến lược”.
Trong sách Lịch
sử Việt nam có nhận định về cuộc rút lui chiến lược
của quân ta như sau: “Trần Quốc Tuấn đã tổ chức một
cuộc hành quân đầy mưu lược để đánh lạc hướng kẻ
thù, thoát khỏi thế bị bao vây. Từ Thiên trường, một bộ
phận quân ta rút về các lộ vùng Đông bắc Hải phòng, Quảng
ninh để dử địch đuổi theo, rồi chờ khi đạo quân Toa
Đô đã vượt qua Thanh hoá tiến ra Trường yên thì quay trở
vào chiếm lấy Thanh hoá làm căn cứ. Toa Đô vừa vất vả
tiến ra Trường yên lại được lệnh đánh vào Thanh hoá Đến
đây, âm mưu của địch định bao vây, tiêu diệt quân chủ
lực và bộ máy đầu não kháng chiến của ta bị thất bại.”
(Lịch sử Việt nam trang 203)
Qua những sự kiện
diễn biến vừa kể trên, cho ta thấy triều đình nhà Trần
đã bám sát tình hình tác chiến của quân đội thời bấy
giờ chặt chẽ và sít sao tới mức nào để khi chiến sự
diễn biến phức tạp và bất lợi, thì chính vua Trần Nhân
Tông đã trực tiếp đi đến hiện trường để giải quyết
các vấn đề vừa mới nẩy sinh. Việc điều động quân đội
từ các lộ và quân của các vương hầu trở lại tập kết
ở Vạn kiếp là một thí dụ điển hình. Hai câu thơ viết
ở đuôi thuyền có hàm ý rõ rệt nhắn gửi các tướng Phù
Sai nước Ngô đánh bại, nhưng cuối cùng qua gian khổ, nhịn
nhục đã vùng lên tiêu diệt được Phù Sai để chiến thắng.
Đối với quân Đại việt, trận Nội bàng tan vỡ là một
tổn thất to lớn, nhưng không vì thế mà nản lòng, tin tưởng
sẽ phá được giặc.
“Tôi yêu thích
những con người biết cười trong gian khổ, biết tạo được
sức mạnh từ nỗi nguy khốn và hun đúc lòng can đảm nhờ
phản tỉnh.”
Thomas Paime (1737-1809)
Nhà văn Trần
Vũ viết:
“Ngày 26 tháng
10 năm 1284 (?) khi vó ngựa quân Mông Cổ giẫm lên đất Đại
Việt tiến về bến Vạn Kiếp, chưa bao giờ trong lịch sử
dân tộc kẻ thù mạnh đến như vậy. Phía bắc, Trần Bình
Trọng thảm bại trước kỵ binh của Ô Mã Nhi, bị bắt sống,
tuyến phòng ngự Thăng Long tan vỡ. Phía nam, thủy quân của
Toa Đô chiếm Nghệ An lập thế gọng kềm, vua Trần phải
bỏ kinh sư chạy về phủ Thiên Trường. Định mệnh của
dân tộc đã có thể chấm dứt ở cuối thế kỷ 13.
Nhưng chưa bao
giờ trong những ngày nguy khốn cùng cực này, quyết tâm giữ đất
của dân tộc cao đến vậy; tất cả nam nữ cùng trích
lên tay hai chữ “Sát Thát”.
“Sát Thát” đã
được xâm lên da thịt của người Việt, để thấm vào máu
Việt, để di truyền cho con cháu đời sau. Di truyền hào khí
lẫm liệt của cả một dân tộc quyết không chịu nhục mà
hôm nay, chúng ta, hãy còn tìm thấy trên trang sử cũ: “Thà
làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc”.
Bảy thế kỷ trước,
dân tộc này hãy còn mang trong mình khí phách của “Đoạt
sáo Chương Dương độ”:
Chương Dương
đoạt giáo giặc
Hàm Tử bắt
quân thù
Thái bình nên
gắng sức
Non nước ấy
ngàn thu
Bảy thế kỷ sau,
di duệ của Trần Nguyên Hãn bị Bắc Kinh chiếm đất,
với đầy miệt thị khiêu khích. Hồ Cẩm Đào thực hiện
di chúc của Hốt Tất Liệt, Mã Viện, Trương Phụ, Liễu Thăng,
Tôn Sĩ Nghị, một cách dễ dàng không kèn trống. Chưa có
đế quốc nào đi chiếm đất lân bang dễ dàng sung sướng
như đế quốc Trung Hoa đầu thế kỷ 21. Vừa chiếm, vừa
khinh, vừa được Chế Mân ôm hôn thắm thiết.” Trích
dẫn trong bài “Sát Thát” của Trần Vũ.
Trận Ðại
Thủy Chiến Bạch Ðằng Giang giữa Thủy quân Nguyên với Thủy
quân Ðại Việt (9-4-1288)
- Không gian xẩy ra trận
đánh: Sông Bạch Ðằng
- Thời gian vào ngày
9-4-1288.
- Lực lượng tham chiến:
- Quân Ðại Việt: Toàn
bộ thủy quân với sự phối hợp của một số đơn vị bộ binh
chủ lực và dân binh địa phương.
- Quân Nguyên 80.000
thủy quân với 400 chiến thuyền.
Bước vào cuộc
kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ ba. Do những cuộc
tấn công liên tục và mạnh mẽ của quân dân Ðại Việt
ở khắp lãnh thổ, sau bốn tháng, quân Nguyên nằm trong thế
bị bao vây uy hiếp bốn bề, tuyệt vọng đường lương thực,
nên phải tính đến chuyện rút quân về nước. Ðã quyết
định rút lui, nhưng rút lui bằng cách nào? Theo An Nam Chí Lược
4 tờ 56 thì thần nỏ Tổng quản Giã Nhược Ngu dâng lời
nói rằng: “Quân có thể về, không có thể giữ”.
Và chính bản thân chủ Soái Thoát Hoan cũng bảo: “Ðất
nóng ẩm thấp, lương thiếu, quân mệt, không thể ở lâu”.
Sau đó đã có những cuộc bàn thảo giữa các tướng Mông
Cổ. Cuối cùng chúng đã đi đến quyết định rút quân về
nước theo hai hướng đường thủy và đường bộ.
Nắm được ý đồ
của giặc, vua Nhân Tông và Hưng Ðạo Vương đã quyết định
sẽ đánh một trận tiêu diệt đạo quân thủy chiến lớn
của Ô Mã Nhi trên sông Bạch Ðằng trước, diệt quân bộ
sau. Nắm vững lộ trình đường thủy của quân Ô Mã Nhi,
Hưng Ðạo Vương vạch ra kế hoạch tiêu diệt toàn bộ thủy
quân của giặc ở sông Bạch Ðằng. Lúc bấy giờ cửa sông
Bạch Ðằng còn nằm sâu phía trong nội địa nhiều hơn hiện
nay. Tại các đoạn sông núi đá Tràng Kênh và rừng rậm bên
tả ngạn sông Hồng. Ðó là nơi hiểm yếu, sông rộng hơn
cả cây số và cả vùng Ðông Bắc đổ ra Vịnh Hạ Long, vùng
cửa sông vừa rộng lại vừa thấp nên chịu ảnh hưởng
của thủy triều rất lớn, mực nước chênh lệch giữa hai
con nước có khi đạt đến gần 4 mét. Nhưng khi thủy triều
lên gặp gió chướng, sóng bạc đầu nổi trắng xóa dâng
nước lên cao cả vùng mênh mông, nên sông mới có tên là
“Bạch Ðằng” là vì thế. Còn bờ biển phía Nam sông Bạch
Ðằng là dãy núi đá vôi Tràng Kênh cao ngất với nhiều hang
động, khe núi, các thung lũng kín đáo tiện cho việc dấu
quân. Quân Nguyên muốn rút về nước bằng đường thủy buộc
phải đi qua cửa sông Bạch Ðằng hoặc muốn vào nước ta
bằng đường biển cũng phải qua cửa sông này. (Chính đoàn
thuyền vận chuyển lương thực của tướng Trương văn Hổ,
bị Khánh Dư đánh úp bắt gọn ở đoạn sông hiểm yếu này.
Theo sử chép Nhân Huệ Vương là một danh tướng thời Trần
đã có nhiều chiến công lớn, nhưng vì thông dâm với công
chúa Thiên Thụy, vua xuống chiếu đoạt hết chức, tịch thu
hết tài sản, tướng phải lui về Chí Linh làm nghề bán than,
chở củi. Sau quân Nguyên sang xâm lăng lần thứ hai ông được
phục chức. Vì là sống trên sông nên ông rất thông thạo
những địa thế.)
Lợi dụng địa
thế hiểm yếu và nước thủy triều lên xuống, Hưng Ðạo
Vương cho quân lính và dân binh chặt những cây gỗ lớn cứng
to trong những cánh rừng gần sông làm thành những hàng rào
cọc nhọn được bọc sắt ở đầu đóng xuống lòng sông
thành bãi cọc dầy ở khúc sông đã được chọn. Một mặt
ông tập trung một lực lượng lớn mai phục ở hai bên bờ
sông. Quân thủy của Ðại Việt với những thuyền nhẹ, cơ
động, giấu trong những rạch nhỏ ăn thông ra sông, và được
che kín bởi rừng cây (lậu) chịu nước mặn. Một bộ phận
thiện chiến chủ lực được bố trí cách bên trên các hàng
cọc một quãng được tính toán kỹ để có thể đánh vỗ
mặt vào đoàn chiến thuyền có Ô Mã Nhi và các tướng, phía
trên hàng cọc, Hưng Ðạo Vương lại bố trí một số đoàn
quân nhỏ, và một bộ phận đội hải quân có nhiệm vụ
khiêu chiến rồi bỏ chạy, nhử cho thuyền quân Nguyên qua
bãi cọc, làm cho quân Nguyên thêm chủ quan. Một bộ phận
khác bên dưới mai phục hai bên sông, làm nhiệm vụ khóa chặt
đoàn chiến thuyền của Ô Mã Nhi. Quân Thủy ở thượng lưu
đánh xuống kết hợp với quân mai phục.
Bạch Ðằng Giang,
điểm hẹn lịch sử - cũng trên con sông này, hơn ba thế kỷ
trước Ngô Quyền phá quân Nam Hán. Chấm dứt đêm dài đen
tối, bị đô hộ hơn một ngàn năm, tiền nhân ta vẫn còn
đủ sức mạnh và trí tuệ chiến thắng kẻ thù khổng lồ
phương Bắc năm Mậu Tuất (938). Hơn ba thế kỷ sau, năm 1288
vào những ngày quân của Ô Mã Nhi đã trên đường vào sông
Ðá Bạc- Ðó cũng
là lúc Hưng Ðạo Vương đã chuẩn bị xong trận địa và
quân mai phục sẵn sàng chờ quân Nguyên. Nhân lúc nước triều
lên, Hưng Ðạo Vương cho một số thuyền tiến ra khiêu khích
rồi bỏ chạy. Các chiến thuyền của Ô Mã Nhi lập tức đuổi
theo tiến sát và vượt gần vào bãi cọc lúc nước thủy
triều còn cao. Ðợi cho chiến thuyền cuối cùng của quân
Nguyên lọt vào trận địa cọc vào lúc nước triều rút xuống.
Lập tức một bộ phận của cánh quân mai phục hai bên sông
và chiến thuyền, làm nhiệm vụ khóa đoàn thuyền của quân
Nguyên lại.
Lúc bấy giờ vào
khoảng giữa trưa ngày 9 tháng 4 nước thủy triều rút, Ô Mã Nhi
ra lệnh cho đạo quân lao nhanh theo dòng nước triều, tưởng
chừng sẽ thoát được vòng nguy hiểm. Nhưng vào lúc đó,
từ nhánh sông Giá, nhiều đoàn chiến thuyền lớn của quân
Ðại Việt đột nhiên xuất hiện như từ trên trời thả
xuống, thấy chiến thuyền đối phương tiến ra chặn đầu.
Ô Mã Nhi vội ra lệnh cho những bộ phận đi đầu lao thật
nhanh để mở đường rút chạy nhưng bị hàng rào cọc chận
đứng. Trong khi quân địch đang rối loạn, hoảng hốt, thì
từ trên thượng lưu hàng trăm chiếc mảng bốc lửa cao ngùn
ngụt đang lao thẳng theo hướng rút chạy cũng là lúc những
chiếc cọc bịt sắt nhọn đã nhô khỏi mặt nước thành
một hàng rào chặn đứng làm cho hết chiếc thuyền nọ đến
chiếc kia nối đuôi nhau trên đà xô vào hàng cọc, bị đâm
vỡ chìm nghỉm, quay lại thì đường đã bị đóng. Thế quân
Nguyên lúc bấy giờ như bị nhốt trong cái túi lửa khổng
lồ đằng trước, đằng sau, trên dưới bị chận đánh. Bỏ
thuyền chạy lên bờ thì bị phục binh và quân địa phương
đón đánh.
Trận đánh diễn
ra chớp nhoáng chỉ trong vòng nửa ngày từ lúc nước thủy
triều lên, đến lúc nước triều xuống trong không gian thu
hẹp là khu vực sông Giá, vùng hạ lưu sông Bạch Ðằng.
Chiến thắng rực rỡ này kết thúc số phận tám vạn quân
Nguyên. Các tướng Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ, Phàn Tiếp đều
bị bắt.
Mặt trận trên
bộ, quân Ðại Việt, theo lệnh của Hưng Ðạo Vương đặt
quân mai phục các tuyến đường hiểm yếu trên trục lộ
giao thông đi sang Tầu tại Bắc Giang và Lạng Sơn, sẵn sàng
chờ giặc đến để tiêu diệt. Còn quân chủ lực lập tức
được quay lại Vạn Kiếp, tiêu diệt đoàn quân chủ lực
Thoát Hoan để giải phóng hoàn toàn đất nước.
Thoát Hoan ở Vạn
Kiếp, nghe tin quân thủy đã bị tan vỡ, bèn vội vàng cùng
các tướng Trình Băng Phi, A Bát Xích, Áo Lỗ Xích, Lý Quán
cố đánh mở đường máu để tháo chạy về nước. Sách
Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: “Hưng Ðạo Vương trở
lại Vạn Kiếp giao chiến với Thoát Hoan và Lý Hằng, đánh
bại được giặc, quân Nguyên chết rất nhiều. Lý Hằng đem
quân hộ vệ Thoát Hoan chạy về Tư Minh, quân ta lấy tên
tẩm thuốc độc bắn trúng đầu gối bên trái của Hằng,
Hằng chết, tùy tướng Lý Quán thu nhặt 5 vạn tàn quân còn
lại, cho Thoát Hoan vào một đồ bằng đồng trốn về Bắc.
Ðến Tư Minh Vương đuổi kịp dùng tên tẩm thuốc độc bắn
trúng Lý Quán. Quán chết quân Nguyên tan rã (Dẫn sách Ðại
Việt Sử Ký Toàn Thư tập II Tr 89)
Sau trận kịch chiến
giữa Thoát Hoan, với Hưng Ðạo Vương xẩy ra ở Vạn Kiếp,
Thoát Hoan thua bỏ chạy quân Nguyên hoàn toàn tan rã. Thủy
binh bị tiêu diệt tám vạn. Bộ binh còn chết nhiều hơn.
Như thế 50 vạn quân còn bao nhiêu tên trốn thoát trở về
nước?
Chiến thắng Bạch
Ðằng cũng nói lên trí tuệ siêu việt và khả năng lớn
mạnh của dân tộc ta, có khả năng thắng những kẻ địch
hùng cường nhất thế giới với những trận quy mô, không
chỉ trên bộ mà cả thủy chiến.
Chiến thắng Bạch
Ðằng còn là sự kết hợp nhịp nhàng của cả quân và dân đã
ngày đêm tận tụy chặt gỗ, kéo gỗ, bọc đầu sắt đóng
dưới lòng sông.
Sử sách ghi công
ơn vua Trần Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và Hưng Ðạo
Vương Trần Quốc Tuấn… nhưng cũng không quên ghi công “một
bà già bán nước vối, quà bánh ở bến đò Rừng. Do nghề
nghiệp quanh năm sống bên sông, đã chỉ bảo cặn kẽ mực
nước và ngày giờ lên xuống của thủy triều sông Bạch
Ðằng để quân ta tổ chức trận đánh đúng thời điểm[1]:
Chiến thắng Bạch
Ðằng cũng làm nổi bật tài năng cầm quân của Hưng Ðạo
Vương, Ông là người trong Hoàng Tộc nhà Trần được giáo
dục học vấn nhiều lĩnh vực. Khi tham gia quân đội, ông
tỏ ra là một chiến binh dũng cảm và gương mẫu trong trận
chiến với quân Nguyên lần thứ nhất (năm 1258) là một tướng
trẻ ông đã tỏ ra là một thiên tài quân sự. Trong cuộc
chiến vệ quốc lần thứ hai (năm1285) Vua Nhân Tông phong cho
Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn Quốc công tiết chế thống
lĩnh toàn bộ quân đội kháng chiến chống quân Mông Cổ.
Thâu tóm trong tay mọi quyền lực quân sự, mà không trở thành
độc tài. Điều đặc biệt hiếm thấy trong lịch sử là
sự hội hợp giữa tài năng chinh chiến với trí tuệ, học
giả uyên bác trong một con người như Hưng Đạo Vương. Truyền
thống gia tộc là một nhân tố quan trọng nữa, tạo nên nhân
cách tài năng.
Hưng Ðạo Vương
là vị đại nguyên soái mà binh pháp vào bậc thầy. Ông
đã có những đóng góp rất lớn vào việc phát triển nền
nghệ thuật quân sự. Hưng Ðạo Vương còn là tác giả của
sách Binh Thư quý giá mà trong lịch sử phương Ðông có lẽ
chỉ có hai tác phẩm binh thư, cuốn thứ nhất là sách “Tôn
Tử Binh Pháp”, một cuốn cổ nhất của Trung Hoa, tác giả
là Tôn Vũ, người nước Tề, làm tướng nước Ngô thời
Xuân Thu (770-476 Tr C.N.)
Nói về tư tưởng
binh thư của Hưng Ðạo Vương thì hai tác phẩm của Ngài
là “Binh Thư Yếu Lược” và “Vạn Kiếp Tông Bí Truyền
Thư” cuốn này đã thất lạc. Chỉ còn lưu lại sách Binh
Thư Yếu Lược, theo Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư thì sách
này cũng tam sao thất bản, không biết bộ mặt thật của
nguyên tác ra sao nữa. Nhưng ngày nay chúng ta chỉ có thể tìm
hiểu cái tinh thần Binh Pháp của Ngài một phần trong các
cuộc kháng chiến vệ quốc với nhà Nguyên. Hưng Ðạo Vương
thường tính đến mọi yếu tố tổng hợp của một cuộc
chiến như hình thức chính trị, kinh tế, xã hội và dân sự.
Ông có tầm nhìn xa và thận trọng trong việc giải quyết
các nhiệm vụ chiến lược.
Thời đại văn
minh khoa học ngày nay, chúng ta có đủ mọi phương tiện để
truy cập dễ dàng các tài liệu lịch sử: Ðông, Tây, Kim,
Cổ trên mạng Internet, hoặc xem Bách khoa Toàn thư của Pháp,
Anh, Hoa Kỳ v.v… Ðể so sánh, đối chiếu những trận đánh
lừng danh trong lịch chiến tranh nhân loại với trận Bạch
Ðằng giang (9/4/1288) Trận Chi Lăng Xưởng Giang (18/10-3/11/1427),
và trận Ngọc Hồi Ðống Ða (25/1/1789). Thì ta mới thấy rõ
các trận đánh lớn trong lịch sử chiến tranh thế giới từ
tối cổ đến cận kim, không có trận nào ngang ngửa tầm
cỡ với ba trận đã xẩy ra trên đất nước ta, mà sách sử
đều ghi chép rõ ràng như trận Bối Thủy Hàn Tín phá Triệu
(năm 204 Tr C.N.) lực lượng tham chiến, quân Hán 50.000 người,
quân Triệu 100.000. Kết quả Hán tiêu diệt phần lớn quân
Triệu. Trận Xích Bích năm 208 là trận nổi tiếng trong lịch
sử Trung Hoa cổ gồm một số trận đánh quyết định thế
(chia ba thiên hạ) tạo thành thời đại Tam Quốc với
ba nước Ngụy, Thục, Ngô. Theo chính sử của Trung Quốc về
thời ấy của sử gia Trần Thọ thế kỷ thứ III, tuy khẳng
định Xích Bích là một trận đánh lớn, nhưng chỉ ghi chép
như sau: “Tôn Quyền chấp nhận lời thỉnh cầu của Gia Cát
Lượng, mưu sĩ của Lưu Bị, phái hai tướng là Chu Du và Trình
Dục đưa ba vạn quân giúp Lưu Bị tổ chức chống Tào. Liên
Quân Tôn Lưu tổ chức trận đánh ở Xích Bích, dùng hỏa
công diệt hàng vạn quân Tào”. Sau này, các tiểu thuyết
gia Trung Hoa miêu tả rất phong phú trong Tam Quốc Chí diễn
nghĩa, họ phóng đại con số chứ không theo chính sử của
Trung Hoa.
Ta lại qua một
phương trời khác: Trận Marathon (490 trước Công Nguyên), tại
vùng đồng bằng Marathon thuộc địa giới Hy Lạp cổ đại
đã diễn ra trận đánh nổi tiếng giữa quân Athènes với
quân Ba Tư trong đó thắng lợi thuộc về người Athènes. Ðây
là trận đánh điển hình có ý nghĩa trọng yếu trong cuộc
chiến tranh chống xâm lược của nhân dân Athènes thời cổ
đại. Quân Ba Tư thua, chạy ra biển. Kết thúc thắng lợi,
quân Athènes thu 7 chiến thuyền, quân Ba Tư tử vong 6.400 chiến
binh trong khi quân Athènes chỉ chết 200 người.
Trận Can (Cannes?)
(Năm 216 Tr. C.N.)
Trận Can xẩy ra
giữa quân Carthage với quân La Mã. Trên đường tấn công
xuống miền Nam Italia (Ý). Quân đội Carthage dưới quyền thống
lĩnh của danh tướng Hannibal đã đánh bại quân đội La Mã
cổ đại trong mấy trận liền ở Bắc Italia bằng nghệ thuật
phối hợp tác chiến giữa bộ binh đột phá ở chính diện
với kỵ binh hai bên sườn đánh kẹp lại và vu hồi sau lưng
đối phương. Kết thúc trận đánh vào ngày 2-8-216 Tr. C.N.
quân Carthage đã chiến thắng, quân La Mã bị giết 48.000 người,
còn quân Carthage thì chỉ có 6 ngàn người bị tử vong.
Trận Lépante
(năm 1571).
Ðây là trận thủy
chiến lớn giữa quân Thổ Nhĩ Kỳ và quân Hy Lạp. Xẩy ra
tháng 2 trên cả một đảo eo biển dài trên 8 hải lý, cuối
cùng quân Thổ đại bại chết hơn hai vạn người, trong đó
có cả thủy sư Ðô Ðốc tài danh của Thổ là Pacha Ali cũng
bị hy sinh.
Trận Pôltava
(năm 1709).
Xẩy ra giữa quân
Thụy Ðiển và Quân Nga, vào một ngày đầu mùa Thu 1709
tại vùng rừng núi phía Bắc thị trấn Poltava. Khi tiếng súng
và tiếng kèn xung trận đã im hẳn, rải rác đó đây khối
lửa cuộc chiến vẫn mù mịt. Nga đã đánh bại cuộc xâm
lược của Thụy Ðiển. Quân Thụy Ðiển tử vong 11.500 người,
quân Nga chỉ có 1.340 người. Ðây là thời kỳ huy hoàng của
nước Nga cổ kính dưới sự lãnh đạo của Ðại Ðế Piốtr.
Trận Trafalgar
(20-10-1805)
Ðây là trận thủy
chiến lớn nhất và cũng là trận cuối cùng trong thời đại
chiến thuyền chạy bằng buồm.
Trafalgar là tên
gọi một vùng biển ở cực Nam nước Tây Ban Nha, phía Tây
Ðại Tây Dương, gần eo biển Gibraltar. Nơi đây đã ghi chiến
công của Hải Quân Anh đánh thắng Hải Quân Pháp vào ngày
20-10-1805.
Từ lâu, Hoàng
Ðế Pháp là Napoléon có ý định đập tan hạm đội của
Anh khi đó đang làm bá chủ mặt biển Ðại Tây Dương và
kể cả Ðịa Trung Hải. Tây Ban Nha lúc này đứng về phe với
Pháp nên Napoléon đã lập được nhiều căn cứ thủy quân
ở dọc bờ biển phía Ðại Tây Dương và Ðịa Trung Hải.
Ðầu năm 1805, thuyền chiến của Pháp và Tây Ban Nha đóng
ở Brest, ở Rochefort và Cadix… Hải quân Anh do Ðô Ðốc Nelson
chỉ huy đã đánh bại hải quân Pháp do hoàng đế Napoléon
và đồng minh Tây Ban Nha trong trận này, quá nửa chiến thuyền
của Anh bị đắm và Ðô Đốc tổng chỉ huy Nelson bị tử
thương, nhưng Anh vẫn thắng. Sau chiến cuộc kết thúc, bên
Pháp và Tây Ban Nha có trên 7000 binh sĩ bị chết và bị thương,
còn phía Anh chỉ có 2.500 người.
Trận Waterloo
(1815)
Napoléon bị lưu đầy
gần một năm trở về Pháp để tiếp tục thực hiện
giấc mộng thu phục là ngai vàng và chinh phục Châu Âu. Trước
đây mỗi lần làm lễ ra trận Napoléon thường nói câu: “Ngày
mai ta thắng trận Marangô, ngày mai ta thắng trận Austerliz”.
Ðó là những chiến công đã đưa Napoléon lên đến đỉnh
vinh quang và trở thành con người của huyền thoại. Nhưng
năm 1812 sau khi tiến quân vào Nga ông đã sa lầy và cuối cùng
quân đội bị đồng minh đánh bại vào năm 1814. Napoléon buộc
phải thoái vị, bị đầy ra đảo Elbe theo quyết định của
đồng minh tại Vienne, Thủ Ðô Áo. Trở lại Pháp lần này,
ông tâm niệm một điều là “phải phục thù, phải rửa
hận”. Nhưng ông đã không phục được thù, rửa được
hận trong trận đại chiến Waterloo giữa Liên quân Anh, Phổ,
Nga, Áo, Bỉ, Hà Lan đánh Pháp. Khi trận chiến kết thúc, một
hiệp ước được ký kết giữa các nước đồng minh Anh,
Phổ, Nga, Áo và Pháp tại Paris. Một lần nữa Napoléon buộc
phải thoái vị và theo thỏa hiệp này, Napoléon lại tiếp
tục phải đi đầy ở đảo Saint Hélène. Và cuối đời ông
đã kết thúc một cách thê thảm vào năm 1821 trên hòn đảo
héo lánh giữa Ðại Tây Dương.
Napoléon cùng thời
với danh tướng Nguyễn Huệ. Người đánh trăm trận không
thua trận nào. Nhà Tây Sơn dẹp Chúa Nguyễn ở phía Nam. Nguyễn
Ánh hết lẩn trốn ở Hà Tiên, lại chạy ra đảo Phú Quốc.
Bị truy nã gắt gao, chúa chạy đến đảo Cổ Long (Kolirong),
cả cuộc đời vua chạy trốn, các tướng lãnh đến binh sĩ
của vua Gia Long, cứ nghe đến tên Nguyễn Huệ là khiếp sợ,
bỏ thành chạy hoặc quy hàng. Ánh cầu viện hoàng đế Pháp
cũng không cứu được Ánh, đường cùng Ánh lại chạy sang
Vọng Các (Bangkok). Khẩn cầu vua Xiêm, nước Xiêm bấy giờ
dưới triều vua Chakkri đương lúc cường thịnh và đang nuôi
mộng xâm lăng để mở rộng cõi bờ. Ðược Nguyễn Ánh xin
cứu viện, vua Xiêm hoan hỉ nhận lời ngay. Chụp cơ hội tốt,
mùa Hạ năm Giáp Thìn (1784) Chakkari Hoàng Ðế sai cháu là Chiêu
Tăng làm chủ tướng và Chiêu Sương làm tướng tiền phong
thống lĩnh hai vạn Quân Thủy và 300 chiến thuyền, đồng
thời vua Xiêm lại phái hai tướng là Lục Côn và Sa Uyển
cùng với tướng Chiêu Thùy Biện đem một đạo quân trên
3 vạn, tiến sang Chân Lạp rồi từ đó kéo xuống Gia Ðịnh.
Phối hợp cùng với Thủy Binh của Chiêu Tăng và Chiêu Sương,
cả thẩy gần 7 vạn Thủy quân Xiêm đổ bộ lên Rạch Giá,
Bộ binh Xiêm đánh xuống Châu Ðốc. Các đạo quân Xiêm kéo
vào nước ta một cách rầm rộ.
Nhưng tất cả các đạo
quân của Xiêm đã bị tiêu diệt trong vòng một ngày ở
Rạch Gầm, Xoài Mút vào tháng Giêng năm Ất Tỵ (1785). Nguyễn
Ánh một lần nữa lại trốn thoát chạy qua Xiêm xin tỵ nạn.
Từ đây dân Nam được an cư lạc nghiệp.
Năm 1786, Nguyễn
Huệ vào thành Thăng Long bắt Trịnh Khải. Nền thống trị của
họ Trịnh bị lật đổ, đất nước thống nhất.
Chúa Trịnh Khải
bị giết, quân Tây Sơn rút về Nam trao quyền bính về vua
Lê. Tiếc rằng Chiêu Thống không nắm giữ được binh quyền,
thiếu tự tin, mà triều thần không có người quyết đoán,
thấy có giặc thì bỏ chạy. Bản thân Chiêu Thống muốn
nắm giữ hoàn toàn chính quyền, bãi bỏ nhà Chúa, nhưng thiếu
tài đức để làm việc lớn lại không có hấp lực gì mạnh
để lôi cuốn được quần chúng.
Ðảng Trịnh lại
nổi lên gồm một số quan võ. Một nhóm Tôn Phù Trịnh Lệ,
nhóm khác tôn phù Trịnh Bồng, tranh giành nhau. Phe Trịnh Bồng
thắng thế, kéo vào thành chiếm phủ Chúa cũ. Chiêu Thống
không trị nổi phe Ðảng Trịnh, bất đắc dĩ phải phong Trịnh
Bồng làm Án Ðô Vương. Trịnh Bồng được nhiều võ quan
làm vây cánh đòi nắm giữ hết thẩy mọi quyền trị nước
như các chúa Trịnh trước. Phe Võ Quan khinh thường vua có
kẻ bàn truất phế Chiêu Thống lập vua Lê khác. Bị Trịnh
Bồng hiếp chế quá độ, Chiêu Thống lại hạ chiếu vời
Nguyễn Hữu Chỉnh ở Nghệ An ra giúp.
Chỉnh trừ được
họ Trịnh, Lê Chiêu Thống phong Hữu Chỉnh chức Ðại Tư Ðồ,
bằng Quận Công. Hữu Chỉnh từ đó chuyên quyền ở Bắc
Hà, Chỉnh đóng ở phủ Chúa, cậy công khinh người, tự ý
giải quyết mọi việc, không cần đến Vua, Chiêu Thống lại
lầm to! Muốn trừ khử bỏ Chỉnh đi nhưng không còn biết
trông cậy vào ai.
Trong khi đó Bắc
Bình Vương ở Phú Xuân thấy Hữu Chỉnh lừng lẫy ở đất
Bắc, lại mưu lấy lại Nghệ An thì không thể tha thứ, liền
sai Vũ Văn Nhậm ra đánh Bắc Hà tháng 11 âm lịch 1787, Ngô
Văn Sở và Phạm Văn Lâm đem quân ra Nghệ An phối hợp Vũ
Văn Nhậm, quân Tây Sơn ra đến Thanh Hóa, bộ hạ của Hữu
Chỉnh là tướng Lê Duật bỏ chạy bị giết, Nguyễn Như
Thái và Ninh Tốn vào chống giữ. Sau một trận kịch chiến
ở núi Tam Ðiệp giáp giới Ninh Bình, Thanh Hóa, Thái bị bắn
chết, Tôn chạy thoát thân. Hữu Chỉnh và con là Hữu Du
mang đại quân ra chống cự, bị Vũ Văn Nhậm phá tan ở sông
Thanh Quyết huyện Gia Viễn và ở Châu Cầu Phủ Lý Nhân. Cha
con Chỉnh thu tàn quân chạy về Thăng Long, quân lính trốn
gần hết. Chỉnh vượt sông Cầu đến vùng núi huyện Việt
Yên thì Du bị bắt chém. Chỉnh chạy ngược hướng Bắc rồi
bị bắt đóng cũi đưa về Thăng Long.
Khi quân Tây Sơn
vào Thăng Long. Chiêu Thống chạy sang Kinh Bắc, tướng trấn
thủ là Nguyễn Cảnh Thước đóng cửa thành không ra đón
tiếp. Sau khi Hữu Chỉnh bị bắt rồi. Chiêu Thống không
còn biết nương nhờ vào ai trong bước đường cùng chỉ
còn trông chờ vào quân đội nhà Thanh. Tâu xin vua Thanh cử
binh tướng sang đánh quân Tây Sơn.
Tháng 7 Lê Chiêu
Thống cho người sang Tầu cầu nhà Thanh giúp khôi phục ngôi
vua, sẵn máu mê xâm lược tưởng ngon ăn vua Tầu nhận lời
ngay.
Tháng 10 năm ấy
29 vạn quân Tầu chia làm ba đạo do Tôn Sĩ Nghị làm thống
Soái kéo sang xâm lược nước ta.
Kết quả là đạo
quân xâm lược bị tiêu diệt hai mươi vạn, một con số phá kỷ lục
trong các cuộc chiến tranh của nhân loại. Trận Ngọc Hồi
Ðống Ða một lần nữa đã chứng tỏ thiên tài quân sự
của Nguyễn Huệ. Trước hết là nghệ thuật chuyển quân
thần tốc từ Phú Xuân ra Bắc, Nguyễn Huệ đã thiết lập
một hệ thống tổ chức hành quân đạt hiệu quả tối đa
chưa từng có trong lịch sử. Một kỳ tích ở thời ấy mà
trong một thời gian ngắn hành quân đã vượt một chặng đường
dài gần 1500 km với biết bao nhiêu chướng ngại của thiên
nhiên, cực nhọc, gian khổ, cùng lúc lại còn huấn luyện
bổ sung quân số. Song đã tới đích như ý định. Ðể giải
quyết sự thống nhất giữa hai mặt khách quan và chủ quan,
biết rõ tình hình giặc và việc nắm chắc địa hình chiến
trận có ý nghĩa vô cùng to lớn, nó là những điều kiện
cho phép Nguyễn Huệ khai triển ngay tức khắc với 10 vạn
quân vào một thế trận tấn công liên hoàn chớp nhoáng làm
cho quân địch không kịp trở tay. Mười vạn quân, nhưng đã
sẵn sàng đón nhận trận quyết chiến không cân sức sắp
xảy ra, với con mắt của mình, Nguyễn Huệ thấy lực lượng
quan trọng được tập trung dồn vào giống như một dòng thác
đã tạo nên thế mạnh như sóng thần, nước lũ. Thế ấy
càng nhân lên gấp bội, sức mạnh của 10 vạn quân có mặt
cùng lúc ở Thăng Long, trong khi quân giặc vẫn không hay. Thì
số phận của hơn hai mươi vạn quân Tầu dù đông hơn cũng
đã được định đoạt cả rồi.
Ðiều này cho thấy
rõ Nguyễn Huệ đã luôn luôn phát hiện ra những sai lầm
của đối phương để rồi từ đó quyết tâm xử lý kịp
thời, chính xác. Một đặc điểm nữa là luôn luôn vươn
lên, dành quyền chủ động điều khiển thế trận theo cách
biến hóa mưu lược của mình. Ông là một vị tướng rất
linh hoạt và sáng tạo. Tài năng quân sự của Nguyễn Huệ
được bộc lộ rõ là một nhà chỉ huy thiên tài và chính
trị xuất sắc hiếm có trong lịch sử.
Mỗi người một
vẻ! Nhà đại danh tướng thời Trần có thiên tài về binh
pháp, có trí tuệ quảng bác, kinh bang tế thế luôn nghĩ đến
an dân “an cư lạc nghiệp” làm lý tưởng. Một người
vĩ đại, tự tin nhưng không kiêu ngạo. Có tinh thần thượng
võ, nhưng thượng võ có đạo lý chứ không phải hiếu chiến
lấy võ lực làm cứu cánh. Biết biến hóa tùy thời cho thích
hợp với mọi tình huống xã hội, lại giỏi tâm lý quần
chúng, coi lính như con, và trên hết là có một nhân sinh quan
sâu rộng, thâm diệu, nhất quán để nhìn bao quát tất cả
mọi khía cạnh xã hội, các vấn đề và nắm bắt được
những mối liên hệ tương quan, mà những tư tưởng lớn “Thu
đắc phụ tử chi binh”, “Khoan dân lực dĩ bi thâm căn cố
đế chi kế” đều là những tư tưởng vượt giới hạn
của tri thức về binh pháp để đi vào đạo tâm dẫn trong
sách “Lịch Sử tư tưởng Việt Nam” của Nguyễn Ðăng Thục.
[1]
“Sử nhà Trần” nhà xuất bản Hải Phòng 2003 của tác giả
Trần Xuân Sinh.
|