| Vào ngày 7 tháng 7 năm
2009, một số cô gái Việt Nam bị bắt vì có những hoạt
động trái phép (như thoát y trước khi được 'môi giới hôn
nhân' cho các đàn ông Hàn quốc). Điều đáng ghi nhận từ
sự cố trên là các cô gái được xem mắt đều có trình
độ học vấn thấp và
'... Tuy nhiên, theo
các cô gái, nếu trúng tuyển họ chỉ được đối tượng
môi giới trả 500 USD. Điều đáng buồn, nhiều cô gái
khi được cán bộ lấy lời khai thậm chí còn không biết
mình sinh năm nào, họ chỉ biết trả lời tuổi con gì trong
12 con giáp! Thậm chí có cô không biết tên thật của cha,
mẹ mình!' hết trích - xem chi tiết trên nhiều trang mạng
như Người
Lao Động hay Tuổi
Trẻ v.v…
Ta có thể thấy ngay
là cầm tinh con nào (của năm mình sinh ra) rất quan trọng đối
với người Việt Nam/VN, ngay cả khi không biết chữ (La Tinh
hay Hán Nôm ...). Có người còn tin vào ảnh hưởng của con
vật (của năm sinh) vào vận mạng đời sống tương lai của
mình. Nhìn qua tên gọi các năm sinh từ một góc độ khác
hơn, bài viết của GS TS Nguyễn Văn Lợi/NVL "Câu chuyện:
"MÃO: MÈO hay THỎ?" và sự tiếp xúc văn hoá, ngôn ngữ các
dân tộc phương Đông" (đăng vào khoảng tháng 3/2011) rất
đáng chú ý - xem
chi tiết toàn bài trang này . Vài nhận xét của NVL trong
bài trên rất dễ gây ngộ nhận cũng như cho thấy ông không
thấu đáo cách giải thích về khả năng nguồn gốc Việt
(Nam) của tên 12 con giáp. Phần này chú trọng đến con giáp
đầu tiên Tý/Tử 子
và các tương quan ngữ âm với chuột tiếng Việt. Một số
dữ kiện đã được ghi nhận trước đây trong bài viết ‘Nguồn
gốc Việt Nam của tên 12 con giáp - Tý/Tử-*chút-chuột (phần
10)’ đã đăng trên những trang mạng như http://www.khoahoc.net/baivo/nguyencungthong/280208-muoihaicongiap-ty.htm
hay bạn đọc nên xem bài trên (phần 10) trước khi đọc phần
10A (bài viết này) cho liên tục.
Có lẽ nên nhắc lại
loạt bài viết về 12 con giáp đã đăng lên các mạng toàn
cầu như sau
- các bài số 1, 2, 3
giới thiệu tổng quát về nguồn gốc VN của tên 12 con giáp
- các bài số 4, 4A, 4B
viết về chi Mão Mẹo mèo
- bài số 5 viết về
chi Hợi gỏi *kui cúi (heo/lợn)1
- bài số 6 viết về
chi Thân *khôn khọn (khỉ)
- bài số 7 viết về
chi Tỵ rắn
- bài số 8 viết về
chi Thìn/Thần long-rồng
- bài số 9 viết về
chi Dần *kính kễnh
- các bài số 10, 10A
viết về Tý chút *chuốt chuột
- các bài 11, 11A viết
về chi Sửu *tlu/klu tru trâu2
- bài số 12 viết về
chi Tuất *chuak *sio chó
- bài số 13 viết về
chi Ngọ *ngự ngựa
- bài số 14 viết về
chi Dậu *rơga gà
- các bài số 15, 15A
viết về chi Mùi Vị *mjei dê
Các bài viết riêng với
các chủ đề khác (cũng đánh số từ 1 đến 15 như trên):
- Tại sao Nhật, Hàn,
Inđô … không đặt vấn đề với nguồn gốc tên 12 con giáp?
(phần 1)
- Ngưu là trâu hay bò?
Như vây là có ít
nhất 22 bài viết khác nhau về cùng một chủ đề - nhớ rằng
các bài đánh số 4A, 4B ... là các bài viết riêng (cập nhật)
và tiếp theo bài 4 (bài đầu tiên), cũng như các bài 10A hay
15A ...v.v... Đây là không kể các bài viết nhỏ hay các bài
phát ra, phỏng vấn (ở Melbourne/Úc hay California/Mỹ) và trao
đổi trên các diễn đàn từ năm 2000 - như diễn đàn Viện
Việt Học, Quách Hiền, Nguyễn Phúc Anh, đài phát thanh BBC
Tiếng Việt ... Và không kể các bài viết đưa ra các vết
tích của tiếng Việt (cổ) trong tiếng Hán (cổ) hỗ trợ
cho khả năng nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp
- Vết tích liên hệ
long-rồng và sông qua ngôn ngữ (phần 1)
- Tản mạn về danh từ
‘cá sấu’ : vết tích phương Nam trong tiếng Hán (phần 1)
- Tản mạn về danh từ
trà (chè) (phần 1)
- loạt bài "Bụt hay
Phật"
...v.v...
Sau khi xem qua hình ảnh
tổng quát về các từ HV (Hán Việt) hay VH (Việt Hán) trong
ngôn ngữ, trở lại chủ đề này và hãy xem lại các cách
đọc (phiên thiết) của chữ 子
a) tức lý thiết 卽里切
(Đường Vận/ĐV), tổ tự thiết 祖似切
(Tập Vận/TV) âm tử 音梓
b) tài tứ thiết 才四切
(Chính Tự Thông)
c) tử đức thiết 子德切
âm tắc 音則
(Khang Hy)
(không thấy phiên là
tức di thiết 卽移切
hay tương chi thiết 將支切
- đọc là tý/tí như 訾)
Thành ra không phải ngẫu
nhiên mà âm 'Hán Việt' lại dùng âm Tý (một tý/tí
- một chút so với *chuột) mà không thấy dùng âm Tử3子cho
tên 12 con giáp (tự điển Việt Bồ La/1651) cũng như cách gọi
'ông
Tí' là 'ông chuột' (Đại Nam Quốc Âm Tự Vị/1896).
So với chữ 梓
lại đọc là tử chứ không theo cách phiên thiết hay là tức
ly thiết 卽里切/ĐV
hay tổ sĩ thiết 祖士切/Vận
Hội có âm tỷ/tì 耔
(hay 秄).
1. Bàn thêm về
thành phần hài thanh Tý/Tử 子
Ngoài các liên hệ
như tỷ 姊
(chị), tự 寺(chùa),
thì thời 時
chừ (giọng Huế), các âm tốt/thốt 卒hay
thúc 倏so
với chợt ...v.v... đều chứng tỏ liên hệ ngữ âm t-ch rất
rõ nét như đã nêu ra trong bài "Nguồn gốc Việt (Nam) của
tên 12 con giáp - Tý Tử chút *chuốt chuột (phần 10)"; ta còn
có thể nhận ra tương quan ngữ âm t-ch qua các dữ kiện sau
đây.
1.1
Tiếng kêu chiêm chíp, chút chít 吇吇
(từ láy)
Một chữ hiếm trong
vốn từ Hán cổ là tử吇theo
Tập Vận4
Chữ tử 吇
viết bằng bộ khẩu口hợp
với chữ Tý 子
theo Tập Vận/TV chỉ tiếng kêu của chim (tiếng Việt còn
dùng âm chíu chít, chiêm chíp ... đây là các tiếng tượng
thanh hay nhái theo tiếng chuột hay chim kêu)
【集韻】祖似切,音子。吇吇,鳥聲
【Tập
Vận】
tổ tự thiết,âm
tử。*chit
chit,điểu
thanh
Không thấy loài chim
nào lại hót với âm ‘tý tý’ hay ‘tử tử’ - so với
chiêm chíp, chít chít, chíu chít - cũng như âm thanh phát ra
từ loài chuột, khối lượng nhỏ như loài chim nên thường
phát ra các âm có tần số cao5. Tiếng chim kêu là
chiêp (tiếng Môn), k-chiêp (Khme), chíp chíp ... ch-chim ch-chíp
(Thái), chiep chiep (Lào), kchiep kchiep (Mã Lai) ...v.v...
Ngoài liên hệ đến
chút chít (tiếng kêu của loài chuột, chim, gà ...), thành phần
hài thanh tử子còn
liên hệ đến huyết thống (gia đình) - rất khác với tiếng
Hán tôn 孫
hay tử tôn 子孫
, tằng tôn 曾孫,
huyền tôn 玄孫
(cháu chít, cháu chắt) so với tằng tổ (曾祖,
ông cố - ba đời) …
chắt (con của
cháu, ba đời - tằng tôn)
chít (con của
chắt, bốn đời - huyền tôn)
chút (con của chít,
năm đời) (Việt Nam tự điển6 , 1956)
…
'Chít, nhỏ chít:
nhỏ bé, chát chút chít : cháu đời thứ bốn
...
Chút chít, cháu chát,
chút chít: cháu chắt' (tự điển Việt Bồ La)
Rõ ràng khái niệm huyết
thống và âm thanh (phụ âm đầu ch-) đã từng hiện diện
trong tiếng Việt mà tiếng Hán chỉ có ký âm là tử 子
: mấu chốt của các tương quan này là chính là phạm trù
nghĩa của các âm chút/chít hàm ý nhỏ hay ít. So với
các ngôn ngữ láng giềng, tiếng Môn: con chút con chik; tiếng
Thái chuôt, trutx, xuôt hay jéet จี๊ด
(rất
nhỏ) ... đều gợi ý nhỏ nhoi, tý ty (tí ti). Các
cách dùng cháu chắt chít chút (tiếng Việt, Môn, Khme ...) như
đã ghi nhận phù hợp với kết quả nghiên cứu trước đây
của tác giả Paul K. Benedict7; ông đã từng so sánh
các ngôn ngữ ở Đông Nam Á và kết luận rằng tiếng Hán
đã nhập vào một số từ về liên hệ (tổ chức) gia đình,
cũng như hệ thống xã hội và chính trị của người Trung
Quốc cổ đại đã bị ảnh hưởng và thay đổi rất nhiều
khi tiếp xúc với các dân tộc từ phương Nam (Benedict đề
nghị dùng danh từ riêng Austro-Thai-x hay AT-x để chỉ ngôn
ngữ phương Nam 'nguyên thuỷ' đã từng hiện diện này). Trong
bài viết gần đây hơn "Austroasiatic loanwords into Sino-Tibetan"
- xem chi
tiết trang này , Benedict ghi nhận các tương quan về danh
từ chỉ cha mẹ giữa tiếng tiền-Waic (proto-Waic), tiếng tiền
Miến-Tạng (proto Tibeto-Burman) và tiếng tiền Hán-Tạng (proto
Sino-Tibetan) và đề nghị thêm một cách giải thích qua khả
năng hiện tượng vùng (areal features).
Tương quan tử (tý) và
chút chít (tiếng kêu) còn vết tích trong cách dùng *chi chi
吱吱
chỉ lên tiếng (kêu lên) hay *chiu chiu 啾啾
(thu thu HV jiū jiū BK) thường gặp hơn, như hiện diện trong
tự điển HV của Thiều Chửu chẳng hạn. Tương quan t-ch của
tý tử - *chút chuột không chỉ có mặt trong tiếng Việt,
nhưng còn để lại dấu ấn trong các ngôn ngữ miền Nam TQ,
như giọng Mân Việt 閩南語
: đọc tý tử giống như chi2 chu2 - xem
các giọng đọc tý tử trang này, hay qua cách phiên thiết.
Thường thì âm chi 之
dùng để phiên phụ âm mặt lưỡi tắc (vô thanh) ch-, như
châm 針
(cái/ cây kim, kim là âm cổ còn duy trì trong tiếng Việt) đọc
là
【廣韻】之林切
[Quảng Vận] chi lâm
thiết (đọc là châm - âm châm 音斟)
Dựa vào một số
cách phiên thiết trung cổ như trên, ta có cơ sở phục
nguyên một cách đọc cổ hơn của Tử/Tý 子
1.2 Chớp
䁒 tập HV (chớp mắt, nháy mắt)
Chữ hiếm 䁒 có các
cách đọc trung cổ như sau
【廣韻】子入切【
集韻】卽入切
[Quảng Vận] tử nhập
thiết [Tập Vận] tức nhập thiết - đọc là tập HV so với
các dạng chợp/chớp/chập/chặp trong khẩu ngữ.
Để ý âm tử 子
được dùng để chỉ chớp (mắt), phản ánh qua giọng Quảng
Đông của âm này là cap1 caap1 zap6 (so với giọng BK là zí,
jí). Tiếng Hán thường dùng chữ trát 眨
để chỉ chớp (mắt) hơn.
1.3
Chữ tiếp 楫
(mái chèo), theo Thuyết Văn Giải Tự (biên hiệu 3769)
楫,[
子葉切
], 舟櫂也。從木咠聲
Tiếp [tử diệp thiết]
chu trạo dã . tùng mộc *chập/tập thanh
【集韻】側立切,音戢。聚也
【Tập
Vận】
trắc lập thiết,âm
tập。Tụ
dã
Một nghĩa của tiếp
là tụ tập (chập lại, chắp, chợp …) - đây là vết
tích của tương quan phụ âm đầu t- (tử, dùng trong cách phiên
thiết tử diệp thiết) và phụ âm ch- (chập).
1.4
Chữ tức 鯽
là cá nốc, cá diếc …
Tức HV so với jì, jí
BK - giọng Hẹ là tsit7 tsit8, giọng Mân Nam là chit1 - cũng
là loài cá chép. Cá chép thường được biết là lý hay lý
ngư 鯉魚;
hãy so sánh cách phiên thiết phụ âm đầu của âm trung cổ
tức鯽
【廣韻】子力切【
集韻】節力切
[Quảng Vận] tử lực
thiết [Tập Vận] tiết lực thiết
Đây cũng là một dữ
kiện cho thấy liên hệ của phụ âm đầu t- (tử) và ch- (chép).
1.5
Chữ xiệp/tiệp 啑
Theo các thư tịch TQ
thì xiệp/tiếp có thể đọc như
【音義】啑,
子答反
[Âm Nghĩa] xiệp, tử
đáp phản
【集韻】所答切,音霎。又子洽切,音眨
[Tập Vận] sở đáp
thiết,âm
siếp。Hựu
tử hiệp thiết,âm
trát - nhắc lại: trát có nghĩa là chớp (nháy, chợp mắt).
Tiếng Việt còn duy trì
các dạng cổ hơn là chép (miệng, môi), bép xép ... đều hàm
ý nói nhiều (đa ngôn mạo 多言貌).
So với các từ chắc, chặc (lưỡi), hay chùn chụt (hôn chùn
chụt, bú chùn chụt ...); đây là các từ nhái lại hoạt động
của môi khi nói chuyện (tượng thanh cũng như tượng hình).
Từ láy toàn phần xiệp
xiệp diễn tả tiếng kêu (tần số cao) của côn trùng
〖啑啑〗∶蟲鳴聲
〖xiệp
xiệp 〗∶trùng
minh thanh
Trích từ trang http://tool.httpcn.com/Html/Zi/22/PWCQXVILCQUYUYUYCQ.shtml
2. Tử 子
trong văn hoá Hán ám chỉ loài nào?
Từ giáp văn, kim văn
và chữ triện, ta có thể nhận ra nguồn gốc của chữ tử
là hình đứa bé với cái đầu khá lớn, chẳng liên hệ gì
đến loài chuột và tính chất tổng quát nhỏ nhoi (chút, tý);
như vậy là chữ tử 子có
nguồn gốc liên hệ đến loài người (không phải thảo mộc
hay loài vật nào cả); xem chi tiết ở bảng tóm tắt trang
sau

Xem các bộ thủ
như bộ thử (chuột), khuyển, trỉ, thỉ ... không thấy trường
hợp nào dùng chữ tử để tạo chữ mới, nhưng bộ trùng
thì có thể kết hợp với chữ tử thành chữ tử 虸
(là chữ hiếm, tần số dùng là 40 trên 65348624):
【唐韻】卽里切【
集韻】祖似切,音子.
虸蚄,蟲名。害稼
【Đường
Vận】
tức lý thiết 【Tập
Vận】
tổ tự thiết,âm
tử。tử
phương,trùng
danh。Hại
giá
Tử (phương)
là loại sâu ăn hại mùa màng cũng như loài chuột vậy. Tuy
nhiên, tử (phương) là loài sâu Mythimna separata khác xa loài
chuột với quá trình biến thái hoàn toàn như sau - trích từ
trang http://www.hudong.com/wiki/%E7%B2%98%E8%99%AB

Nếu tử đã từng chỉ
loài chuột hay một loài tương tự như vậy, ta có cơ
sở để lý giải về nguồn gốc ‘phương Bắc’ của
âm và nghĩa của tử một cách tương thích. Nhưng tình hình
lại khác hẳn, tử (âm trung cổ - ít nhất là từ thời Đường
Vận hay khoảng 751 SCN) chỉ loài sâu bọ, dẫn đến một kết
quả là khả năng ký âm của tử hay tý cho âm *chut/chuot của
một tiếng nước ngoài nhập vào tiếng Hán cổ điển; tiếng
ngoại quốc ấy có thể chính là tiếng Việt (cổ) của phương
Nam dựa trên các tương quan ngữ âm đã được nêu ra.
3. Âm ‘chuột’ qua
các thư tịch Hán Nôm
3.1
Chuột được ghi âm là 卓
trác HV trong An Nam Dịch Ngữ7 , so sánh với các cách
đọc trung cổ của chữ trác
【唐韻】竹角切【
集韻】側角切,
音涿
【Đường
Vận】
trúc giác thiết 【Tập
Vận】
trắc giác thiết,âm
trác
Âm trác phù hợp với
âm chuật (chuột, tự điển Việt Bồ La), so với chữ
Nôm dùng truật 𤝞
(chữ này rất hiếm) với các cách đọc như sau
【廣韻】丑律切【
集韻】敕律切,音黜
【Quảng
Vận】
sửu luật thiết 【Tập
Vận】
sắc luật thiết,âm
truất。
Chữ truất 𤝞
còn cách viết khác là 䟣; đã từng được ghi nhận trong
Thuyết Văn Giải Tự, Ngọc Thiên, Long Kham Thủ Giám ...
3.2 Chước 䶂 là sóc
hay chuột?
Chữ hiếm chước
䶂. thường được giải thích trong các tài liệu TQ (Khang
Hy, Hán Ngữ Đại Tự Điển) là loài sóc (squirrel), đã có
mặt ít nhất trong Thuyết Văn Giải Tự, biên hiệu 6372, chỉ
một loài chuột
䶂,[
之若切
], 鬍地風鼠。從鼠勺聲。
䶂,[chi
nhược thiết ],hồ
địa phong thử。Tùng
thử chước thanh。
Quảng Vận/QV còn ghi
lại là chước thuộc
loài chuột (thử thuộc 鼠屬,
thử danh 鼠名-
hay bay 能飛
năng phi - so sánh với truất 𤝞
bên trên), nhưng nhỏ hơn (tựa thử nhi tiểu dã 似鼠而小也).
QV còn ghi một cách đọc khác của chước là
tức lược thiết 卽略切
- so với cách đọc
tức ước thiết 卽約切
âm tước 音爵
(TV)
Rõ ràng nói lên liên
hệ của phụ âm t- (tước, tử) và ch- (chước, chuột). Nguyên
âm -ươ của thành phần hài thanh chước 勺
có một biến âm là -uô như chữ dược 藥
đọc là dĩ chước thiết 以灼切/ĐV
hay dặc ước thiết 弋約切/Vận
Hội: tiếng Việt bây giờ đọc là thuốc (*thuốt); so với
chước 䶂 và chuột. Một điểm đáng chú ý ở đây là chước
còn có thể đọc là báo: ba giáo thiết, âm báo 巴校切,音豹
(TV). Một âm báo (beo) để chỉ hai loài vật (chuột và beo)
phản ánh phần nào trường hợp hợp một âm ngoại quốc
đã nhập vào tiếng Hán và tạo ra sự trùng hợp hi hữu này.
Chước còn có thể viết bằng bộ khuyển hợp với chữ chước犳
(chữ hiếm) nghĩa cổ là báo (con beo). Không những cùng bộ
gặm nhấm (Rodentia), chước
(loài chuột) còn có liên hệ ngữ âm đến sóc
qua tương quan ch-s/x (chung quanh - xung quanh, chéo – xéo, chẻ
- xẻ …); điều này phù hợp với cách dịch sóc là tông
thử 鬆鼠
(chuột có nhiều lông) trong vốn từ Hán hiện nay; sóc bay
(flying squirrel - thuộc tông Pteromyini) còn được gọi là ngô
thử, phi thử 鼯鼠,
飛鼠
(chuột bay). Tiếng Nhật cũng dùng các từ lật thử, mộc
thử
栗鼠,
木鼠
hay risu リスđể
chỉ loài chồn. Tiếng Việt còn dùng tổ hợp chuột sóc
hay sóc chuột cho vài họ thuộc bộ gậm nhấm này -
xem thêm chi tiết trang dưới. Sóc là prok (tiếng Khme), Prok
(Bahna, Rơngao, Chăm), prò (Kơho, GiaRai) - so với *pơ-rau (tiền
Bahna, Mường de Uý Lộ) và sáu (Việt).
Sóc đuôi trắng - trích
trang http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_G%E1%BA%B7m_nh%E1%BA%A5m
(khó phân biệt
được loài sóc này và chuột - nhất là nhìn từ xa hay khi
chúng đang di động)
3.3 Chữ hiếm
*chươc/chat 虳
là chuột?
Trích Ngọc Thiên (khoảng
543 SCN), chữ hiếm 虳có
nghĩa là chuột có tần số dùng là 11 trên 171894734 có một
âm đọc là
【玉篇】九勿切。鼠也
【Ngọc
Thiên】
cửu vật thiết。Thử
dã。
Cách đọc cửu vật
thiết (*kât, quất, khuất, *chuat/truat/xuat) còn là cách phiên
âm các chữ 趉
(chữ hiếm nghĩa là chạy đi/tẩu 走),
khuất 屈
- để ý phụ âm k- của cửu tương ứng với ch- ngạc hoá
như căn gian, keo giao, kéo giảo, kẹp giáp ... xem thêm chi tiết
trao đổi trên diễn đàn Viện Việt Học trang VVH
- Forum :: Tiếng Việt :: căn - gian
趉,[
瞿勿切
], 走也。從走出聲
(TVGT biên hiệu 1040)
*chuat/truât/xuât,[cù
vật thiết ],tẩu
dã。Tùng
tẩu xuất thanh
Các dị thể của chữ
趉
*chuat/truat trên rất đáng chú ý vì có dạng dùng chữ tử
子làm
thành phần hài thanh, trích từ trang http://dict.variants.moe.edu.tw/yitic/frc/frc13711.htm
Một kết luận
cho
phần 10 (bài đăng trước đây) và phần 10A (bài này): ta có
cơ sở thành lập tương quan ngữ âm giữa Tý Tử và chút
*chuột, không những thế tiếng Việt còn duy trì nhiều liên
hệ như huyết thống cũng như các vết tích Hán cổ hỗ trợ
cho khả năng Tý tử 子
là một dạng ký âm của một tiếng nước ngoài, và dĩ nhiên
người Hán không hiểu Tý Tử từng là tên gọi loài chuột
khi nhập vào tiếng Hán cổ. Theo tác giả William G. Boltz9
thì một dạng âm cổ phục nguyên của Tý Tử là *tsjǝgx
hay rất gần với âm *chơkh (chơc) tiếng Việt hiện đại.
Tiếng Thái cũng dùng âm chuat để chỉ chi đầu tiên, nhưng
lại gọi con chuột là nŏo (hay nưu) หนู
cho thấy âm chuat này mượn từ tiếng Việt. Tiếng Khme10
cũng dùng dạng *ju:t (chuột) để chỉ chi Tý Tử và chuột,
nhưng lại không thấy dùng trong quan hệ huyết thống (cháu,
chắt, chít, chút11) không như tiếng Môn (chăk là
chắt) và dạng tuch (Khme) là chút. Khả năng nguồn gốc Việt
(Nam) của tên 12 con giáp phản ánh quá trình giao lưu (cho qua
cho lại) linh hoạt của các dân tộc cổ đại (Bách Việt)
đã từng sống gần nhau ở phía Nam Trường Giang thời Tiên
Tần. Điều này còn thấy trong nhiều di chỉ từ phương Nam
và ngay cả từ Tây Á và Phi Châu được khai quật từ lăng
mộ Triệu Văn Đế ở Quảng Châu12. Đây là một
đề tài khác rất lý thú và cần được nghiên cứu cẩn
thận dựa vào các dữ kiện khảo cổ, lịch sử (văn bản
và truyền thuyết), ngôn ngữ và sinh vật học: như nghiên
cứu về di truyền học cũng cho thấy quá trình giao lưu văn
hoá cổ đại rất có thể đã xẩy ra mà tên gọi 12 con giáp
là một kết quả tự nhiên mà thôi - xem bảng so sánh đánh
dấu di truyền (genetic marker) Y-chromosome phần dưới

Phân bố nhóm haplogroup
O (Y DNA) ở Á Châu - trích trang http://en.wikipedia.org/wiki/Austro-Tai_peoples#cite_note-13
(tóm lược từ các
bài viết của Jerold Edmondson và Shi Hong et al13)
Do đó, không nên chỉ
dựa vào một dữ kiện '... Chẳng hạn, để chứng minh
tên gọi Tí chính là «chuột», tác giả lập luận: Trong tiếng
Việt từ tí (trong câu: Nghỉ một tí) và từ chút (trong câu:
Nghỉ một chút) là hai từ đồng nghĩa. Thời cổ đại (khi
tiếng Việt chưa có 6 thanh điệu như ngày nay) chút và chuột
có cách phát âm giống nhau, như vậy Tí chính là Chuột...'
(NVL,
bài viết đã dẫn bên trên) để cho rằng lập luận trên
không có cơ sở mà không xem kỹ các dữ kiện khác - thật
ra chỉ có tiếng Việt mới có hiện tượng ‘cho tôi một
tý/ tí' hay 'cho tôi một chút' và 'chút là
cháu năm đời', chính vì vậy mà người viết thường
nêu ra hiện tượng ngôn ngữ này (rất dễ nhớ) như một
khởi
điểm cho hàng loạt các dữ kiện tương tự dẫn đến
kết luận "nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp".
4. Phụ chú và phê
bình thêm
Để dễ nhìn thấy vấn
đề đặt ra, bạn đọc nên xem thêm các bài viết về "Nguồn
gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp" trên các trang mạng như
http://www.khoahoc.net/baivo/nguyencungthong/150606-muoihaicongiap-2.htm
hay bảng so sánh tên gọi 12 con giáp trong các ngôn ngữ Đông
Nam Á trong bài viết số 2 (phần 2) http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&id=81
v.v…
1) Bài "Nguồn gốc Việt
(Nam) của tên 12 con giáp - Hợi gỏi *kui cúi (heo/lợn) (phần
5)" trình bày tại Hội Thảo quốc tế về tiếng Việt
tại Viện Việt Học (California, Hoa Kỳ, 2006)
2) Bài "Nguồn gốc Việt
(Nam) của tên 12 con giáp - Sửu *tlu/klu tru trâu (phần 11)" trình
bày tại Hội Thảo quốc tế Việt Nam Học kỳ 3 tại Hà Nội
(12/2008)
3) có thể khi nhập (ngược)
vào tiếng Việt, năm Tử hay giờ Tử còn có thể mang nghĩa
ngược lại với năm hay giờ sinh: Tử có thể là chết 死
viết bằng bộ ngạt; do đó người Việt dùng âm Tý/tí để
phân biệt với Tử chăng? Tuy nhiên, nghĩa của Tý/tí lại
trùng hợp với các âm chút và chuột khiến ta phải đặt
lại vấn đề. Tương tự như trường hợp của chi Mùi, âm
Mùi là dạng cổ hơn của Vị (vô phí thiết 無沸切/ĐV/TV
âm vị 音味),
tiếng Việt không thấy ai dùng dạng Vị cả! Chính tiếng
Việt còn duy trì các âm cổ (Mẹo Mão so với mèo, Mùi so với
Vị dê, Tý chút so với chuột ...) và do đó ta cần phải đặt
lại vấn đề về nguồn gốc thật sự tên gọi 12 con giáp,
thay vì tin tưởng (theo truyền thống) vào nguồn gốc từ phương
Bắc một cách mù quáng từ đời này qua đời kia.
4) không những đã hiện
diện trong Tập Vận (1067), chữ tử 吇đã
có mặt trong Long Kham Thủ Giám 龍龕手鑑
(LKTG) hoàn tất vào năm 997 bởi nhà sư Hành Quân 行均.
Tên nguyên thuỷ là Long Kham Thủ Kính 龍龕手鏡
nhưng vì tỵ huý của ông nội vua Tống Thái Tổ (tên là Kính
敬,
đồng âm với 鏡)
nên đổi thành Giám. Tài liệu này còn xếp khoảng trên 26000
chữ (đa số là dị thể) thành các nhóm chữ chính 正
tục 俗
hiện hành (kim 今),
xưa (cổ 古)
và dùng tương đương (或作
hoặc tác); ngoài phiên thiết các âm LKTG còn có rất nhiều
tục tự trong cuốn Âm Nghĩa Thư 音義書
này - nhờ đó mà một số học giả có thể giải mã các
trường hợp chữ hiếm từ các tài liệu khai quật ở Đôn
Hoàng 敦煌
- một thành phố và trạm dừng chân lớn trong thời kỳ vàng
son của con đường tơ lụa huyền thoại.

Một trang của
Long Kham Thủ Giám
Tử 吇còn
có nghĩa là rên siếc, đọc là tư tất thiết 資悉切
(LKTG), cùng nghĩa với tức 喞
(rên rỉ).
5) tiếng chuột kêu là
chuuchu (Nhật), ccik-ccik (Hàn), cyik-cyik (Thổ Nhĩ Kỳ), chít
chít (Việt), cit-cit (Inđônêsian) ... Tiếng chim kêu là chíu
chít, chít chít (Việt) so với tiếng Anh dùng các động từ
như chirp, chat, chatter, chitter ... ngay cả con gà còn gọi là
chick(en), tiếng lóng là chook. Bạn đọc có thể xem thêm bảng
tóm tắt các âm thanh phát ra từ các loài chim (nhỏ, lớn)
hay chuột, mèo, hổ ... trang
này.
6) nhưng theo 'Đại Nam
Quốc Âm Tự Vị' (1895) thì P. Của cho rằng chút là cháu bốn
đời, cũng như theo Gustave Hue (1937) trong ‘Dictionnaire vietnamien
chinois francais’ ghi chút là 'petit-fils de la quatrième génération'.
Nếu xem chú (chú em, chú rể, chú mày so với em của bố/ba)
đại diện cho thế hệ thứ hai, thì các từ cha chú cháu
chắt chít chút tạo thành một chuỗi tên gọi họ hàng
đáng chú ý trong tiếng Việt. Về các danh từ (hay đại danh
từ) chỉ quan hệ thân thích (bà con), ta nên phân biệt một
lớp từ Hán Việt khác liên quan đến gốc Hán Tạng như
chú thúc HV
叔
bác bá HV伯
cậu cữu HV舅
...
Đây là một chủ
đề thú vị (kinship terms/tên gọi họ hàng) và nên được
tra cứu chi tiết thêm, nhưng không nằm trong phạm vi bài viết
này.
7) theo cuốn "Austro-Thai,
Language and Culture, with a glossary of roots" viết bởi nhà ngữ
học người Mỹ Paul K. Benedict - NXB New Haven (1975). Benedict là
một trong những học giả Tây phương nổi tiếng vì đặt
lại vấn đề và đưa ra các dữ kiện ngôn ngữ cho thấy
ảnh hưởng của phương Nam vào văn hoá ngôn ngữ TQ cổ đại,
như nguồn gốc của tên 12 con giáp là từ phương Nam chứ
không phải từ phương Bắc hay của người Hán (hiện tượng
mượn lại/back loan). Năm 1976, Jerry Norman và Mei Tsu-lin xác
nhận thêm một lớp từ trong tiếng Hán có gốc Nam Á - xem
bài "The Austroasiatics in Ancient South China: Some Lexical Evidence";
thí dụ như giang 江
là mượn của phương Nam (Nam Á/Austroasiatic) với dạng âm
cổ là *krong hay *krung, và nơi giao lưu văn hoá khi tộc Hán
di thiên và gặp các dân tộc phương Nam ở khu vực Hồ Bắc
(湖北)
- khoảng 1000 TCN tới 500 TCN, nhưng còn có thể trước đó
nữa vào thời nhà Thương ... Thật ra, tiếng Việt còn duy
trì một số âm cổ thuộc dạng *krong với phụ âm r nhược
hoá như
扛,[
古雙切
], 橫關對舉也。從手工聲
(biên hiệu 7922, Thuyết Văn Giải Tự)
Giang,[cổ
song thiết ],hoành
quan đối cử dã。Tùng
thủ công thanh
Tiếng Việt còn giữ
các dạng âm cổ là KHIÊNG, GÁNH, GỒNG (phụ âm đầu là phụ
âm cuối lưỡi) so với dạng ngạc hoá giang và dạng xát hóa
sông
杠,[古雙切
],牀前橫木也。从木工聲
(biên hiệu 3656, Thuyết Văn Giải Tự)
Giang [cổ song thiết]
sàng tiền hoành mộc dã。Tùng
mộc công thanh
Tiếng Việt còn giữ
một dạng âm cổ là (cái) CÁN (phụ âm đầu là phụ
âm cuối lưỡi vô thanh tắc k) so với kán (tiếng Thái, Lào),
cản (Nùng)...
Một nhận xét lạc quan
và đáng thêm vào ở đây là các học giả TQ bắt đầu nhìn
lại vấn đề nguồn gốc phương Nam một cách khách quan và
thuận lợi hơn, phản ánh qua những tài liệu gần đây trên
mạng - trích trang http://www.zdic.net/zd/zi/ZdicE6ZdicB1Zdic9F.htm
南 方 的 河 流 多 称“江”,如:“珠
江”、"沅 江”;北
方 的 河 流 多 称“河”,如:“洛
河”、“渭 河”、“漳 河”
Nam phương đích hà
lưu đa xưng “giang”, như: “Châu giang” 、"Nguyên
giang”; Bắc phương đích hà lưu đa xưng“hà”, như:“Lạc
hà” 、“Vị
hà” 、“Chương
hà”
8) "An Nam Dịch Ngữ"
Vương Lộc giới thiệu và chú giải - NXB Đà Nẵng, Trung Tâm
Từ Điển Học (Hà Nội, Đà Nẵng 1995)
9) theo bài viết "The
Old Chinese Terrestrial Rames in Saek" của GS William G. Boltz (Đại
Học Washington), đăng trong cuốn "Studies in the Historical Phonology
of Asian Languages" thuộc bộ 'Current Issues in Linguistics Theory'
- chủ biên William G. Boltz và Michael Shapiro, NXB John Benjamins
- trang 53-67.
10) xem chi tiết về âm
Khme cổ (khmer ancien) trong bài "Le cycle des douze animaux: histoire
d'un contact ancien entre Vietnam et Cambodge" của tác giả Michel
Ferlus - đăng trong hội thảo về Ngôn Ngữ Học 'The Sixth International
Symposium on Pan-Asiatic Linguistics' (25-26/11 năm 2004, Hà Nội).
11) liên hệ giữa nguyên
âm u- (chút) và uô- (*chuốt-chuột) rất dễ nhận ra khi so
sánh các cách đọc sau
thuộc 屬
thành phần hài thanh là thục 蜀
- chi dục thiết 之慾切
QV/TV
chuông 鐘
chung HV (thành phần HT là đồng hay *đung) - chức dung thiết
職容切
ĐV
cuộc
局
cục HV
luộc/luốc 綠
lục (sắc xanh biếc)
khung 框
khuông (khuôn)
khùng 狂
cuồng (cự vương thiết 巨王切/QV)
hay còn đọc là cuống (cụ phóng thiết 具放
切/TV)
- phát cuồng 發狂
là phát khùng, cuồng cuồng 狂狂
là cuống cuồng ...v.v...
thuộc 熟
thục - đọc là thị lục thiết (Ngọc Thiên) hay thù lục
thiết (QV) 【玉篇】市六切【
廣韻】殊六切
chuộc 贖
thục - đọc là thần thục thiết 神蜀切/QV/TV
như cách dùng thục tội 贖罪
~ chuộc tội. Để ý Thích Văn còn ghi nhận rằng thục có
thể đọc là thụ 【釋文】贖,
又音樹.
Đây là một bằng chứng cho thấy trường hợp nhược hóa
phụ âm cuối cũng như chuột và tử (phụ âm cuối vô thanh
tắc k/t/p mất đi)
chuốc (rót
rượu) 酬
thù - âm trù 音儔/TV
chuột *chụt
chút
...v.v...
12) xem chi tiết bài viết
về lăng mộ Triệu Văn Đế của
tác giả Nguyễn Duy Chính và các trao đổi trên diễn
đàn Viện Việt Học …v.v…
13) xem chi tiết bài viết
của Jerold A. Edmondson "The power of language over the past: Tai settlement
and Tai linguistics in southern China and northern Vietnam" (2006) trang
này .
Nguyễn
Cung Thông
nguyencungthong@yahoo.com
|