| Người Lính Việt Nam
Cộng Hòa thi hành bổn phận công dân, từ vĩ tuyến 17 xuống
tận Mũi Cà Mau, từ duyên hải quanh năm sóng vỗ đến rừng
già heo hút đội sương, từ Cao Nguyên rậm rạp xuống đồng
bằng sông rạch Cửu Long, mời quí bạn lần theo dấu chân
để đến, và nhận ra Chân Dung Những Người Lính ấy, sau
khi có khái niệm về Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Hơn 20 năm chiến đấu
dũng cảm chống lại cuộc xâm lăng của nước cộng sản
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã
tạo nhiều chiến tích vẻ vang. Có thể nhận định mà không
sợ sai lầm rằng, thế giới chỉ biết thành tích của chúng
ta qua hai trận chiến điển hình, là cuộc phản công toàn
diện trong cuộc “tổng công kích” của quân cộng sản hồi
Tết Mậu Thân đầu năm 1968, và cuộc phản công đánh bại
3 trục tấn công do lãnh đạo nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa từ Hà Nội, xua quân chính qui vượt vĩ tuyến 17 trực
diện tấn công Việt Nam Cộng Hòa vào mùa hè 1972, thường
gọi là “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Chớ họ không thể hiểu được
những chiến thắng với biết bao trận chiến đơn lẻ xảy
ra hằng ngày hằng đêm, đánh nhau từng người, từng tổ,
từng tiểu đội, trung đội, của Bộ Binh, của Địa Phương
Quân Nghĩa Quân, trong nội địa lãnh thổ, những chiến thắng
của "lực lượng Dân Sự Chiến Đấu", của "Lực Lượng
Đặc Biệt", của những "Toán Lôi Hổ", của "Liên Đoàn Biệt
Cách Dù", ..v..v.. trong những cánh rừng già hoang dã dọc biên
giới Việt Nam-Cam Bốt. Nơi mà quân chính qui cộng sản từ
miền bắc, theo hành lang biên giới mà chúng gọi là "đường
Trường Sơn", xâm nhập lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.
Họ cũng không thể hiểu
chiều sâu những trận chiến thầm lặng với sắc thái du
kích mà Người Lính Việt Nam Cộng Hòa phải đối phó. Phải
rình mò tìm địch mà đánh. Bất ngờ gặp nhau là đánh. Đánh
nhau bất luận bao nhiêu tay súng, bất kể ngày đêm, bất cứ
nơi nào. Chiến trường không chỉ là trận tuyến trong chiến
tranh qui ước, mà chiến trường diễn ra ngay trong nhà, ngoài
ngõ, chiến trường là bụi chuối trong vườn, là đám bắp
trong rẫy, là ruộng lúa đồng sâu. Chiến trường cũng là
góc núi, bụi cây, là rừng rậm cao nguyên, là bãi lầy đất
Mũi (Cà Mau), là "biển cạn" Tháp Mười. Từng góc phố, căn
nhà, từng con đường trong thành phố, từng bến đậu phi
cơ hay nơi tàu cặp bến, đâu đâu cũng là chiến trường
của quân cộng sản trong mục đích xâm lăng Việt Nam Cộng
Hòa.
Nói chung là người ngoại
quốc, cho dù là những phóng viên hay những nhà lãnh đạo
chính trị, họ không thể nào hiểu được những chiến thuật
trên chiến trường Việt Nam và cách vận dụng chiến thuật
đó của "Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", trong khi 500.000 quân
Đồng Minh rất khó thích ứng với cuộc chiến mà bản chất
của nó là "chiến tranh tổng thể" trên chiến trường Việt
Nam chúng ta, bởi họ không thấu đáo nền văn hoá Việt Nam
nên chưa hiểu được Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.
Vậy, “Người Lính
Việt Nam Cộng Hòa là ai?”
“Họ”, là những nông
dân chất phác hiền hòa, là những ngư dân miền duyên hải
quanh năm sóng vỗ, là những công nhân nơi thành phố, là những
học sinh tốt nghiệp trung học, là những sinh viên hay đã
tốt nghiệp đại học, là những viên chức cán bộ đam mê
đời sống quân ngũ, là những người chuyên môn trong các
ngành nghề tự do. “Họ”, theo tiếng gọi quốc gia, tình
nguyện vào các trường quân sự. "Họ", tuân lệnh chánh phủ,
trình diện các trường quân sự. "Họ", là quân nhân hiện
dịch, là quân nhân trừ bị, là quân nhân đồng hoá, là những
nữ quân nhân. "Họ", là những chuyên viên, những chiến binh,
những hạ sĩ quan, sĩ quan, tướng lãnh. "Họ" có mặt trong
các quân chủng, binh chủng, binh sở, các cơ quan tham mưu, quân
trường. Khi tổ quốc lâm nguy, "Họ" phụng sự tổ quốc,
phục vụ dân tộc. Tất cả được gọi một cách thân thương
trìu mến là "Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", những người
lính trong một hệ thống tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm
minh là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Người Lính Việt
Nam Cộng Hòa: Là Người Lính Địa Phương Quân, Nghĩa Quân,
ngày đêm quanh năm suốt tháng hơn 20 năm ròng rã, âm thầm,
lặng lẽ, trấn giữ hệ thống giao thông và bảo vệ hạ
tầng cơ sở. Là Người Lính Lực Lượng Đặc Biệt, Biệt
Cách Dù, lặn lội vùng biên giới hoang vu để ngăn chận quân
thù. Là lực lượng Giang Lực, canh giữ trên khắp miền sông
rạch. Là Người Lính Không Quân, từ trên không đánh xuống.
Là Người Lính Nhẩy Dù, từ trên không xuống đánh. Là Người
Lính Hải Quân, từ ngoài biển đánh vào. Là Người Lính Thủy
Quân Lục Chiến, từ ngoài biển vào đánh. Là Người Lính
Bộ Binh, Người Lính Biệt Động Quân, đánh địch ngay trên
bờ nam Bến Hải trong tầm đạn quân thù. Đánh địch dọc
biên giới Tây Nguyên núi rừng rậm rạp. Đánh địch trên
chót Mũi Cà Mau quanh năm ngập nước, trên biển cạn Tháp
Mười, trong Rừng Sát sình lầy gai gốc, giữa đồng bằng
trù phú Cửu Long. Đánh địch để giành lại từng góc phố
của thủ đô, từng ngôi nhà giữa cố đô cổ kính, từng
bờ tường của cổ thành Quảng Trị. "Họ" miệt mài với
chiến trận, và mệt nhoài sau chiến trận. "Họ" đã đánh
địch đến giây phút cuối cùng! Và "Họ", xứng danh là "Người
Lính Việt Nam Cộng Hòa".
Người Lính Việt
Nam Cộng Hòa, đã anh dũng hy sinh nhưng không được yên
bình vĩnh cữu trong các nghĩa trang mà tổ quốc ghi công, vì
quân cộng sản đào mồ cuốc mả. Là những chiến sĩ đã
để lại một phần thân thể góp phần gìn giữ giang sơn,
nhưng bị kẻthù nhục mạ đọa đày. Là những quân nhân
có vầng trán nhăn nheo với mái tóc già nua trước tuổi. Là
những người tù chính trị bịcộng sản lưu đày trong các
trại tập trung nghiệt ngã trên khắp miền quê hương đất
nước, gánh phân người làm phân bón rau xanh, khiêng nước
tiểu tưới lên hoa màu, nhưng "Họ" chỉ được ăn những
cọng rau do phân và nước tiểu của "Họ" mà vươn lên. Đểrồi
nhiều người trong số "Họ", đã chết trong đau thương, đói
khổ, nhọc nhằn!
Người Lính Việt
Nam Cộng Hòa, khi rời đất nước lưu vong với hai bàn
tay trắng, chỉ còn lại tình thương của vợ của con, của
đồng hương đồng đội, che chở cho nhau nơi xứ người xa
lạ.
Đó, là "chân dung Người
Lính Việt Nam Cộng Hòa", mà người phương Tây chưa thể nào
nhận ra được. Bởi, họ chưa hiểu được chiều sâu của
lịch sử và văn hoá Việt Nam, họ chưa hiểu được chiều
sâu tính chất tráo trở lật lọng với bản chất độc tài
tàn bạo của cộng sản Việt Nam, họ cũng chưa hiểu được
chiều sâu của cuộc chiến tranh tự vệ về phía chúng ta.
Do vậy mà người phương Tây chưa thể đánh giá được chiều
sâu của cuộc chiến trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Một
cuộc chiến mà trong đó, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
xua quân vượt biên giới xâm lăng nước Việt Nam Cộng Hòa.
Không thể nói khác được, dù cùng chủng tộc, nhưng hai quốc
gia đều được thế giới công nhận với những tòa đại
sứ thiết lập trên lãnh thổ mỗi quốc gia. Quân của quốc
gia này sang đánh chiếm quốc gia kia, ngoài chữ "xâm lăng"
ra, không có chữ nào khác để chỉ hành động đó cả. Những
ngôn từ mà cộng sản sử dụng để nói đến cuộc chiến
này, đều là những dối trá đánh lừa dư luận quốc nội
lẫn quốc tế, ngụy trang mục tiêu chiến lược của họ.
"Người Lính Việt
Nam Cộng Hòa", hình thành "Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa".
Một quân lực hình thành trong chinh chiến, rèn luyện trong
chiến chinh, nhanh chóng trưởng thành trong chiến trận. Và
từ trong chiến trận, đã tạo nên những chiến tích vang danh,
những anh hùng được toàn dân ngưỡng mộ. Vào giờ thứ
25 của một giai đoạn chiến đấu, vẫn tạo thêm những anh
hùng cho lịch sử đương đại của tổ quốc, “thành mất
chết theo thành”. Vì vậy:
''Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa rất xứng đáng được vinh danh, dù ngày 30
tháng 4 năm 1975 đã bị bức tử sau hơn 20 năm dũng cảm chiến
đấu tự vệ, nhưng đã thể hiện cao nhất về khả năng
và tinh thần chiến đấu nối tiếp dòng lịch sử vẻ vang
của tổ quốc, thể hiện vẹn tròn đạo nghĩa và truyền
thống bất khuất kiêu hùng của dân tộc Việt Nam”.
Houston, mùa Quốc Hận
thứ 36!
Phạm Bá Hoa
* * *
Chân
Dung Người Vợ Lính
Việt
Nam Cộng Hòa
Phạm Bá Hoa
Trong cuộc sống, sự
thành công hay thất bại nào cũng có cái giá của nó. Trong
chiến tranh cũng vậy, cái giá của những chiến tích lừng
danh mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) phải trả, là
những đồng đội đã hy sinh, những đồng đội khác đã
để lại một phần thân thể trên khắp miền đất nước,
và hệ lụy dài lâu là những đứa trẻ vĩnh viễn xa cha,
những người vợ vĩnh viễn xa chồng! Người quân nhân hy
sinh vì tổ quốc, là sự hy sinh cao cả mà tổ quốc mãi mãi
ghi công. Nhưng, hình ảnh người quả phụ, với một nửa
tâm hồn, một nửa con tim, một nửa phần hơi thở, theo chồng
lên đài tổ quốc ghi công, và những nửa còn lại có trách
nhiệm trang bị cho các con một hành trang vào đời, phải được
thừa nhận là sự hy sinh không kém phần cao cả như người
chồng dũng cảm nơi chiến trường, rất xứng đáng được
kính trọng.
Cũng trong chiến tranh,
chồng ở chiến trường, vợ ở nhà quán xuyến công việc
gia đình mà công việc gia đình nhiều đến nỗi có những
việc chưa kịp đặt tên, nhưng tất cả đều là việc. Chăm
sóc các con, chăm sóc tình thân gia đình quyến thuộc, chăm
sóc tình bạn bè bằng hữu. Để rồi, những giờ phút yên
tỉnh về đêm khi các con chìm trong giấc ngủ, mơ màng nghĩ
đến chồng nơi chốn xa xôi, hay đang trong chiến trường khốc
liệt, với bao khắc khoải lo âu, sầu muộn!
Rồi chiến tranh chấm
dứt trong nỗi nghẹn ngào uất hận, bởi đây là cuộc
chiến mà cuối cùng “bị chấm dứt để thua trận”! Sau
lời tuyên bố của vị Tổng Thống cuối cùng, hàng trăm ngàn
đồng bào, quân nhân, viên chức, cán bộ, bỏ của chạy lấy
người, tị nạn trên đất Mỹ. Với những thành phần tương
tự như vậy gồm 222.809 người, lũ lượt bị lừa vào 200
trại tù trên khắp miền đất nước. Người 5 năm, 10 năm,
15 năm, thậm chí 17 năm ròng rã, do lòng thù hận tột cùng
của nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Hằng trăm ngàn gia
đình di tản ra ngoại quốc, cũng như hằng chục triệu gia
đình còn lại trên quê hương, tất cả đều hụt hẫng. Hụt
hẫng vì cuộc sống trên đất người với biết bao xa lạ
trong một xã hội kỹ nghệ mà bước đầu chưa thể hội
nhập. Hụt hẫng vì phút chốc, từ chế độ tự do bị đẩy
vào chế độ độc tài trên toàn cõi nước Việt Nam!
Cảnh đời thứ nhất.
Trong cuộc đời tị nạn, vợ chồng con cháu có cơ hội bên
nhau, cùng chia xẻ khổ đau, cùng gánh vác nhọc nhằn, cùng
nhận chung nỗi nhục! Nỗi nhục phải rời khỏi quê hương
trong thân phận lưu vong! Với những bà vợ chúng ta, vốn sinh
ra và trưởng thành trong xã hội nông nghiệp, nay phải cùng
chồng từng bước hội nhập vào xã hội kỹ nghệ nơi định
cư, đã phải đêm đêm đếm bước từ bến xe công cộng
về nhà trong màn tuyết lạnh sau những giờ nhọc nhằn nơi
hãng xưởng. Lạnh đến nỗi không biết giọt nước lăn trên
má là nước mắt, hay mảnh tuyết vừa tan!
Cảnh đời thứ hai.
Trong xã hội mà kẻ thắng trận đầy lòng thù hận, thì gia
đình ly tán, sự sống bị bóp nghẹt đến tận cùng
của khổđau, của nước mắt bởi chính sách bịt mắt bịt
tai bịt miệng! Cái chế độ mà những người lãnh đạo luôn
miệng huênh hoang là "dân chủ gấp trăm lần dân chủ tư bản",
lại bắt mọi người phải sống trong nỗi sợ hãi triền
miên với những đôi mắt rình rập quanh năm suốt tháng!
Cảnh đời thứ ba.
Riêng với những bà vợ ở lại mà chồng đã vào tù, còn
tệ hơn nhiều so với hai cảnh đời nói trên. Hằng ngày phải
đối phó với bọn cầm quyền địa phương, cái bọn mà đầu
óc toàn đất sét và rác rưởi, chỉ biết đàn áp để cướp
đoạt. Đồng thời phải chăm lo cuộc sống các con từng ngày,
lo nuôi chồng từng tháng!
Và những bà vợ chúng
ta, hải ngoại hay trong nước, thật sự là Những Người Đàn
Bà Việt Nam rất can đảm khi phải chịu đựng và vượt qua
nỗi đau nỗi nhục đó! Đau đến nỗi không còn nước mắt
để khóc, nhục đến nỗi chẳng còn lời để than! Nếu đem
so sánh giữa hai cảnh đời trong nước với ngoài nước, thử
hỏi: "Ai đau hơn ai và ai nhục hơn ai?" Với tôi, không ai đau
hơn ai, cũng không ai nhục hơn ai! Vì nỗi đau nào cũng có
cái đau riêng của nó, nỗi nhục nào cũng có cái nhục riêng
của nó! Xin những ông chồng diểm phúc, hãy nhìn lại đôi
nét về hình ảnh Những Bà Vợ Chúng Ta trong cuộc sống khổ
đau thầm lặng đó, mà người viết được những bà vợ
trong cuộc kể lại:
Một cảnh đau thương.
Một bà vợ cùng con cầm giấy phép “gánh gạo” nuôi chồng
trên đất Bắc. Ba ngày đi, ba ngày về, 2 tiếng đồng hồ
gặp gỡ! Khi trở về cư xá Bắc Hải, nhà bị niêm phong với
dòng chữ "nhà vắng chủ". Đau đớn biết bao! Xót xa biết
dường nào! Bỗng dưng nhà bị mất! Bà gục đầu vào cửa!
Bà cùng gia đình định cư tại Houston, Texas từ tháng 4 năm
1991.
Một cảnh đau thương
khác. Một bà vợ đã bao nhiêu lần bị công an Phường
ra lệnh đi khu kinh tế mới, nhưng bà vẫn không đi. Chúng
hành hạ bằng cách gọi bà đến văn phòng, bảo ngồi đó
từ đầu giờ đến cuối giờ, ngày nào cũng vậy, và ròng
rã 6 tháng nhưvậy. Một hôm, chúng bảo đưa giấy tờ nhà
để giải quyết. Khi chụp được hồ sơ, lập tức tên công
an ra lệnh trong vòng 24 tiếng đồng hồ bà phải ra khỏi nhà.
"Ôi! Còn nỗi đau nào cao hơn nỗi đau này trong cảnh đời
thua trận!" Bà xiêu vẹo trên đường về nhà cách đó mấy
dãy nhà liên kế cũng trong cư xá Bắc Hải, và gục ngã ngay
trước nhà! Bà cùng gia đình định cư vùng bắc California
từ năm 1993, nhưng chồng đã qua đời vào năm 2003.
Một cảnh đau
thương khác nữa. Một bà vợ có chồng bị giam trên đất
Bắc hằng chục năm trời, bỗng dưng mất liên lạc. Bà lặn
lội khắp các cơ quan tại Sài Gòn, Hà Nội, tốn kém, mệt
nhọc, nhưng hoàn toàn bặt tin. Nỗi buồn đến với bà quá
sức chịu đựng của người phụ nữ tuổi 50, mà có lúc
bà cảm thấy như mình đang bên bờ vực thẳm, rồi ngã dần
xuống...... Bà bị tai biến mạch máu não, nằm bất động
một chỗ.
Nhiều tháng sau đó,
bất ngờ, người nhà của bà nhận được giấy cho phép
bà thăm chồng. Trại tù chỉ cách nhà vỏn vẹn 1 cây số(khám
Chí Hòa). Bạn bè khiêng bà đến nhà tù. Cả hai “chồng
đứng đó vợ liệt toàn thân”, chỉ biết nhìn nhau, òa khóc...!
Khóc cho mình! Khóc cho cuộc đời! Phải chăng, mọi khổ đau
trên cõi đời này đang bao quanh hai con người đau khổ đó?
Không. Không chỉcó vậy. Mà là tất cả những bà vợ có
chồng bị cộng sản giam giữ trong tù, tiêu biểu qua 3 cảnh
đời trên đây trong hàng vạn cảnh đời trên đất nước
Việt Nam, đều trong nỗi khổ tột cùng đó! Tình trạng bại
liệt đó theo Bà cùng chồng định cư tại Houston, nhưng rồi
Bà đã từ trần năm 2004!
Sài Gòn-Hà Nội
1.736 cây số, xe lửa tốc hành chạy 72 tiếng đồng hồ, tức
3 ngày 3 đêm. Mỗi người chỉ được mang theo 20 kí lô lên
xe lửa, mang nhiều hơn số đó phải hối lộ cho một loạt
nhân viên từ cổng vào cho đến nhân viên trên xe lửa. Hành
lý ngổn ngang cảtrên lối đi giữa toa xe. Ban ngày cũng phải
lách từng bước chân vào chỗ trống. Còn ban đêm, thật khó
mà tưởng tượng! Hai băng ngồi đối diện, một băng 3 người.
Hai băng phía bên kia lối đi, mỗi băng 2 người ngồi. Hai
đầu trên của hai băng 6 người, máng được 3 cái võng cho
3 người, 1 người nằm co quắp trên sàn xe đen đúa nhầy
nhụa giữa 2 băng đối diện, và 2 người còn lại cũng nằm
co quắp trên 2 băng ngồi. Nếu nhìn toàn cảnh của toa xe sẽ
thấy, băng ngồi đầy người nằm, những chiếc võng bé xíu
che kín trên đầu băng, cả lối đi vốn dĩ đã nhỏ hẹp
cũng đầy người nằm chen lẫn trong đống hành lý thật hỗn
độn. Những bà vợ thăm chồng, mang theo hằng trăm kí lô,
biết bao là nhọc nhằn gian khổ! Giả thử, nếu những ông
chồng chứng kiến những hành khách nằm cong queo trong cái
gọi là chiếc võng kia, hay co quắp giữa những gói quà đầy
ấp tình thương trên sàn xe nhớp nhúa đó, là những bà vợ
của mình, liệu có cầm được nước mắt không? Nghe nói
lại, nghe thuật lại, ông chồng nào cũng đớn đau thương
cảm cho tình cảnh những bà vợ quanh năm gánh gạo nuôi chồng!
Nhưng không có đớn đau thương cảm nào có thể đem cân bằng
nỗi đớn đau thương cảm của những bà vợ trọn tình vẹn
nghĩa như vậy được cả!
Tôi hình dung những bà
vợ chúng ta qua hình ảnh trên đây mà chính tôi trông thấy
khi tôi ra trại tập trung cùng với 90 “bạn đồng tù”,
từ Nam Định về Sài Gòn bằng xe lửa đúng 72 tiếng đồng
hồ hồi tháng 9 năm 1987.
Trên đây là một
cố gắng dựng lại hình ảnh "Những Bà Vợ Chúng Ta",
nếu không hoàn chỉnh thì ít ra cũng là những nét chính của
hình ảnh ấy, qua sự kết nối bốn hợp phần sau đây:
Hai hợp phần trong
chiến tranh, là những bà vợ mà chồng đã hy sinh, và những
bà vợ mà chồng đang chiến đấu.
Hai hợp phần sau chiến
tranh, là những bà vợ cùng chồng con di tản ngoại quốc,
và những bà vợ ở lại Việt Nam, vừa nuôi con trong một
xã hội đầy hận thù và kỳ thị, vừa nuôi chồng trong những
trại tập trung nghiệt ngã!
Những cảnh đời bi
thương, những khổ đau sầu muộn, những nước mắt, mồ
hôi, được khơi lên từ những góc cạnh li ti trong hằng vạn
hằng vạn cảnh đời như vậy, mà Những Bà Vợ Chúng Ta đã
chịu đựng trong những năm dài thật dài!
Quyển “Chân Trời
Dâu Bể” của Giao Chỉ, kể chuyện trên đất Mỹ, và quyển
“Giữa Dòng Nghịch Lũ” của Duy Năng, kể chuyện trên quê
hương Việt Nam. Hai tác phẩm này trong một mức độ nào đó,
có thể xem là tiêu biểu cho rất nhiều tác phẩm dưới dạng
chuyện kể thật bình thường, nhưng ôm ấp biết bao xót xa
thương cảm cho thân phận người phụ nữ Việt Nam sau ngày
thua trận, dù sống trong hai xã hội cách nhau nửa vòng trái
đất. Với tác phẩm của Duy Năng, người kể chuyện là bà
Hàng Phụng Hà. Bà là một trong số hằng trăm ngàn bà vợ
thăm nuôi chồng trong tù. Ở phần kết, bà nói:
"... Các anh trong tù,
khổ về vật chất và đau về tinh thần đến vạn lần, điều
đó chúng tôi biết. Nhưng, chúng tôi -những bà vợ của các
anh- đau khổ gấp ngàn cái vạn lần của các anh nữa, các
anh có biết không? Tôi không đề cao một bà vợ nào, mà tôi
đề cao tất cảnhững bà vợ thăm nuôi chồng trong các trại
tù cải tạo. Bởi vì: Họ, đã đứng vững trong phẩm giá
Người Vợ Miền Nam. Họ, rất xứng đáng được các anh kính
trọng. Và Họ, chính là Vợ của các Anh".
Vì vậy mà một số
bạn đồng tù chúng tôi trong trại tập trung, đã không quá
lời khi nói với nhau rằng: "Ra tù, chúng ta phải cõng vợchúng
ta đi vòng quanh trái đất, để đền bù đôi chút về sức
chịu đựng biết bao nhọc nhằn gian khổ đã nuôi các con
và nuôi chúng mình”.
Bây giờ nhìn lại, trong
một ý nghĩa nào đó, những cựu tù nhân chính trị chúng
ta, đã cõng vợ đi được nửa vòng trái đất rồi. Đến
ngày Việt Nam thật sự tự do dân chủ, chúng ta sẽ cõng vợ
trở về quê hương là trọn vòng trái đất như đã tự hứa,
phải không quí vị?
Với nét chân dung đó,
tôi quả quyết rằng, Những Bà Vợ Chúng Ta rất xứng đáng
được vinh danh. Và nếu quí đồng đội và quí vị đồng
hương đồng ý với tôi, chúng ta cùng nói to lên rằng:
“Chúng ta cùng
vinh danh Những Bà Vợ Chúng Ta là những người đàn bà cao
cả, rất xứng đáng được kính trọng. Bởi, trong hoàn cảnh
nghiệt ngã của chế độ độc tài cộng sản, nhưng đã đứng
vững trong phẩm giá Người Vợ Miền Nam, cùng lúc, chu toàn
thiên chức làm Mẹ, và tròn bổn phận làm Con”.
Vinh danh bằng những
tiếng nói ân tình bên tai vợ, trao tặng vợ một bông hồng
thật đẹp, hôn vợ những nụ hôn thật dài. Điều đó luôn
nhắc nhở người chồng trong cuộc sống thường ngày, phải
thể hiện lòng hiểu biết vợ mình nhiều hơn, cảm thông
vợ mình nhiều hơn, rồi quàng tay vào lưng vợ mình chặt
hơn, để cùng nhau đi suốt chiều dài còn lại trong cuộc
sống lứa đôi thật mặn nồng, như chưa bao giờ mặn nồng
đến như vậy. Trường hợp vì lý do gì đó mà bạn đang
sống một mình, xin bạn hãy gắn bông hồng màu đỏ lên nơi
nào mà khi nằm nghỉ bạn đều trông thấy, để trao tặng
vợ khi đoàn tụ bên nhau. Hoặc sự trông thấy đó, sẽ giúp
bạn có được những giây phút sống lại những năm tháng
mặn nồng trong tình yêu vợ chồng thuở chung chăn chung gối,
thuở mà hai người dùng chung một tên.
Houston, mùa Quốc Hận
thứ 36!
Phạm Bá Hoa |