Không biết tự lúc
nào sau ngày 30 tháng tư năm 1975, mỗi năm vào dịp nầy lòng
tôi dường như chùng xuống. Mặc dù công việc hàng ngày vẫn
chu toàn 8 giờ để trả nợ áo cơm, một vài giờ cho cái
business consultant của tôi, và thì giơ cho các buổi phỏng vấn
hay ngồi suy tư và viết bài hay đi đó đi đây
tôi vẫn cảm
nhận được một nỗi niềm u uẩn nào đó trong tôi.
Bỏ qua những ngày tháng
nghiệt ngã còn lại ở Việt Nam trước khi vượt biên, phải
thành thật mà nói lúc đó tôi không có thì giờ để buồn
như hôm nay, vì miếng cơm manh áo và mãi lo tìm đường ra
đi (cứu nước?) cho một gánh nặng với 4 đứa con dại
Bỏ qua những năm đầu tiên
sống đời tị nạn, tôi cũng chưa thực sự quan tâm gì mấy
cũng như không co thì giờ để buồn
như tôi buồn hôm nay
vì cuộc 'vật lộn với cuộc sống mới.
Chỉ trong vòng 20 năm trở lại
đây, khi gia đình tương đối ổn định và sau khi bắt đầu
bước vào con đường tranh đấu cho Việt Nam qua ngã môi trường,
tôi mới thực sự cảm thấy buồn. Và mỗi năm nỗi buồn
đo càng se sắc hơn, ngậm ngùi hơn.
Buồn để mà buồn một mình!
Không thể nào nói tôi buồn
không hiểu vì sao tôi buồn được. Mà tôi hiểu và hiểu
rất rõ nỗi buồn thực sự của tôi vì hai lý do: - Đất
Nước còn điêu linh, - và Bà con mình vẫn còn chìm đắm
trong nỗi nhục nhằn làm công dân hạng hai cho một chế độ
phản dân tộc chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam.
Nhìn lại những ngày bắt đầu
từ giữa tháng tư năm 75, có thể nói cả thành phố Sài Gòn
đang lên cơn sốt. Nào là chạy đôn chạy đáo thăm dò tình
hình
mặc dù biết rằng miền Nam đang trong cơn hấp hối,
nhưng cũng mong tìm và hy vọng một phép lạ. Nào là, đối
với những người có chút tiền, lo chạy đi đổi tiền, làm
áp
phe, hay do là tin tức tìm đươờng ra đi.
Tin tức đồn đãi nhiều khi
trái ngược nhau, tin vui lẫn với tin buồn.
Nhưng nỗi buồn của tôi thực
sự buồn khi rời trụ sở USAID ở đường Lê Văn Duyệt sau
khi làm thủ tục
ra đi. Cầm tấm thẻ vô tri có hình của
một ông giáo trẻ đầy nhiệt huyết, mà khi về lại Việt
Nam năm 1973, nguyện sẽ làm một cái gì cho thanh niên Việt
Nam. Tôi không thiết ăn cơm chiều hôm đó. Nếu tôi nhớ không
lầm, đó là ngày thứ tư 09/4/1975.
Tới thứ hai tuần sau đó,
lên Đại học Cao Đài Tây Ninh, tôi lại được mấy anh chàng
CIA trẻ đóng trên đài phát tuyến ở đỉnh Núi Bà cho tôi
biết rằng ngày mai, họ sẽ rút về Mỹ và khuyên tôi nên
rời bỏ quê hương qua một giọng Bắc rất rành rọt. Suốt
các buổi lên lớp sau đó, tôi nói như người mất hồn, một
tâm trạng mà chính giờ phút viết lên dòng chữ nầy, tôi
lại thêm một lần phiêu diêu nữa.
Đi? Ở? Hai chữ nầy ám
ảnh mãi nơi tôi trong suốt thời gian còn lại cho đến ngày
30/4 năm đó.
Hình ảnh Ba tôi lẩn quẩn
trong đầu. Hình ảnh một ông giáo già đã về hưu từ lâu,
căm cuội viết thư cho con mình đi du học mỗi buổi sáng thứ
năm trong tuần, để rồi, sang sáng thứ bảy đem thư ra Bưu
điện gửi đi cho kịp chuyến máy bay Air France bay về Pháp,
để cho con mình nhận được thư đúng ngày thứ hai. Việc
nầy xảy ra đúng như in, không hề sai sót suốt hơn hai năm
trời cho đến khi Ba tôi mất. Ba tôi mất ngày chủ nhựt và
thứ hai sau đó tôi vẫn nhận được thư ba tôi viết trước
khi nhận được điện tín của anh tôi.
Còn Má tôi. Một người mẹ
già gặp lại và sống với con chưa đầy hai năm
Mà cũng
chính trong thời gian nầy, tôi luôn bận bịu với những đam
mê cho cuộc sống, chuẩn bị cho con đường công danh của
mình
thì làm sao tôi có thì giờ chăm sóc hay hỏi han đến
mẹ già. Và mỗi khi nhìn lại mình, chính tôi cũng phải tự
thú rằng mình cũng không có thì giờ để nghĩ đến mẹ mình
nữa trong thời gian nầy. Tôi thật có tội với má tôi.
Trở lại thời gian giữa tháng
4 năm xưa. Tâm trí tôi luôn bị ray rứt với tâm trang nửa
Ở nửa Đi.
Đi không đành cũng vì mẹ
già đơn côi.
Đi không đành cũng vì bầu
nhiệt huyết của tuổi trẻ kíu kéo lại để làm một cái
gì cho quê hương.
Và đi cũng không đành vì một
suy nghĩ non dại (mà chắc cũng có nhiểu người suy nghĩ như
tôi), đó là Mình có thể đối thoại với người cộng sản,
vì trước khi họ là cộng sản, họ là người Việt Nam với
đầy đủ dân tộc tính; vì vậy mình có thể hợp tác được.
Khi đã biết sai lầm thì đã
muộn, tôi phải trả cái giá gần 8 năm trong nhà tù lớn Việt
Nam dưới chế độ nầy.
Chiều thứ hai 28/4, khi một
tên phi công (tôi không muốn nhắc tới tên nầy lên đây,
vì làm sao tôi quên được tên những kẻ phản bội quê hương)
dội bom dinh Độc Lập, và từ đó lịnh giới nghiêm
24/24 được ban hành. Tôi liền chạy lên nhà một người bạn
vong niên trên cư xá giáo chức ở đường Tự Đức.
Tôi đã chứng kiến được
gì và đã học được gì?
Xin ghi lại vài dòng để chiêm
nghiệm nỗi đau thương, nhục nhằn của những đứa con Việt
trước cảnh quốc phá gia vong. Đó là:
Hình ảnh một Trung tá TQLC
chạy từ Đà Nẵng về nhà người anh cũng ở cùng cư xá,
hình ảnh giọt nước mắt lưng tròng khi anh cổi chiếc áo
trận và cắt từng nút áo cũng như hai bông mai bạc trên cầu
vai. Anh nói với người anh qua giọt nước mắt và trong từng
tiếng nấc Anh xem như em đã chết rồi ngày hôm nay.
Hình ảnh từng đoàn trực
thăng Mỹ chiếu đèn sáng rọi vào mặt chúng tôi trên sân
thượng của cư xá trong lúc tháo chạy và chở người đi
ra hạm đội.
Hình ảnh những người lính
tôi không còn nhớ Dù hay Thủy Quân Lục Chiến tiếp tục
chiến đấu ở cầu Phan Thanh Giản trên con đường đi ra Ngã
tư Hàng Sanh. Tiếng súng bắt đầu ngay sau khi tướng Minh tuyên
bố đầu hàng lúc 10 giờ 37 phút sáng 30/4. Tiếng súng chỉ
im lặng lúc xế trưa, có nghĩa là tất cả anh em binh sĩ đã
chiến đấu cho đến quả lựu đạn cuối cùng.
Chuyện ĐI và Ở đã được
tôi quyết định ở khúc quành định mệnh nầy.
Qua ngày thứ năm 1/5, lệnh
trên radio yêu cầu (bắt thì đúng hơn) mọi công chức phải
đến trình diện tại trụ sở làm việc của mình. Sáng đó,
tại cư xá có mặt Ông Khoa trưởng, Ông Phó Khoa trưởng và
một số giáo sư, tôi và một giảng nghiệm viên tình nguyện
vào Trường Sư phạm xem tình hình.
Mọi sự có vẻ êm xuôi vì
họ chưa có người vào tiếp quản, ngoài một số cơ sở
địa phương thôi. Nhưng một hình ảnh khác làm bẽ bàng và
làm đảo lộn những suy nghĩ tốt đẹp trong tôi khi nhìn thấy
một số đồng nghiệp của mình mới chỉ vừa cách đây một
ngày, nay đã mang băng đỏ cách mạng từ cung cách hướng
dẫn chỗ để xe, cho tới thái độ trong lúc nói chuyện. Đáng
phỉ nhổ nhựt là những người ngày nào thưa anh, xưng em
với tôi, mà nay trở mặt dương dương tự đắc tự xưng
tôi, tôi, anh, anh một cách trơ trẻn.
Có những chị giáo sư thước
tha, dịu hiền trong khi lên lớp mà nay ngoài băng đỏ, thậm
chí còn để lá cờ vàng ba sọc đỏ dưới chỗ chân bàn
đạp xe hơi nữa. Và hơn nữa, có giáo sư trong suốt thời
gian chưa đầy hai năm ngắn ngũi của tôi, đã xem tôi như
thần tượng mặc dù biết tôi đã lập gia đình rồi, thường
xuyên đi ăn uống chung; thậm chí đã dám cùng tôi nhậu thịt
chó nữa
Người đó bây giờ là một công thần của chế
độ.
Trên đây, tôi xin diễn lại
bức tranh vân cẩu chập chùng những ý nghĩ lộn xộn trong
những ngày quốc phá gia vong. Xin chia xẻ cùng bà con. Đây
không phải là lời tự thú hay than thở, hay nói về mình.
Nơi đây tôi chỉ muốn nói
lên vài điều suy nghĩ chủ quan. Đó là:
Truyết, mầy đừng bao giờ
mơ tưởng người Việt cộng sản là người Việt Nam.
Tình đời như chiếc lá, đổi
trắng thay đen và lòng người thật khó lường (hơi cải lương
một chút).
Và để thoát khỏi ý nghĩ
tiêu cực trong những ngày đau thương của Đất và Nước,
tôi tự điều hướng cho chính mình cần phải hành xử trong
tương lai như:
Đứng trước quá khứ, hãy
ngả mũ. Đứng trước tương lai, hãy XẮN TAY ÁO (H.L.Mencken).
Người khôn ngoan đi tìm nguyên
do lỗi lầm ở bản thân. Kẻ khờ dại đi tìm nguyên do ở
người khác. (Câu nói của Khổng Tử giản dị như vậy mà
còn có kẻ không học được!).
Xin góp phần vào những Ngày
Buồn Tháng Tư .
Mai Thanh Truyết
West Covina 15/4/2011