Đỗ Thông Minh, 12/3/2011
tại đại học Keio, Tokyo
Do tổ chức Đa Ngôn Ngữ
Xã Hội Nhật Bản mời
_ _ _
Chiếu hay vẽ hình Cây Văn
Tự bằng tiếng Nhật…
Đại
học Keio Gijuku (Khánh Ứng Nghĩa Thục) là đại học tư đầu
tiên do ông Yukìchi Fukuzawa (Phúc Trạch Dụ Cát) thành lập
từ năm 1858. Là 1 trong 2 đại học tư hàng đầu của Nhật
Bản, đại học kia là Waseda. Ông Fukuzawa được coi là nhà
tư tưởng Duy Tân, có ảnh hưởng rất lớn đối với công
cuộc “Minh Trị Duy Tân”, nên tiền giấy mệnh giá 10.000
Yen đã in hình ông. Cuốn “Phúc Ông Tự Truyện” và “Khuyến
Học” là 2 tác phẩm của ông đã được dịch ra tiếng Việt.
Năm 1906, cụ Cường Để sau
khi bỏ học quân sự đã vào học ở đây. Năm 1906, khi cụ
Phan Chu Trinh qua Nhật 2 tháng, thời gian này, cụ Phan Bội Châu
đã hướng dẫn cụ đi thăm đại học học này. Khi về nước,
cụ Phan Chu Trinh cùng cụ Nguyễn Quyền và các nhá cách mạng
Việt Nam đẩy mạnh việc thành lập “Đông Kinh Nghĩa Thục”
tại Hà Nội năm 1907. Trường đang hoạt động thì vì vụ
Trung Kỳ Dân Biến năm 1908 với hàng trăm ngàn người biểu
tình khắp miền Trung, lan ra cả miền Bắc, nhà cần quyền
Pháp lo ngại các cụ kêu gọi dân chúng nổi dậy nên ra lệnh
đóng cửa.
Từ “Nghĩa Thục” có từ
đó, nhưng “Đông Kinh” là tên thủ đô Hà Nội thời nhà
Lê khoảng thế kỷ 15, nên vịnh Bắc Bộ còn gọi là “vịnh
Đông Kinh”, người Pháp gọi là “Tonkin”. Còn “Đông Kinh”
thuộc trung tâm Quan Đông của Nhật Bản là tên mới của
“Giang Hộ” (Edo) có từ năm 1869, khi Minh Trị Thiên Hoàng
dời đô từ Kyoto lên.
Buổi nói chuyện gồm
phần trình bày theo đề tài của 3 diễn giả Trung Quốc, Việt
Nam và Hàn Quốc, sau đó là phần đặt câu hỏi của thính
giả kéo dài từ 1 đến 5 giờ chiều.
Sau đây là bài viết liên hệ
của chúng tôi:
TIẾNG NHẬT ĐỐI VỚI NGUỜI
VIỆT
1- Việt Nam là một quốc
gia thuộc văn hóa Hán, liền biên giới với Trung Quốc nên
chữ Hán đã vào Việt Nam từ năm 111 trước Công Nguyên. Chữ
Hán vào Nhật Bản khoảng thế kỷ thứ 5, 6 sau Công Nguyên.
Người Việt chính thức dùng
chữ Hán cho đến đầu thế kỷ 20, nay là quốc gia duy nhất
thuộc văn hóa Hán nhưng đã đổi ra dùng chữ Quốc Ngữ La
Tinh.
2- Tiếng Việt cũng có
âm Hán-Việt tức “On-yomi’ trong tiếng Nhật, là loại đơn
âm tiết phát âm gần giống nhau như “trà, ái, quốc…”
và âm Nôm là loại đơn âm tiết như “tôi, anh, chào …”,
tức “Kun-yomi” trong tiếng Nhật là loại đa âm tiết như
“watakushi, anata, sayonara…”.
3- Tiếng Nhật chỉ có
5 mẫu âm, và một số phụ âm, phát sinh 120 âm, Tiếng Việt
có 12 mẫu âm, lại có âm đôi, âm ba, nhiều phụ âm dầu
và cuối, đặc biệt có 6 dấu giọng, làm phát sinh khoảng
15.000 âm. Nên khi học phát âm tiếng Nhật không khó mấy.
4- Chính vì quá nhiêu
âm nên việc ký âm bằng La Tinh gặp nhiều khó khăn, trải
qua 2-3 thế kỷ mới tạm ổn. Nhưng khi đã ký âm được thì
dùng được, không sợ quá nhiều đồng âm dị nghĩa như tiếng
Nhật hay phải ký âm La Tinh tiếng vùng nào, Bắc Kinh, Quảng
Đông hay Phúc Kiến… như bên Trung Quốc. Đó là lý do tại
sao tiếng Việt là ngôn ngữ duy nhất mà văn tự thuộc hệ
chữ Hán lại có thể đổi sang dùng La Tinh.
5- Ngày nay, chính thức
người Việt không dùng chữ Hán, nhưng trong tài liệu đó
đây vẫn còn và vẫn dùng âm Hán-Việt, nêu dù sao, người
Việt cũng học tiếng Nhật dễ hơn người dùng ngôn ngữ
khác hẳn như Âu-Mỹ hay Thái Lan, Phi Luật Tân… Người Việt
học tiếng Nhật là học khoảng 1.000 - 2.000 chữ Hán, các
âm đọc và văn phạm, còn nghĩa chữ Hán thì đã biết khá
nhiều.
- Tiếng Nhật dùng thông dụng
khoảng 2.000 chữ Hán (Trung Quốc dùng 4.000 - 5.000 chữ Hán).
Có thể học nhận mặt 2.000 chữ hán ấy trong 1 - 2 năm, nhưng
học để nhớ âm đọc những chữ này thì cả đời không
xong!
Như:
- Chữ Nhất 一, viết đơn
giản, ai cũng biết, có 4 âm thông dụng (ICHI, ITSU, hito, hitotsu),
nhưng có thêm tới 16 âm cho nhân danh và địa danh, rất phức
tạp.
- Chữ Hạ 下, có tới 12 âm
thông dụng và nhiều nghĩa khác nhau.
- Chữ Minh 明, có tổng cộng
khoảng 25 âm…
- Nhân danh và địa danh là
cả một vấn đề, khi có tới khoảng 200.000 họ và 300.000
tên!
6- Ngày nay có máy điện
toán rất tiện lợi cho việc viết văn bản bằng tiếng Nhật.
Không cần nhớ cách viết chữ Hán từng chi tiết như khi tự
viết, chính vì vậy mà tuy học trung bình khoảng 2.000 chữ
Hán nhưng ngay người Nhật cũng chỉ viết được khoảng 1.000
- 1.500 chữ Hán, dần dần quên những chữ Hán khó hay không
thông dụng.
7- Trong tiếng Nhật còn
có cái khó là chữ Katakana. Chữ Katakana thường để phiên
tiếng ngoại quốc, nhưng cũng hay dùng cho tiếng Nhật thuần
túy như cho tên cơ sở (Fuji, Aizawa) hay khi cần nhấn mạnh
(kiken)… Người ngoại quốc khi thấy chữ “kiken”, tìm tra
không biết ở đâu! Thêm nữa, ngày nay, một số người Nhật
lạm dụng cách viết bằng Katakana mà không đưa ra chữ gốc,
trong khi hầu hết các tự điển Katakana của Nhật là nhỏ
(thướng chỉ khoảng 50.000 từ), nhỏ hơn cả tự điển Katakana
do người Hoa soạn (khoảng 120.000 từ), và thiếu rất nhiếu
từ. Trong khi về học tiếng Nhật thì
8- Năm 2011, số người
Việt tại Nhật ước khoảng 40.000. Trong số đó có khoảng
15.000 định cư (tỵ nan và đoàn tụ), 4.000 du học, 15.000 lao
động…
Chính phủ Nhật giúp người
tỵ nạn định cư học tiếng Nhật trong 4 tháng, nhưng không
giúp bảo tồn tiếng Việt cũng như giúp các sắc dân khác
bảo tồn ngôn ngữ của họ qua việc truyền dạy cho con cháu
như tại Úc, Canada, Anh Quốc…
9- Tôi có dịp dạy tiếng
Việt cho trẻ em Việt là con tôi và con hàng xóm cũng như cho
một số người Nhật, những người lớn tuổi thích tìm hiểu
về Việt Nam. Nhưng tôi chỉ dạy một số em Việt Nam ở bậc
tiểu học, khi chúng lớn lên bậc trung học thì thường bận
rộn việc học ở trường và ham vui bạn bè không học nữa,
và chúng quên dần đi. Cộng đồng người Việt ở Nhật quá
nhỏ, sống rải rác, việc dạy các em tiếng việt lại không
được khuyến khích đầy đủ nên phần lớn các em đó chỉ
có thể nghe và nói ít tiếng Việt, nhưng đọc và nhất là
viết thì kém.
10- 3 đứa con tôi đều
được sinh ra ở Nhật, đi học và lớn lên ở Nhật nên hầu
như không có trở ngại gì về tiếng Nhật. Cái lo nhất là
khó lòng cho chúng nắm vững tiếng Việt, để có thể biết
ít nhiều văn hóa, tập quán Việt Nam, ít nhiều đồng cảm
với thế hệ cha mẹ hay ông bà hơn…
11- Đối với người
lớn, nguyên là du học sinh như tôi 40 năm trước, đã soạn
sách học chữ Hán cho người Việt và người ngoại quốc
nói chung qua tiếng Anh như “Bảng Thường Dụng Hán Tự -
1945 Chữ Hán” (Nay đã công bố bảng mới với 2.136 chữ
Hán, nên chắc tôi phải soạn lại) hay “Siêu Vi Tự Điển”
, mà nay vẫn thấy ít nhiều khó khăn trong việc nghe tiếng
Nhật. Tôi thích theo dõi tin tức trên TV vì thường có tiếng
nói và chú thích những điểm quan trọng. Và tư từ đọc
báo hay sách thì vẫn dể hiểu hơn, không lo nhầm lẫn những
từ đồng âm dị nghĩa. Thường người ngoại quốc nghĩ rằng
chữ Hán khó, nên chỉ học tiếng Nhật qua Romaji, Hiragana,
katakana và một số rất ít Kanji, nhưng thực tế cho thấy
chữ Hán vẫn là cốt lõi của tiếng Nhật. Chính nhờ hiểu
chữ Hán mà có thể hiểu tiếng Nhật tốt hơn.
Thí dụ khi nghe:
- Fuji Fuji.
- Fuji san nìru Fuji san.
- Niwa niwa niwa ga imasu.
- Kisha no kisha wa kisha de kisha.
Nếu không viết bằng chữ
Hán thì không thể phân biệt 2 chữ “Fuji” hay 2 chữ “Fujisan”,
3 chữ “niwa” và 4 chữ “kisha” trên, và tất nhiên không
hiểu gì cả.
12- Vì những lẽ đó,
những người quan tâm đến người ngoại quốc sinh sống ở
Nhật nên tạo nhiều cơ hội để giao lưu, giúp người ngoại
quốc và người Nhật hiểu nhau hơn.
Xin cám ơn quý vị đã lắng
nghe phần trình bày của tôi.
Về bộ sách “Nhật
Bản Dưới Mắt Người Việt”
Bộ sách “Nhật Bản Dưới
Mắt Người Việt” của chúng tôi xuất bản lần đầu năm
2000, gồm 2 cuốn, dày 940 trang.
Nay năm 2010, nhân kỷ niệm
40 năm chúng tôi ở Nhật, chúng tôi đã chuẩn bị ấn bản
2 của bộ sách gồm 4 cuốn, dày 2.000 trang, là bộ sách với
60 chương cùng nhiều phụ lục, được coi là đầy đủ nhất
từ trước đến nay của người Việt, viết dòng dã khoảng
20 năm về Nhật Bản.
Bộ sách khá tốn kém khi đem
in, nên chỉ in giới hạn, vì vậy nếu các thân hữu, độc
giả có lòng muốn ủng hộ xin liên lạc đặt mua trước hoặc
hỗ trợ bằng cách nào đó.