| 1.
Tôi đến Komtum, khi nắng chiều
bắt đầu ửng sắc vàng mài mại, trời mang mang nét buồn.
Cái… “buồn muôn thuở” kiếp làm người, của vùng đất
cao nguyên chưa chịu đi vào dĩ vãng một thời xót xa đã qua;
và vẫn tồn tại trong lòng người ở nơi vùng cao địa đầu
đất nước.
Thác vẫn đỗ và con sông vẫn
chảy ngược như bao đời.
Komtum với tôi là tuổi thơ
mộng mị, với những đàn voi, với những “thằng Nài”
ngất ngưỡng trên những thớt voi, những hàng cây cao su thẳng
tắp, đồng đều; những cây càfê ra hoa trắng nỏn mượt
mà cuối năm, những cọc tiêu nằm sát những cây cao su cao
ngất, với đất đỏ dính đặt kẹo dưới đế dép, một
thời…
Ôi Komtum, Buôn Mê! Địa đầu
chiến tuyến miền cao?
Các sử gia ghi chép: Mậu Thân-
Huế chết sáu ngàn người! Buôn Mê, 1975 chết bao nhiêu người?
Điều này chưa lý giải, vì đó là kết cục của chiến tranh
ly tán chưa được xác nhận! Có lẽ nhiều hơn gấp nhiều
lần??? Hay ít hơn?
Nhã Ca viết: “Giải khăn sô
cho Huế”, nhưng chưa ai viết… Giải khăn sô cho Buôn Mê!
Một điều đáng buồn!
Chuyến bay từ California, rồi
đến Sài Gòn, sau đó tôi bao nguyên xe đi Pleiku, thăm lại
quê cũ, đã ngốn biết bao thời gian.
Vừa về đến nhà, tôi bảo
thằng cháu:
“Chở Bác đến Tân Cảnh”.
“Ơ kìa! Bác nghỉ ngơi chứ,
mai hẳn đi”.
“Cứ chở Bác đến đấy,
rồi về. Mặc Bác!”
Mấy đứa em tôi khuyên, vì
nơi vùng địa đầu cao nguyên này trời nhanh bủa chụp bóng
tối, hẳn mai hãy đi. Tôi quơ tay bảo thằng cháu, chở tôi
đi. Cả nhà buồn, nhưng cũng đồng ý, vì họ biết tôi muốn
gì sau ba mươi lăm năm, ngày này -ngày buồn nhất trong đời
của tôi- để trở lại quê hương.
Thằng cháu chở đi, bỏ tôi
dưới đường, trước chân đỉnh núi 960, bịn rịn chia tay,
hẹn ngày mai trở lại.
Tôi đeo ba-lô, trở lại con
đường cũ quen thuộc, với cái vai còm cỏi trên sáu mươi
năm cuộc đời. Cuộc đời là đây! Cuộc đời của một
thời tuổi trẻ chinh chiến. Sống cho quê hương, chết cho
quê hương! Dường như, quá khứ không bao giờ tha thứ, cho
những con người sống vì một lý tưởng. Dù rằng lý tưởng
ấy đúng hay sai trong cái nhìn khía cạnh cuộc đời, mà họ
phải sống và được sinh ra nơi ấy. Ông Thiên chỉ là bịa
đặt, để con người sống tử tế hơn, không chém giết nhau,
hảm hại nhau, trong muôn trùng vây hảm ý nghĩa kiếp làm người:
Tôi muốn sống!
Vậy sao trong khía cạnh nhìn
cuộc sống về phía trước, sự hoài bão thành người hoàn
thiện, tôi chỉ nhìn về quá khứ?
Quá khứ làm đau dứt tâm can!
Quá khứ ngàn năm Bắc thuộc, quá khứ trăm năm bị đô hộ
bởi phương Tây, và quá khứ người đồng chủng giết nhau
bằng súng đạn phương Tây!
Tôi đi đến chân núi 960, nhìn
quanh quẩn, thấy dưới chân mình là tấm ảnh của Anh, được
lát kỹ trên một lớp gương trắng sáng, cùng những thức
ăn, hoa quả do ai đó cúng kiến hóa vàng, với bó nhang to và
những chân nhang cắm đầy rẫy xung quanh, đã cháy hết từ
lâu nhưng mùi hương vẫn còn đọng trong không gian tê tái.
Lâu lắm rồi! Từ ba mươi
tám năm về trước.
“Anh Năm!”
Tôi quỳ xuống, run tay sờ
bức ảnh Anh, lấy tay áo miết trên mặt gương vốn đã sạch
bóng. Vài cánh bướm bay chập chờn, tôi xua tay đuổi. Ở
tuổi trên sáu mươi, nước mắt còn nhỏ lệ cũng làm tôi
ngạc nhiên. Tôi đã khóc ba mươi lăm năm. Đã cạn lệ và
lòng. Tù tội, tha hương, gia đình tan nát… còn gì đau khổ
hơn?
Đỉnh núi cao không quá ngàn
thước, buông xuống thung lũng, với dòng chảy cuồn cuộn
sông Pôkơ và đường 14, chính là bải đáp của cứ điểm
Charlie của tiểu đoàn 11 Nhẩy Dù.
Trên, mây trôi là là, ẩm thấp
sương mù mỗi khi chiều xuống âm u đất trời, đó là cao
độ 1500 thước của hai đỉnh núi Kngok Toim, Kngok Im Derong
của vùng Tây nguyên trung phần.
…
Anh Năm ra lệnh tôi trong máy:
“Đại úy cho mấy đứa con
cắt lẽ ra, chia từng nhóm mà đánh chúng nó.
“Em cắt rồi Anh Năm”.
“Cắt rồi mà sao chúng nó
cứ pháo hoài?”
“Bộ Tư lệnh tiền phương,
không tin chúng nó có pháo tối tân như vậy!”
Anh Năm vô Bunker một lát, thò
đầu ra:
“Đù mẹ! Nó ở trên cao độ
hơn mình nên pháo xuống. Phân tán mỏng ra nhanh! Đại úy là
dân địa phương này, biết tỏ đường đi, nên rẽ đường
mà phục chúng.”
Anh Năm lại thụt vô Bunker.
Tôi thốc lính rãi dài ra, cố thoát hàng loạt đạn pháo rải
xuống như mưa bùn.
Mà thực, bọn chúng được
tiếp vận khí tài càng lúc càng nhiều. Pháo trên cao trút
xuống mãi miết và dưới đỉnh 960, bọn chúng hầm hè bắt
loa hô khẩu hiệu xung phong. Tôi bò, hai cùi chỏ đi như hai
chân, hai chân lại thế đôi tay mà trườn, tay nâng súng ngang
vai, cứ thế tôi bò gần đến Bunker Anh, thì nghe một tiếng
nổ như vỡ tan không khí.
Thiếu úy M. la lên:
“Trời ơi! Anh Năm bị nguyên
trái rồi.”
M. trườn lên, định nhào tới
bunker, tôi kéo M. xuống, nhưng hắn giựt tay tôi ra. Chạy hơn
chục bước, M. bị một loạt đạn cày từ dưới đất lên
tới lưng. Thiếu úy M. ngã xuống, cái nón sắt lăn long lốc
xuống trảng sâu bên dưới.
Thượng sĩ Quí nằm sau tôi
thấy vậy, bật dậy. Tôi nắm tay ông, nói:
“Ông lên không được đâu!”
“Chẳng lẽ mình để Thiếu
úy và anh Năm nằm lại nơi đây?”
Dứt lời ông thượng sỹ nhào
lên. Khi ông vừa tới bên cái xác thiếu úy M., cũng một loạt
đạn cày như vãi trấu trên thân thể ông. Xác ông nằm úp
trên thân thể M.
Đêm lại buông xuống, cho ngày
mai ngầy ngụa những thứ vũ khí giết người! Sự lập lại:
Ngày và Đêm.
Đội kèn “âm binh” ở lưng
chừng lũng thổi lên từng nhịp thôi thúc điên khùng. Những
cái nón cối ló lên vành miệng đỉnh 960, như những hòn đá
tảng, hằng hà, lớp lớp. Một biển người!
Trên cao, hai khu trục cơ ào
xuống, rãi một loạt bom trên đầu những cái nón cối. Tiếng
rên la, kêu thét hãi hùng, lẫn tiếng kèn thôi thúc như ma
mị. Những cái nón cối, bây giờ biết đứng, chạy và la
hét, đồng loạt xông lên.
Chúng tôi vừa ném lựu đạn,
ở tầm gần sát thương nhất, vừa kéo đám lính còn lại
mười mấy mạng, lùi xuống con dốc lài lài, bắt đầu rút
để bảo toàn tính mạng con cái.
“Anh Năm! Em xin lỗi. Không
lấy được xác Anh, suốt cuộc đời này, em …”. Tôi khóc.
2.
Ngày này, tháng này, chiều
nào tôi cũng ra đứng trên mỏm 960 nhìn xuống lũng sâu. Đứng
mà nhìn! Nhìn đứa con gái tôi, cúng vái tôi, rồi ngồi khóc
một mình. Đứa con gái mà tôi yêu thương, khi tôi mất nó
vừa gần bảy tuổi. Tôi cũng nhìn những người lạ hoắt,
đến thắp dưới chân mộ tôi, mà ngạc nhiên rằng: sao họ
lại cúng vái tôi, khi không một thân thích ruột rà?
Tôi biết, con gái tôi yếu
đuối, cũng như những người đến cúng vái tôi, ngại leo
lên một cao độ 960 mét, đỉnh cao của núi. Tôi muốn vươn
tay ôm tất cả, nhưng tôi ngại họ sợ… một Bóng Ma!
Nhưng hôm nay, một linh tính
báo cho tôi biết một điềm lành sẽ đến, sau khi đứa con
gái tôi ra về. Chốc chốc, tôi đi ra đầu mỏm, nhìn xuống
lũng nhiều lần và thấy đứa em thân thiết ngày nào đã
về như mong đợi ba mươi tám năm!
Thằng thư sinh mặt trắng,
đẹp trai nhất tiểu đoàn, khi trình diện tôi là một anh
chàng sĩ quan vừa mới ra trường! Mấy ông sĩ quan cứ nói
thế.
Người thanh tao, trán dựng
đứng, là loại lỳ! Anh theo tôi nhiều năm, và tôi biết khả
năng anh.
Vì thế, tôi không lạ khi anh
trở về nơi chốn tôi nằm lại viên miễn.
Đốt điếu thuốc, tôi trãi
những tấm “boncho” dưới lớp đất đá lạnh lẻo, quơ
mớ củi khô làm mồi cho lửa, ngồi chờ.
Nhìn những tàn lửa vụt bay
trên không gian mù sương đặc quánh như sửa, tôi nhớ đến
Mẹ! Tôi có hai bà Mẹ! Hai bà đều sinh ra tôi dưới bầu
trời khắc nghiệt này! Một Mẹ cho tôi bú mớm bằng những
dòng sửa ngọt ngào hương vị lẫn đớn đau. Một hương
vị để sống, để thành Người hoàn thiện và một hương
vị cũng để sống và tàn hại nhân sinh! Bà mẹ thứ hai to
tát hơn! Bà là gia tộc mẫu hệ nhuần nhuyễn! Tôi gọi bà
nhuần nhuyễn, vì bởi, tôi thấy và biết bọn đàn ông, chỉ
là kẻ thừa hành những dục vọng, ăn xài cho chính mình vì
những thói đời cay nghiệt: chiến tranh, tư tưởng, và nhiều
thứ để họ hưởng lạc an nhàn.
Vừa hút xong mấy điếu thuốc,
tôi thấy An bước lên mép đỉnh 960.
“Anh chờ chú đã lâu!”
An bỏ ba-lô, hai tay nắm vai
tôi:
“Em không ngờ, anh chờ em
lâu đến thế!”
“Người chờ Ma, chứ làm
sao Ma chờ Người!”
“Làm sao em chờ được?”
“Trong mộng mị những giấc
mơ!”
“Cái anh này! Đến đã chết,
mà không thể không đùa được!”
“Gặp tao, mày không sợ à?”
– Tôi thân thiện.
“Sao vậy anh Năm?”
“Tao là Ma!”
“Em cũng là Ma!”
“Nói nghe nghịch nhĩ!”
“Anh Năm cứ tưởng, sống
ở ngoại quốc, ai cũng hài lòng chính bản thân mình à?”
“Thì tao nghe đài báo, tụi
nón cối năm nào, chúng nó bảo: Bọn ăn bơ thừa sửa cặn.
Tao cứ tưởng y chang, vì nằm đây quá lâu!”
“Thằng “mặt trắng” mà
Anh thích thú, đâu đến như vậy, anh Năm!”
“Thôi bỏ qua đi. Nói tao nghe,
hồi tụi mày rút xuống lũng, rồi sao?”
“Băng rừng, lội suối cả
tuần mới thoát vì chúng đeo riết quá, anh Năm!”
Mấy cành củi khô nổ lép
bép, rồi phựt lên như một đóm sáng, hơi sương lóng lánh,
mờ ảo, tạo nên một cầu vòng nhỏ trong đêm.
An lùi lại, phản xạ
tự nhiên, kéo những tấm “boncho” đầy hơi sương, ụp
xuống tàn lửa.
“An ơi! Sao mày làm vậy? Anh
em chúng ta đó!”
“Trời ơi! Em quên ông Thầy.
Cứ thấy lửa là lòng dạ em nó xốn sang. Cả quê hương này
bị vây chụp từ lửa! Lửa từ Quảng Trị, lửa từ Huế,
lửa từ Bình Long, lửa từ An Lộc, lửa từ Khe Sanh, lửa
từ A Lưới, A Sao, lửa từ Komtum, lửa từ Sài Gòn và từ
khắp mọi nơi trên cái đất nước nghiệt ngã thù hận này!”
An ôm mặt khóc như một đứa
trẻ.
“Qua rồi một thời trai trẻ.
Bình tỉnh chú An!”
An rũ rũ mấy tấm “boncho”
trải ngay ngắn, cúi xuống vái ba lậy:
“Anh đáng chết. Mấy em bỏ
quá cho! Anh quên, còn lại bao nhiêu anh em trên đỉnh đồi
960 này!”
“Thôi quên đi An ơi!”
“Anh Năm, cho em hỏi?”
“Ừa!”
“Hồi đó, ở cao độ lưng
chừng này, mình thua là cái chắc, tại sao họ điều về một
nơi mà họ biết là thua, mà vẫn đưa đến?”
“Ở đây, tao tự bắt cái
đĩa định vị vệ tinh từ lâu, xem kênh truyền hình Mỹ,
thấy phim “Hamburger Hill” đến phải mũi lòng, cho cái dân
tộc giầu có, mà tâm địa xấu xa như loài cóc nhái. Hát
đồng dao ban ngày, ban đêm hòa giải cùng lũ bành trướng
đất đai phương Bắc ác độc.”
“Một thằng giàu vậy, mà
hết thuốc chữa, anh Năm?”
“Đã từ lâu! Nếu không,
tao không nằm ở cái đỉnh điểm 960 chết tiệt này, để
được vinh danh: Anh không chết đâu Anh!”
“Lịch sử, phải là đau thương,
đẫm máu, mới gọi là lịch sử! Không đau thương, đẫm
máu, sao làm nên trang lịch sử? Anh Năm, phải có Nguyễn Đình
Bảo là làm nên lịch sử?”
“Ơ! Thằng mắc dịch. Mày
nói đó nghen An!”
“Hồi đó, anh thích ăn xôi
nén với thịt gà kẹp lạp xưởng.”
“Nhớ dai dữ!”
“Anh kể mà! Vợ anh…”
Tôi đạp An ngã ngữa:
“Đừng nói vợ, con với tao.
Thèm lắm… cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.”
Tôi đi đến đỉnh dốc, bốc
con cu đái xuống đỉnh 960 chó chết này! Đỉnh dốc
cao, dòng chảy của sông, lớn hơn lòng người? Sông cuồn
cuộn chảy. Chảy vào đất đá, phù sa! Hoặc chảy vào đâu?
Chiến tranh chấm dứt, sông
chảy vào lòng người!
“Một con cu, có thể thăm
dò sự bần tiện, sung sướng, thỏa mãn đến kinh khiếp não
lòng nhân sinh! Còn đâu là ý chí quật khởi?”
“Anh Năm! Nghe nặng nề quá.
Nắm xôi, em gói gắm từ Sài Gòn cho Anh đây.”
Tôi chụp gói xôi Sài Gòn thân
thương ba mươi tám năm chưa về, nhai ngấu nghiến. Như nhai
kỷ niệm, nhai vợ con, nhai một thời sung túc, nhai cả quê
hương bên bờ vực thẳm hiện thời. Tôi nói:
“Của cúng cho Ma, nó khác
của đem đến tận tay cho Ma!”
“Anh Năm, mỗi thời mỗi khác!”
“Con gái tôi, cũng biết ý
mẹ nó, hằng năm ngày này, nó đều cúng tôi những nắm xôi
nén chặt, vo tròn. Ba năm đầu, vợ tôi nén những nắm
xôi còn ngon lắm, như ngày xưa. Năm thứ tư, cũng là nắm
xôi vo tròn, nhưng trộn nhiều hạt tròn vo, không thịt, cứng
ngắt. Tôi tức giận ném những nắm xôi, nói: Thứ này chỉ
có Khỉ nó mới ăn! Đây là thành quả của cách mạnh thành
công!?”
Ăn hết những nắm xôi, tôi
nói:
“Uống trà nhé?”
“Anh có trà, ở đâu vậy?”
“Khối! Có thằng này, chuyên
gia về trà mà lị! À, mà chú có nhớ thằng Bắc?”
“Bắc nào?”
Tôi bắt loa tay:
“Bắc ơi!”
3.
Đang nướng mấy củ khoai mì
ăn cầm hơi, tôi nghe tiếng gọi của lão Bảo.
“Mẹ kiếp! Đồi trọc 960
này trơ nắng, trơ sương tê tái. Cái đất này chỉ có
khoai mì, khoai lang là mọc được, còn cứt gì mà ăn! Lão
Bảo có thân nhân, bạn bè tứ xứ nhớ thương mà cúng vái,
cũng có ăn thịt thà chút đỉnh! Chớ bọn tôi từ miền Bắc
vào đây chết, ai biết mồ mả ở đâu mà cúng kiến.”
Tôi đánh Mỹ cứu nước
từ lúc còn mặc quần xà lỏn, rồi đi B.
Mười bảy tuổi, tôi đôn
lên đủ tuổi, trích huyết viết đơn tình nguyện ăn thề,
để đi vào miền Nam, nơi đang bị gò xiết bởi Đế quốc
Mỹ, Thiệu, Kỳ bán nước buôn dân.
Trước hôm ra đi, tôi muốn
cảm nhận: Đàn ông là thế nào, khi sung sướng tột đỉnh
bản chất làm người, khi vào vùng chết!?
Ra Khâm Thiên thử thời vận
thì tôi sợ!
Mười bảy tuổi, thiếu ăn
trăm bề, tôi như một đứa con nít.
“Trái chuối” của tôi cũng
nhỏ lắm. Trong mộng mị, tôi tự lột “trái chuối” của
mình và thấy đau xót xa. Sợi chỉ bị xé, vài giọt nước
mắt rỉ xuống, đậm đặc màu sương sửa!
Lão Bảo, khi thân quen cùng
nằm trên đỉnh 960, hỏi tôi:
“Chơi gái Hà Nội chưa?”
“Thoải mái, như… cà-rem
phơi đầy đường!”
“Biết Ba vành không?”
“Ba Lẽ Bẩy Sư Đoàn, chứ
Ba Vành gì ông”?
“Ba vành là ba tiến công thời
ấy nhé! Huế một vành, Tây nguyên lại một vành, Miền Tây
lại một vành!”
“Mà lại thua!”
“Thôi ông ơi! Vậy mà nói
thoải mái…! Ba vành của bà Hồ Xuân Hương ấy.”
…
Tôi chống cây gậy tự tạo,
kẹp ngang nách khật khưởng đi ra, cầm theo mấy củ khoai.
Chỗ lão Bảo nằm, không cách xa chỗ tôi là mấy. Tôi vừa
ngồi xuống, lão Bảo hỏi tôi:
“Ông Bắc còn nhớ ông An?
Ổng từ Mỹ mới về.”
Tôi nhìn người đàn ông thấy
quen quen, nhưng không nhớ nổi. Tôi lắc đầu.
An chợt reo lên:
“A. Tôi nhớ ra rồi! Đây
là ông Thượng úy Bắc, thương binh, bị lựu đạn của tôi
mất một cái “chân giò” được ông thiếu tá bác sĩ cứu
thoát. Ủa, ông cũng nằm lại đây?”
Tôi nhìn An cám cảnh:
“Lúc mấy ông băng bó tôi
xong, bỏ tôi nằm gần cái bunker ông trung tá Bảo này nè,
tôi nằm mê man bất tỉnh. Lúc tỉnh dậy, biết mình đã là
Ma. Mẹ kiếp! Đồng đội tôi, nó giết tôi chứ nào ai khác.
Chúng nó từ đỉnh 1500 cứ dội pháo liên tục xuống, bất
kể đồng chí, đồng đội chúng đang ở lưng chừng đỉnh
960 leo lên xung phong theo tiếng kèn như ma mị dìu dắt. Không
một quân đội khốn nạn nào như quân đội nhân dân Việt
Nam! Chúng coi mạng sống đồng đội như con kiến, củ khoai.
Không như phía các ông. Thằng Việt cộng thương binh là tôi,
xâm lăng miền Nam các ông, mà các ông vẫn nhân đạo băng
bó vết thương tôi, ủy lạo tôi, thì điều tôi thấy phi
lí nhất là mình đã đâm đầu vào cuộc chiến khốn nạn
nhồi da, xáo thịt này.”
Bảo đùa:
“Giờ ông mới biết?”
Tôi cười buồn:
“Khi biết, thì phải trả
cái giá làm thằng Ma xó vất vưỡng núi rừng Tây nguyên,
thân nhân không ai biết, mà cúng kiến ăn cho no đủ như ông
Bảo này! Một cuộc chiến ngu xuẩn. Khi thống nhất đất
nước, mình mới nhìn ra, mình đi chết cho những thằng buôn
dân, bán nước của hệ thống Đỏ khốn nạn từ đẩu đâu.
”
Tôi lấy cái ca sắt nhà binh
Mỹ đeo trên vai, đổ bi đông nước vào và vùi nó vào ngọn
lửa đang nung chảy đỏ rực trên quê hương khốn khổ này,
nhón vào đó một nhúm trà trên đất Bắc luôn mang theo bên
mình, từ ngày lìa bỏ quê hương, làm Ma đất người.
Bảo buồn buồn nói:
“Chúng ta đã chiến đấu
cho dân tộc này, với cái nhìn từ hai phía của những công
dân yêu nước. Dù đúng dù sai, tất cả cũng đã muộn màng.
Bọn chúng đang cày nát Tây nguyên và bán đất nước này
cho ngoại bang phương Bắc. Vòng quay lịch sử Lê Chiêu Thống
đang quay lại trên cái đất nước này. Một con đàn bà đã
viết (đại khái): Đất nước Việt này là con, là cháu của
Rợ phương Bắc! Lịch sử đã và đang sắp làm điều đó!”
…
Lửa vẫn cháy. Vẫn cháy muôn
đời trên cái đất khốn khổ ngàn năm văn hiến.
Lửa vẫn cháy.
Đêm vẫn hỗn mang đời đời.
* * *
Chiêu ngụm trà, chúng tôi -những
người con của Tổ quốc- ghi lại quá khứ hỗn mang.
Canada, Vũ Đình Kh.
07-01/05/2010.
|