Tuyên
bố của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 26 tháng 4 năm 1958
về
thắc mắc trong vấn đề tái thống nhất đất nước
Nguyễn Hội
Kính thưa Quí Vị,
Từ hai năm nay, cứ
vào cuối tháng 10 hoặc đầu tháng 11 tôi đóng góp một bài
viết về nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Với hai bài „Thời nào
Dân Việt sướng nhất“ chúng ta đã cùng so sánh đời sống
đại đa số dân chúng trong ba thời kỳ Đệ Nhất, Đệ Nhị
Cộng hoà và XHCN. Kết quả cho thấy, mặc dù dưới thời
Đệ Nhất Cộng hoà số tiền viện trợ ngoại quốc vào Việt
Nam thấp nhất nhưng tiền lương người dân lao động, là
thành phần chiếm đa số trong xã hội Việt Nam, cao trội hơn
một cách rõ ràng với Đệ Nhị Cộng hoà và đặc biệt là
với thời XHCN, mặc dù khoảng cách đã gần 50 năm.
Nhân tìm được trong
thư viện một trường Đại học Đức „Bản Tuyên Bố của
Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà ngày 26.04.1958 về thắc mắc
trong vấn đề tái thống nhất đất nước“ bằng tiếng
Đức, tôi „ngấu nghiến“ đọc và nhận thấy Bản Tuyên
Bố có lập luận chặt chẽ, lời lẽ nhẹ nhàng nhưng diễn
được suy nghĩ đanh thép của những người lãnh đạo thời
đó. Những lập luận luôn được kèm theo thí dụ các sự
kiện đã xảy ra làm người đọc, cho dù chưa sống dưới
chế độ cộng sản, cũng có thể hiểu được thực trạng
của chế độ cộng sản và lý do nào khiến người cộng
sản miền Bắc đã chia đôi đất nước và sau đó đòi
hỏi một cuộc tổng tuyển cử để tái thống nhất đất
nườc với một Việt Nam Cộng Hoà tự do và trù phú chỉ
sau gần 4 năm tái kiến thiết sau ngày Hiệp định Genève được
ký kết.
Một điều đáng chú
ý là năm 1958 Việt Nam Cộng hoà mới có Sứ Thần chứ chưa
có Đại sứ tại CHLB Đức, nhưng các Vị Tiền bối cũng
đã cho dịch Bản Tuyên bố của Chính phủ ra tiếng Đức,
một ngôn ngữ ít thông dụng, và cho phổ biến tối thiểu
là đến các trường đại học. Qua đó cho thấy, Bản Tuyên
bố này đã được phổ biến ở nhiều quốc gia khác nơi
VNCH có cơ sở ngoại giao.
Do tầm quan trọng
của Bản Tuyên bố, tôi dịch ra tiếng Việt để mọi người
cùng tham khảo và hãnh diện rằng, nước Việt Nam đã một
thời có những người lãnh đạo đất nước không những
chỉ thực sự vì nước, vì dân mà còn rất khôn ngoan.
Với đường lối
chính trị và phương thức đấu tranh của Chính phủ Đệ
nhất VNCH mà chúng ta có thể sáng suốt đánh giá qua bản
Tuyên bố kèm theo cùng cách tổ chức phổ biến nó, chắc
chắn miền Nam đã không rơi vào tay cộng sản mà ngược lại
có lẽ cả nước Việt Nam ngày nay đã được thống nhất
theo mô hình của Đức và người dân Việt không phải lam
lũ làm tôi mọi cho giai cấp thống trị, mại bản đỏ, người
con gái Việt không phải bán thân cho ngoại bang để bị dày
vò thể xác, mà chúng ta đã là những con người tự tin, hiên
ngang như các dân tộc Nhật bản, Đại hàn, Đài loan, Singapore
vv....
Công việc dịch ra
tiếng Việt từ ngoại ngữ chắc chắn không thể diễn tả
hết hoàn toàn ý tưởng của bản Tuyên bố. Kính mong Quí
Vị niệm tình tha thứ nếu có sơ xót.
Kính mến,
Nguyễn Hội.
* * *
Trong bức thư đề ngày
7 tháng ba năm1958, được sử dụng với mục đích tuyên truyền
- bởi vì văn bản được phát đi ngay lập tức bởi Đài
phát thanh Hà Nội và Đài phát thanh Bắc Kinh - Nhà chức trách
Hà Nội đưa đề nghị „thiết lập quan hệ bình thường“,
đề nghị xem xét vấn đề tái thống nhất đất nước, hạn
chế quân sự và giao thương giữa hai vùng.
Mặc dù đồng bào chúng
tôi ở miền Nam và miền Trung Việt Nam đã được thông báo
về tính chất lừa đảo của tuyền truyền cộng sản, Chính
phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng phải có trách nhiệm giải thích
cho đồng bào ở miền Bắc, những người đang bị cô lập
với mọi thông tin xác thực và dư luận thế giới, các mâu
thuẫn giữa tuyên bố và hành động của nhà chức trách Hà
Nội cùng thực trạng bất lương về những cáo buộc của
họ.
Vấn đề thống nhất
đất nước và cuộc bầu cử chung
Xin nhớ rằng, Chính
phủ chúng tôi đã luôn luôn bảo vệ sự thống nhất của
đất nước. Trong Hội nghị Genève năm 1954, phái đoàn Việt
Nam đã phản đối mạnh mẽ chống lại ý định của cộng
sản Việt Nam. Phái đoàn chúng tôi đã chống việc chia ly
tạm thời của đất nước. Chúng tôi đã đề xuất việc
thu các đơn vị quân sự của cả hai bên vào một số khu
vực hạn chế và sau đó tổ chức cuộc bầu cử tự do dưới
sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc. Phái đoàn Cộng sản
đã bác bỏ đề nghị trên, họ đòi hỏi chia đất nước
từ vĩ tuyến 17 nhằm đạt dân số trội hơn miền Nam.
Sau cuộc trốn chạy của hơn một triệu người tị nạn về
miền Nam, tại miền Bắc vẫn còn hơn 13 triệu người so với
11 triệu người dân sinh sống trong miền Nam.
Nhờ vào chế độ công
an trị và quân đội lớn hơn so với Việt Nam Cộng hòa, cộng
sản tin rằng họ có thể ép dân chúng miền Bắc, dân số
cao hơn, bỏ phiếu bầu cho họ ngõ hầu chế độ cộng sản
có thể thống trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam và như thế,
nền hoà bình trong vùng Đông Nam Á sẽ bị đe doạ.
Từ ý tưởng này người
cộng sản đòi hỏi thực hiện một cuộc Phổ thông đầu
phiếu tại Việt Nam, trong khi họ luôn từ chối các cuộc
bầu cử tự do tại Đức và Đại Hàn, bởi vì trong hai quốc
gia này dân số trong vùng họ kiểm soát ít hơn so với các
khu vực tự do; do đó họ không có cơ hội để thực hiện
ý đồ đen tối của mình.
Thái độ mâu thuẫn
của cộng sản về vấn đề thống nhất đất nước ở các
quốc gia bị phân chia cho thấy động cơ thầm kín của họ
nhằm thực hiện những cuộc bầu cử không tự do và
không thành thật.
Mặc dù nhà chức trách
Hà Nội đòi hỏi cuộc bầu cử chung, nhưng họ lại không
tổ chức một cuộc bầu cử tự do trong vùng tạm kiểm soát
của mình để canh tân cái gọi là Quốc hội của họ.
Quốc hội này bao gồm một số thành viên được chỉ định
và một số thành viên được bầu trong sự hỗn loạn của
năm 1946, hiện nay phải đối mặt với thực tế là một số
thành viên đã bỏ chạy về miền Nam. Quy định vào Hiến
pháp của họ, một bản Hiến pháp được hoàn thành không
có sự tranh luận, trong một phiên họp chỉ kéo dài có
một ngày, thì nhiệm vụ những đại biểu của Quốc hội
này đã được chấm dứt từ hơn 8 năm nay rồi. Cộng sản
Việt Nam do đó đã không tôn trọng hiến pháp của chính họ.
Đồng thời họ đã thiết lập chế độ Cộng sản ở miền
Bắc, mà không trưng cầu ý dân. Và họ không bao giờ trưng
cầu dân ý vì họ biết rằng dân chúng sẽ không bao giờ
chấp nhận cái chế độ này.
Chính phủ chúng tôi
đã tiến hành một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 23 Tháng
10 năm 1955́, dựa theo đó chế độ cũ được bãi bỏ và
chế độ Cộng hòa đã được thành lập. Sau đó chính phủ
chúng tôi đã tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội vào tháng
3 năm 1956 ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. Quốc hội này
đã soạn thảo và thông qua một bản Hiến pháp. Hiến Pháp
này đã được công bố sau đó.
Những tổ chức dân
chủ và các tiến bộ mà chính phủ chúng tôi đã đạt
được trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội,
đã được cảm thông của cả thế giới. Đến ngày hôm nay
đã có 56 quốc gia công nhận chính phủ chúng tôi, duy trì
quan hệ ngoại giao với chúng tôi, hoặc đã đề nghị chúng
tôi được gia nhập Liên Hiệp Quốc. Nhà cầm quyền cộng
sản ở miền Bắc chỉ được sự công nhận của khoảng
10 chính phủ cộng sản. Trong những năm gần đây, ảnh hưởng
của Việt Nam Tự Do đã được tăng đáng kể: Nước chúng
tôi hiện nay là thành viên của 33 tổ chức quốc tế và Sài
Gòn được chọn là trụ sở của nhiều hội nghị quốc tế.
Do đó, rất kỳ lạ
khi thấy những người có trách nhiệm phân chia đất nước,
không dám tiến hành bầu cử trong vùng tạm kiểm soát
của họ và sau đó lại đổ lỗi cho chính phủ chúng tôi
từ chối thống nhất đất nước và từ chối bầu cử chung.
Vấn đề về giao
thông đi lại giữa liên khu vực tự do
Nhà chức trách Hà Nội
đã dấu không thông tin cho người dân miền Bắc biết, rằng
người dân có quyền chọn lựa khu vực để sinh sống. Với
chế độ khủng bố, họ đã ngăn cản các chuyến di tản
của dân chúng miền Bắc; họ đã dùng bạo lực bắt giữ
thân nhân những người đã di cư về miền Nam. Tại Ba-Làng
và Lưu-Mỹ họ đã nổ súng đàn áp những người đã cố
gắng đi đến khu vực tự do.
Họ cũng đã rút
ngắn thời gian cho tự do giao thông liên vùng và tự do
lựa chọn vùng sinh sống, qua việc qui định thời hạn vào
ngày 19 Tháng 5 năm 1955. Sau thời gian này, chính phủ chúng
tôi đã đề nghị gia hạn thời gian giao thông liên vùng tự
do. Nhưng nhà chức trách Hà Nội muốn hủy bỏ càng nhanh càng
tốt sự liên kết giữa hai khu vực, nhằm ngăn chặn các chuyến
tỵ nạn về miền Nam và luôn bày tỏ ý đồ xấu xa này của
họ. Do đó nhà chức trách Hà Nội đã chỉ gia hạn thời
gian di tản thêm hai tháng, tức là đến ngày 20 Tháng 7 năm
1955, và trong hai tháng đó họ đã chỉ cung cấp một chiếc
thuyền cho những người muốn về miền Nam.
Bất chấp mọi nỗ lực
để ngăn cản việc di tản, bất chấp bị khủng bố và trù
dập bằng bạo lực và cho dù thời hạn được di tản
rất ngắn ngủi, nhưng gần một triệu đồng bào từ miền
Bắc đã di cư về miền Nam thành công. Mặc dù đồng bào
của chúng tôi ở phía bên kia vĩ tuyến 17 bị mất quyền
tự do di chuyển ngay cả trong khu vực sinh sống của mình,
ngày nay họ vẫn còn chạy trốn về miền Nam bằng cách vượt
dẫy núi Trường Sơn[1], hoặc trong các chiếc thuyền mỏng
manh dọc bờ biển. Một số người không may mắn bị rơi
vào tay cộng sản và bị giết, hoặc đã bị tra tấn tàn
nhẫn. Những người khác đã chết vì kiệt sức trong rừng
sâu hoặc là nạn nhân của các cơn bão biển.
Hiện nay có 81 123
người và 1955 gia đình đã tự, hoặc qua đại diện của
họ, làm đơn yêu cầu được di tản vào miền Nam. Yêu cầu
của họ đã được giao cho Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình
chiến. Nhưng nhà chức trách Hà Nội phản đối những yêu
cầu này.
Ngoài ra, còn có một
số gia đình từ miền Trung và miền Nam Việt Nam đã đòi
hỏi cho anh em, chồng con họ, những người đã bị cộng
sản dùng bạo lực bắt cóc đưa về miền Bắc, phải được
hồi hương. Tổng số đơn yêu cầu về việc này là 11.196,
đã được chuyển tiếp đến Ủy hội Quốc tế Kiểm soát
Đình chiến. Ngoài các đơn kiện này, còn có rất nhiều
trường hợp khác được gửi trực tiếp đến Ủy hội Quốc
tế Kiểm soát Đình chiến, và số lượng đơn của những
trường hợp này không bao giờ được công bố. Qua sự phản
đối, chống lại những yêu cầu của người dân được nêu
trên, nhà chức trách Hà Nội phải gánh trách nhiệm về
tình trạng đau đớn vì chia ly của các gia đình này. Sau khi
cộng sản cấm đoán người dân tự do đi lại ngay cả trong
khu vực miền Bắc Việt Nam và ngăn chặn những người muốn
di tản đi xa, bây giờ thì họ lại rêu rao, tuyên truyền là
„tự do đi lại“ và „khôi phục lại mối quan hệ bình
thường“.
Vấn đề cắt giảm
lực lượng quân sự
Từ 3 năm qua nhà chức
trách Hà Nội luôn luôn cổ võ cho hòa bình. Nhưng hành động
của họ luôn tương phản lớn với chủ đề tuyên truyền
của họ.
Họ đã không dừng lại
mà luôn tăng cường lực lượng quân sự và nâng cấp trang
bị vũ khí kể từ sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực
và như vậy là vi phạm Hiệp định Genève do chính họ đã
ký kết.
Cần quan tâm đến một
giác thư của chính phủ Vương quốc Anh gửi cho Liên Xô ngày
9 Tháng 4 năm 1956. Là đồng chủ tịch của Hội nghị Genève,
chính phủ Anh đã cáo buộc chính quyền Hà Nội, kể từ khi
ngừng chiến đến nay họ đã tăng cường lực lượng quân
sự từ 7 lên 20 sư đoàn.
Ngoại trưởng Pháp tháng
3 năm 1958 cho biết, rằng nhà chức trách Hà Nội đã gia tăng
quân đội lên đến 350.000 quân và công an, cảnh sát lên tới
200.000 người.
Họ cũng đã nhập cảng
vũ khí từ các nước cộng sản để tăng cường lực lượng
quân sự của họ. Trong ba năm qua họ đã không tôn trọng
Hiệp định Genève, bởi vì họ chưa bao giờ thông báo cho
Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến về việc nhập
cảng vũ khí vào Việt Nam.
Mâu thuẫn với thực
tế, nhà chức trách Hà Nội tuyên bố rằng họ đã giảm
lực lượng quân sự của họ xuống còn 80.000 người. Nhưng
cho đến nay họ chưa bao giờ nói bất cứ điều gì về con
số thực sự quân đội của họ, trước khi hoặc sau khi cái
họ gọi là giảm quân. Họ không đưa ra bằng chứng về những
lời tuyên bố của mình và không chấp nhận mọi cuộc điều
tra.
Họ không có lý do duy
trì một quân đội mạnh mẽ hơn Việt Nam Cộng Hòa. Đây
là mối đe dọa cho nền hòa bình không những chỉ cho Việt
Nam mà còn cho các nước ở trong vùng Đông Nam Á. Để có
khả năng duy trì một quân đội to lớn như vậy, nhà chức
trách BắcViệt áp đặt mức thuế cao và hệ thống „đấu
tố“, với hệ thống này họ đã ép buộc những người
vợ, những người con phải tố cáo cha mẹ và chồng mình
đã „dấu vàng của nhân dân“. Những người này thậm
chí đã phải tự đánh mình và cuối cùng họ bị xử tử
ngay tai chỗ mà không thông qua một cuộc xét xử của toà
án. Có thể nói rằng dân tộc chúng tôi phải chịu nhiều
đau khổ với chính quyền miền Bắc hơn bất kỳ dân tộc
nào khác trên thế giới này.
Ngược lại, Chính phủ
Việt Nam Cộng Hòa đã luôn luôn phục vụ cho nền hòa bình
kể từ hiệp định Genève. Để đảm bảo lực lượng lao
động cần thiết cho việc tái thiết đất nước bị tàn
phá bởi chiến tranh, chúng tôi đã giảm quân đội từ
242.000 xuống còn 150.000, đồng thời chúng tôi đã không bổ
xung thay thế 180.000 binh lính của „Đội quân Viễn chinh“
Pháp. Cộng sản mong muốn duy trì Đội quân này lại ở Việt
Nam. Vấn đề giảm lực lượng quân sự được phổ biến
rộng rãi, điều này rất dễ kiểm chứng.
Nhân đây cũng xin nhắc
lại lời tuyên bố long trọng của Chính phủ Quốc gia vào
ngày 6 Tháng 4 năm 1956 là không tham gia bất kỳ liên minh quân
sự nào và không cho phép cài đặt căn cứ quân sự ngoại
quốc trên lãnh thổ của mình.
Vấn đề trao đổi
thương mại
Trong thư đề ngày 7
Tháng Ba nhà chức trách Hà Nội đã đề xuất việc trao đổi
thương mại với miền Nam. Qua đánh giá đề nghị này và
qua tin tức nhận được cho thấy rằng đồng bào miền Bắc
mong muốn, cầu xin sự giúp đỡ của thân nhân hoặc bạn
bè ở miền Nam, có thể một vài mét vải hoặc vài viên thuốc
aspirin. Nền kinh tế miền Bắc do sự thống trị của Đảng
Cộng sản đang ở dưới đáy vực sâu. Đề nghị của cộng
sản không nhằm mục đích nâng cao đời sống của dân
chúng miền Bắc. Do hệ thống độc quyền với chính sách
nội thương và ngoại thương mà họ đã đề ra là mua sản
phẩm nông nghiệp của dân chúng với giá rẻ mạt và bán
lại những sản phẩm này với giá cao hơn đáng kể. Mục
tiêu của họ chỉ là, thu thập sự phong phú của miền Nam
vào ngân sách đảng của họ. Nếu nhà chức trách miền Bắc
muốn đề nghị của họ được duyệt xét thì điều kiện
đầu tiên là họ phải đặt quyền lợi người dân lên trên
lợi ích của đảng. Đồng thời họ phải để cho dân
chúng miền Bắc toàn quyền tự do thương mại và từ
bỏ sự độc quyền kinh tế mà đảng cộng sản đã chiếm
đoạt từ trước đến giờ.
Vấn đề trao đổi
thư từ và bưu thiếp.
Mặc dù cộng sản không
đề cập đến đề tài này trong thư của họ đề ngày 7
tháng ba năm 58, nhưng họ đã nhiều lần đề nghị nối lại
dịch vụ bưu chính giữa hai khu vực. Cho đến hôm nay, cộng
sản đã sử dụng các bưu thiếp như một phương tiện tuyên
truyền nhiều hơn so với những phong thư được đóng kín.
Yêu cầu trao đổi thư từ của họ không ngoài mục đích
nào khác là tăng cường chiến dịch đe dọa và ăn xin người
dân miền Nam. Vì quyền lợi của dân chúng, Chính phủ Quốc
gia không thể thực hiện đề nghị này, nhưng Chính phủ yêu
cầu cộng sản khai triển trao đổi bưu thiếp một cách đơn
giản để nhân dân của hai Miền có thể liên lạc được
với nhau.
Sự thật được mô
tả trên đây cho thấy bản chất lừa đảo của các đề
nghị của cộng sản, chẳng hạn như tăng cường củng cố
lực lượng quân sự của mình, lệnh cấm di chuyển giữa
hai khu vực, các vụ giết người muốn di tản về miền Nam,
họ đã gây ra những trở ngại để các thân nhân của các
gia đình sống tản mác không tìm được nhau và lợi dụng
việc trao đổi bưu thiếp nhằm vào mục đích tuyên truyền.
Mâu thuẫn giữa tuyên
truyền và hành động của nhà chức trách Hà Nội thật đã
rõ ràng. Từ nhiều năm qua thái độ của họ vẫn luôn
như một. Để chứng minh thái độ của họ đã thay đổi,
họ hãy thực hiện một số hành động cụ thể như
sau:
1)
Họ hãy để cho 92 319 người và 1955 gia đình thực hiện ý
nguyện của mình là được di cư về miền Nam, đơn của những
người và gia đình này đã nộp cho Ủy hội Quốc tế Kiểm
soát Đình chiến, để những người này được đoàn tụ
với gia đình của họ.
2)
Họ nên giảm lực lượng quân sự của họ tương đương
với miền Nam Việt Nam. Việc giảm bớt phải được xác nhận
là đúng bởi một Ủy ban quốc tế hữu trách. Sau đó vấn
đề giới hạn lực lượng quân đội của hai vùng mới được
bàn thảo.
3)
Họ cần phải xóa bỏ cái gọi là „Ủy ban Giải phóng miền
Nam“, bằng cách từ bỏ khủng bố, giết dân cư của những
làng mạc xa xôi hẻo lánh, phá hoại cơ sở Chính phủ nhằm
cải thiện đời sống của người dân, đặc biệt trong lĩnh
vực cải cách ruộng đất và nông nghiệp.
4)
Họ phải từ bỏ sự độc quyền kinh tế của đảng Cộng
sản, để nhân dân miền Bắc Việt Nam được làm việc trong
hoàn toàn tự do và qua đó, có thể tăng mức sống của họ
hiện đã bị giảm xuống đến mức chưa từng có từ xưa
đến nay.
5)
Họ không được buộc dân chúng phải cất tiếng ca ngợi
họ[2] trong các bưu thiếp. Họ nên giải tán ban biên tập
công tác tuyên truyền phục vụ bưu thiếp. Họ không được
trả thù những người nhận hoặc gửi bưu thiếp.
6)
Họ phải tôn trọng các quyền tự do dân chủ trong khu vực
của họ như ở miền Nam và nâng cao mức sống của dân chúng
miền Bắc, ít nhất được tương đương với dân chúng miền
Nam; họ không được dùng chế độ vô nhân đạo của
họ để làm cho khoảng cách giữa hai vùng lớn hơn nữa.
Nếu khảo sát các sự
kiện kỹ càng, ta sẽ nhận thấy bức thư ngày 7 Tháng Ba năm
58 của nhà chức trách Hà Nội có mục đích chủ yếu nhằm
tuyên truyền và phá hoại, chống lại sự giúp đỡ của các
quốc gia bạn. Cộng sản đã hành động theo đơn đặt hàng
của Liên Xô và cộng sản Trung Quốc, trong lá thư trên đã
chỉ trích gay gắt Mỹ và cáo buộc người Mỹ can thiệp vào
nội bộ của miền Nam Việt Nam.
Thực tế hoàn toàn ngược
lại với những cáo buộc của cộng sản: mối quan hệ
Việt-Mỹ hoàn toàn bình đẳng dựa trên luật pháp quốc
tế giữa hai nước, cùng tôn trọng chủ quyền của nhau. Tương
tự sự liên kết giữa Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và các
nước trong thế giới Tự do. Mục đích mối quan hệ hữu
nghị giữa Việt Nam và Hoa Kỳ chỉ nhằm bảo đảm nền hòa
bình và tự do.
Mối quan hệ giữa nhà
chức trách Hà Nội cùng giới thống trị Nga và Trung Quốc,
thuộc một thể loại khác. Họ là một vệ tinh đối với
giới cai trị. Họ là hạ cấp so với thượng cấp trong hệ
thống phân cấp của một đảng: đảng Cộng sản Quốc tế.
Sự phụ thuộc này không chỉ được thể hiện qua sự đồng
nhất của các tổ chức chính trị, quân sự, kinh tế, văn
hoá, xã hội theo kiểu mẫu của cộng sản Liên Xô và Trung
Quốc, mà sự lệ thuộc này còn thâm nhập ngay cả vào lĩnh
vực tư tưởng: trong các nghị định và các quy định của
họ nhà chức trách Hà Nội bắt buộc dân chúng miền Bắc
phải học các hệ tư tưởng cộng sản và sống theo đường
lối chính trị của Nga và Trung Quốc.
Ở miền Nam, không ai
bị bắt buộc phải tôn thờ các nhà lãnh đạo ngoại quốc
và treo hình ảnh họ trong nhà, ở đây không ai có thể tưởng
tượng rằng họ có thể hành xử điều kỳ lạ nêu trên.
Ở miền Bắc, nhà chức
trách ép buộc dân chúng phải sùng bái các các nhà lãnh đạo
Nga và Trung Quốc, treo hình ảnh của họ ở nhà và trong những
ngày lễ của Liên Xô. Đồng thời họ cấm đoán dân chúng
không được phê bình ý thức hệ cộng sản, không được
phê bình chính phủ và giới lãnh đạo các nước cộng sản.
Thái độ hèn hạ của
nhà chức trách Hà Nội đối với cộng sản ngoại quốc đã
hủy hoại đời sống của dân tộc Việt, và là trở ngại
lớn nhất cho công cuộc thống nhất đất nước.
Hệ tư tưởng cộng
sản hoàn toàn phản nghịch với truyền thống tâm linh của
châu Á và tính chất quốc gia của dân tộc Việt Nam.
Để tạo điều kiện
thuận lợi cho các cuộc bầu cử tự do, nhà chức trách Hà
Nội phải hủy bỏ chế độ cộng sản mà họ đã áp đặt
lên người dân miền Bắc.
Họ không nên nhắm mắt
và tự bịt tai. Họ phải học hỏi để hiểu cho ra rằng,
Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và Dân tộc Việt Nam không bao
giờ chấp nhận cuộc bầu cử không có sự tự do và chân
thành.
(Sưu tầm và dịch từ
văn bản tiếng Đức „Erklärung der Regierung der Republik Vietnam
von 26. April 1958 über die Frage der Wiedervereinigung“ do văn phòng
Sứ Thần VNCH tại CHLB Đức xuất bản năm 1958.)
[1] bản tiếng Đức
ghi là dẫy núi An Nam
[2] nguyên văn tiếng
Đức là: Họ không được buộc dân chúng phải cất tiếng
hát những bài ca tụng họ trong các bưu thiếp“ |