Bài
Mới Nhất
Máu
và nước mắt
trên
lưng Trường Sơn.
Những
Trận Đánh Không Tên
Trong
Quân Sử tập 2
Nam
Thiên Nhất Tuyệt Kiếm
Thơ
Trần Thúc Vũ
Thơ chiến đấu
của Hải Triều,
Lê Khắc Anh Hào,
Ý Yên,
Trần Thúc Vũ.
|
Bình
Luận - Thời Sự
Một
nền pháp luật lưu manh !!!
Xã luận bán nguyệt san
Tự do Ngôn luận số 55 (15-07-2008)
1-
Một trong những nét độc đáo của nền pháp luật nước
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (hay nói rộng ra, của
mọi nền pháp chế cộng sản năm châu) là cụm từ “theo
quy định của pháp luật” vốn hiện diện trong mọi văn
bản pháp lý, kể từ văn bản cao nhất là Hiến pháp quốc
gia trở xuống những thông tư quy định của địa phương
hay ban ngành, hiện diện như một cái đuôi nằm ở cuối mọi
khẳng định rất nổ vang, rất ngon lành về các quyền mà
công dân Việt Nam được hưởng, những quyền mà theo lời
đương kim thủ tướng CS Nguyễn Tấn Dũng, rất nhiều công
dân nước khác có lúc phải thèm thuồng mong đợi!?! Xin đơn
cử vài ví dụ. Trong Hiến pháp 1992, cụm từ “theo quy
định của pháp luật” này hiện diện ở các điều 18,
22, 54, 57, 63, 68, 69, 73, 80, 116, 127, 129 (12 lần). Trong Pháp lệnh
Tín ngưỡng Tôn giáo ngày 18-06-2004, nó hiện diện ở các
điều 5, 9, 13,16, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33 (2), 36, 37 (14 lần).
Trong Nghị định 56 về hoạt động văn hóa thông tin ra ngày
06-06-2006, nó lại có mặt ở các điều 1, 5, 16, 22, 23, 28,
36, 70, 71, 74 (2), 75 (l2 lần). Phân tích chi tiết thì trong Pháp
lệnh tín ngưỡng tôn giáo (với 41 điều), lại có thêm 18
từ “đăng ký” và 21 từ “chấp thuận”, “công nhận”,
“cho phép” hay “được phép”. “Đăng ký” ở đây không
có nghĩa là báo cho chính quyền biết rồi cứ tự động làm,
mà phải chờ đợi chính quyền chấp thuận đã, thành ra nó
đồng nghĩa với “xin phép”. Vì thế, thứ “tự do tôn
giáo” được hiểu trong Pháp lệnh 2004 là thứ “tự do nhưng
phải xin phép”, “tự do nhưng phải đăng ký”! Còn trong
Nghị định 56 (với 77 điều), người ta lại gặp thêm cụm
từ “phái có giấy phép” 9 lần, “mà không có giấy phép”
44 lần, “theo quy định” (nói trống không hoặc của cái
gì đó) 49 lần. Nghĩa là muốn hoạt động văn hóa thông tin
trong chế độ, phải đi qua một rừng luật. Nói tóm là có
vô vàn giây xích trói quanh chữ “tự do”, khiến “tự do”
trở thành bánh vẽ, có vô số chướng ngại trên con đường
dẫn đến “quyền lợi”, khiến quyền lợi ấy tốt hơn
đừng đòi, nếu không muốn chuốc lấy vô vàn khổ ải cho
bản thân.
2- Đó
là điều mới được chứng nghiệm lần nữa bởi ba công
dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bỗng dưng
“nổi khùng” đưa sáng kiến “xin được biểu tình”.
Trong “Đơn xin phép biểu tình theo quy định của Pháp luật”
viết ngày 17-06-2008 gởi tới Ủy ban Nhân dân thành phố Hà
Nội, các công dân Nguyễn Xuân Nghĩa, Phạm Thanh Nghiên, Vũ
Cao Quận đã nói: “Chiếu theo quy định dưới luật trong
Nghị định 38/CP [“Trước khi tổ chức biểu tình phải
xin phép cơ quan chức năng”], chúng tôi làm đơn này xin
tổ chức một buổi biểu tình. 1- Mục đích, ý nghĩa: Yêu
cầu Chính phủ có biện pháp kiềm chế lạm phát. (Các băng
rôn có những câu mang nội dung trên). 2- Thời gian: trong khoảng
13g30 đến 15g vào ngày 16-07-2008. 3- Địa điểm: Tập trung
để xuất hành trước cửa Bưu điện Bờ hồ, sau đó đi
vòng quanh bờ hồ Hoàn Kiếm. 4- Thành phần tham gia: Tất cả
người làm công ăn lương, trong đó có cán bộ công nhân viên
chức nhà nước, lực lượng vũ trang v.v… (và bất cứ cá
nhân, tập thể nào có nhu cầu). 5- Số lượng người
tham gia: Lúc cuộc biểu tình hình thành và xuất phát sẽ có
khoảng 200 người. Sau này số người tham gia không tính được
trước; vì lạm phát ảnh hưởng đến đời sống hàng triệu
người dân. 6- Cuộc biểu tình này diễn ra trên tinh thần
ôn hoà, chúng tôi không cho phép người tham gia biểu tình đập
phá các cửa hàng, nhà băng... cũng không để xảy ra mất
trật tự, an toàn xã hội và giao thông công cộng. 7- Chúng
tôi đề nghị cơ quan công quyền cắt cử lực lượng cảnh
sát giám sát và bảo vệ cuộc biểu tình”.
Gần 10 hôm sau, ngày 26-06,
họ được Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội thông báo không
cho phép tiến hành hoạt động tập trung đông người (biểu
tình) ở nơi công cộng theo đơn xin. Lý do: vi phạm Khoản
2, Khoản 6, Điều 5 Nghị định 38/2005/NĐ-CP ngày 18-3-2005 của
Chính phủ quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự
công cộng; và vi phạm mục 7.1, mục 7.4, Điểm 7 Thông tư
số 09/2005/TT-BCA ngày 05-9-2005 của Bộ Công an hướng dẫn
thi hành một số điều của Nghị định 38 này. Đồng thời
UB còn sốt sắng tặng cho họ hai văn bản dài ngoằng nói
trên (Nghị định 15 điều, Thông tư 11 điểm, tổng cộng
9226 chữ) cũng như một lời hăm dọa đầy khí thế: “Mọi
hành vi cố tình tiến hành các hoạt động tập trung đông
người trái phép (biểu tình) hoặc vi phạm các quy định của
pháp luật về bảo đảm trật tự công cộng đều bị xử
lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật”.
Chẳng phải tay vừa, ba nhà
dân chủ nói trên, trong một thư ngỏ gởi toàn thế giới,
đã vạch trần bộ mặt nền pháp luật của CSVN như sau: "Điều
69 Hiến pháp nước CHXHCNVN thực chất về đối ngoại là
lừa bịp thế giới, rằng công dân VN có quyền biểu tình,
nhưng đối nội là tước bỏ quyền đó của người dân
qua mệnh đề gắn liền phía sau: “theo quy định của pháp
luật”. Bắt đầu từ mệnh đề này, một hệ thống văn
bản lưu manh dưới luật được ban hành nhằm phủ định
hoàn toàn điều 69. “Theo quy định của pháp luật” là gì?
Là biểu tình phải xin phép theo Nghị định 38. Nhưng sau khi
đã làm đơn xin phép, nạn nhân gặp tiếp các hung thủ cấp
dưới là các Khoản 2, Khoản 6, Điều 5 Nghị định này và
Thông tư số 09 của Bộ công an (mục 7.1, mục 7.4, điểm 7)”.
Họ tố cáo tiếp: “Qua
thông báo số 143 của UBND thành phố Hà Nội, viện dẫn những
điều trong Nghị định 38 và Thông tư 09 của hai cơ quan nhà
nước, một hành chính, một vũ trang không có chức năng làm
luật, để bác đơn xin phép biểu tình của chúng tôi, chính
quyền độc tài đảng trị Việt Nam đã xóa sạch hoàn toàn
điều 69 Hiến pháp”.
“Trong lịch sử đấu tranh
giành chính quyền bằng vũ lực, đảng cộng sản Việt Nam
từng tổ chức những cuộc biểu tình. Họ cũng từng tổ
chức (mà không phải xin phép ai) những cuộc biểu tình họ
muốn, như biểu tình phản đối Chính phủ Mỹ đưa quân đội
vào Iraq để loại trừ chính quyền độc tài Saddam Hussein.
Bây giờ, các cuộc biểu tình của học sinh, sinh viên và nhân
dân Việt Nam, dù chỉ là chống chủ nghĩa bá quyền Trung Cộng,
bị họ đối xử ra sao, chúng ta đều biết. Nguyên do là những
kẻ cầm đầu bộ máy chuyên chế Hà Nội rất sợ các cuộc
biểu tình”.
“Đa số các cuộc cuộc
cách mạng, dù ôn hòa đến bao nhiêu nhằm dân chủ hóa sinh
hoạt chính trị trong thời đại hiện nay, đều kết thúc
bằng các cuộc biểu tình của quần chúng nhân dân. Hiểu
rõ điều này nên chính quyền độc tài Hà Nội đã dùng mọi
mánh khóe đê tiện, tiểu nhân kể trên để triệt tiêu quyền
biểu tình của công dân, một thứ quyền mà hầu hết cộng
đồng nhân loại đã có từ hai, ba trăm năm nay, dù quyền
đó họ thừa nhận qua chữ ký của chính họ vào các văn
bản về quyền con người của Liên Hiệp Quốc”.
Mánh khóe đê tiện, tiểu
nhân ấy không những là sự thẳng thừng cấm đoán bằng
văn bản như nói trên mà còn hăm dọa bằng hành động khủng
bố nữa. Ngày 4-7-2008, cô Phạm Thanh Nghiên (một trong ba người
đứng tên đơn xin biểu tình) đã bị hành hung trên đường
Nguyễn Văn Linh (gần chân cầu vượt Lạch Tray, Hải Phòng)
bởi 4 thanh niên đi trên hai xe gắn máy. Trong lúc đánh đập
cô, bọn công an giả dạng đầu gấu này nói rõ: “Đây chỉ
là đòn đầu! Mày không bỏ chuyện chống đảng, chúng tao
còn trừng trị nặng hơn”. Bắt đầu từ sáng ngày 5-7, tư
gia của cô bị bao vây bằng lệnh miệng của công an: “Cấm
ra khỏi nhà đến ngày 16 tháng 7”. Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa
thì bị sách nhiễu. Chiều ngày 5-7, công an PA 25 Hải Phòng,
công an chính trị quận Kiến An đã dùng vũ lực để cưỡng
bức ông lên đồn. Tại đây ông được nghe lệnh miệng từ
họ, nội dung nghiêm cấm ra khỏi nhà từ ngày 6 đến ngày
16 tháng 7; nếu đi ra sẽ bị công an dùng vũ lực cưỡng bức
trở lại. Khi nhà văn yêu cầu được nhìn thấy luật đó
trên văn bản, tên gì, ai ký… thì họ trả lời: “Luật
này không có tên, không ai ký, không văn bản, nhưng rất thích
hợp để bảo vệ an ninh quốc gia, ai cũng phải tuân hành”
!!! Nhà văn lại nói: “Trong luật hình sự nước CHXHCNVN có
một điều khoản là công dân có quyền ngăn cản hành vi vi
phạm pháp luật, và tôi thực hiện cái quyền ấy, tức là
cá nhân tôi sẽ ngăn cản những hành vi của kẻ vi phạm pháp
luật”, họ liền lên giọng: “Công an vi phạm pháp luật
thì được chứ công dân như anh thì không thể. Và rằng đây
là lệnh của chúng tôi: anh không được thực hiện hành vi
ngăn cản việc vi phạm pháp luật của công an, rõ chưa?”
Hôm sau, ngày 6 tháng 7, nhà
văn đã thử xem lệnh miệng từ công an có hiệu lực hay không
bằng việc mời hai người bạn ra một quán nước chỉ cách
nhà 30m, lập tức có 2 công an thuộc phòng Pa 25 (quản lý văn
nghệ sỹ) và 2 công an chính trị quận Kiến An ngăn giữ bằng
những hành vi thô bạo.
3- Qua
lý thuyết lẫn thực tế tại Việt Nam hiện thời, qua văn
bản của nhà cầm quyền lẫn cách ứng xử của toàn thể
nhân sự bộ máy cai trị, qua nền lập pháp, tư pháp lẫn
hành pháp cấu kết nhau dưới tay đảng của chế độ CSVN,
với những thí dụ như vừa thấy trên kia và vô vàn vô số
sự kiện khác, chúng ta đều nhận thấy một điều: nền
pháp luật cộng sản có hai mục tiêu trước mắt: đối ngoại
là lừa gạt quốc tế, cho thiên hạ thấy nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cũng có pháp luật nghiêm minh,
chính đáng, cũng tôn trọng nhân quyền, bảo vệ dân chủ
như ai (CSVN chẳng thò tay ký Hiến chương Liên Hiệp Quốc
và Công ước Quốc tế nhân quyền đó sao?); đối nội là
đàn áp nhân dân bằng cả một rừng luật mang tính luật
rừng, dùng các văn bản dưới Hiến pháp để triệt tiêu
Hiến pháp, dùng quốc hội để làm những bộ luật chủ yếu
có lợi cho đảng, dùng tòa án để biện minh cho các cách
hành xử phi pháp của đảng và đảng viên, dùng bộ máy chính
quyền, công an, quân đội để khép nhân dân vào vòng kiềm
tỏa. Mục tiêu tối hậu của nền pháp luật ấy chính là
bảo vệ vĩnh viễn ngai vàng của đảng và của các đảng
viên cao cấp, bất chấp sự an nguy của nhân dân, sự tiến
thoái của xã hội và sự tồn vong của đất nước. Thử
hỏi một nền pháp luật như thế -cùng với bộ máy đẻ
ra và duy trì nó- có đáng được gọi là lưu manh chăng và
có đáng bị dẹp bỏ chăng?
|
|