Dù báo thân của Đức
Tăng Thống Thích Huyền Quang đã an nhiên thị tịch vào lúc
13 giờ ngày 05/07/2008 tại tu viện Nguyên Thiều – Bình Định.
Nhưng Tâm Hạnh Bồ Tát của Ngài vẫn còn đây. Còn trong mỗi
chúng ta, những người quyết đấu tranh cho tự do tôn giáo,
nhân quyền, dân chủ, và sự nghiệp giành độc lập cho Việtnam.
Còn trong tâm tư tình cảm của Tăng, Ni, Cư Sĩ Phật Giáo Việtnam.
Còn trong sự kính trọng của những người hiểu biết trên
thế giới, đã cảm thông với hoàn cảnh bị đầy đọa khắc
nghiệt của Ngài dưới chế độ Việtcộng. Còn đối với
Việtcộng và bọn tay sai, vì ảnh hưởng của Ngài vẫn là
mối đe dọa cho quyền vị gian tà của họ, nên họ âm mưu
giành làm tang lễ cho Ngài, với hy vọng hão huyền là muốn
chôn luôn tinh thần vô úy, đấu tranh bất khuất của Ngài
theo với báo thân giả tạm nơi Ngài. Nhưng tâm hạnh của
Ngài đã là Tâm Hạnh Bồ Tát, sẽ mãi mãi vẫn còn đây
Ngài là tấm gương “Đấu tranh kiên cường mà không thù
hận.” Dù đối với thế lực vô minh độc ác tàn nhẫn
nhất thế giới là Cộng Sản Việt Nam thì Ngài cũng chỉ
xem đó như một con bệnh nguy hiểm cần phải thuốc thang đối
trị. Ngài là người tù của Việtcộng, ngay trong thời kháng
chiến chống Thực Dân Pháp. Rồi sau khi Việtcộng chiếm miền
Nam, Ngài trở thành “người tù không án” cho tới hơi thở
cuối cùng.
Cũng như bao nhiêu thanh niên
yêu nước, khi chưa biết cộng sản là bọn đã cướp danh
nghĩa “giành độc lập dân tộc” để lãnh đạo cuộc kháng
chiến của toàn dân, Ngài Huyền Quang đã tham gia kháng chiến
tại Liên Khu 5, với chức Phó Chủ Tịch, kiêm Tổng Thư
Ký Phật Giáo Cứu Quốc Liên Khu. Đầu năm 1951, bọn Việt
Minh chuẩn bị hiện nguyên hình cộng sản. Ủy Ban Kháng Chiến
Liên Khu, tuyên bố: “Sinh hoạt Phật Giáo phải theo mô
thức Hội Đoàn.” Ngài lên tiếng phản đối rằng: “Phật
Giáo chúng tôi là một tôn giáo quy tụ đủ mọi thành phần
trí thức, nông dân, nam, phụ, lão, ấu, không thể xem như
hội đoàn.” Ngài liền bị bắt giam 4 năm, chỉ được thả
ra một tháng trước ngày đình chiến 20/07/1954.
Trong cuộc Vận Động Bình
Đẳng Tôn Giáo 1963, Phật Giáo đòi chính quyền VNCH xóa bỏ
Dụ số 10, vốn là sản phẩm của thời Pháp thuộc, Phật
Giáo bị liệt vào quy chế Hiệp Hội. Ngài Huyền Quang giữ
chức Tổng Thư Ký kiêm Trưởng Khối Soạn Thảo Tài Liệu
Đấu Tranh của Ủy Ban Liên Phái. Đêm 20/08/63, Ngài cùng hàng
ngàn Tăng, Ni bị bắt. Sau chính biến 01/11/63, mới được
tự do. Dụ số 10 bị bãi bỏ. Năm 1964, Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất chính thức ra mắt, trở thành một Tôn
Giáo Dân Lập, với đầy đủ tính cách pháp nhân. Trong Đại
Hội Phật Giáo toàn quốc đầu tiên, được tổ chức tại
Sàigòn từ 31/12/63 đến 04/01/1964, Ngài được cung thỉnh giữ
chức Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo kiêm Tổng Vụ Trưởng Tổng
Vụ Cư Sĩ, cho đến Đại Hội kỳ 6, ngày 27/12/74, Ngài được
cung thỉnh giữ chức Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo
và Ngài Thích Quảng Độ giữ chức Tổng Thư Ký VHĐ.
Từ sau 1975, Việtcộng chiếm
được Miền Nam, với chủ trương tiêu diệt các tôn giáo.
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cùng chung số phận.
Tất cả các cơ sở của Giáo Hội, như chùa viện, trường
học, cơ sở văn hóa, từ thiện đều bị tịch thu. Tăng,
Ni bị khủng bố, bắt hoàn tục, khiến cho 12 Tăng, Ni phải
tự thiêu tập thể tại Thiền Viện Dược Sư ở Cần Thơ
vào ngày 02/11/75. Hai Ngài Huyền Quang, Quảng Độ cùng chư
tôn đức Tăng, Ni, Phật Tử phát động phong trào đòi hỏi
nhà nước Việtcộng phải hoàn trả những tài sản tịch
thu của Giáo Hội. Cuộc đấu tranh bị đàn áp. Ngày 06/04/1977,
Ngài cùng với Ngài Thích Thiện Minh cố vấn Chỉ Đạo VHĐ,
Ngài Quảng Độ và một số Tổng Vụ Trưởng khác, bị Việtcông
bắt giam 18 tháng tù. Năm 1981, Việtcộng thành lập Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam trực thuộc Mặt Trận Tổ Quốc của Cộng
Đảng. Ngày 25/02/82, Ngài bị bắt trục xuất khỏi Sàigòn
đem về quản chế tại chùa Phước Hội tỉnh Quảng Ngãi.
Còn Ngài Quảng Độ bị đem về quản chế tại quê hương
Thái Bình.
Việtcộng coi như đã xóa sổ
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất dân lập, chỉ còn
giữ lại một cái vỏ Phật Giáo là Giáo Hôị Phật Giáo
Việt Nam đảng lập, để làm công cụ toàn trị. Nhưng thật
bất ngờ đối với Vìệtcộng, từ trong nước, Hòa Thượng
Thích Đôn Hậu, Chánh Thư Ký xử lý Viện Tăng Tống, gửi
một bức Tâm Thư đề ngày 10/09/91, tiếp đó là Thông Điệp
ngày 31/10/1991, kêu gọi chư Tôn Đức và Phật Tử Hải
Ngoại cùng chung sức Phục Hoạt Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất. Ngày 23/04/1992, Hòa Thượng Thích Đôn Hậu
viên tịch tại chùa Thiên Mụ Huế. Ngài Huyền Quang từ chốn
lưu đầy Quảng Ngãi, xin đi dự đám tang, nhưng bị từ chối.
Ngài tuyên bố: “Nếu chính quyền Quảng Ngãi ngăn cấm
tôi ra Huế dự tang lễ, tôi sẽ tuyệt thực vô thời hạn
và sẵn sàng cúng dường thân này lên chư Phật…” Với
quyết tâm thành sức mạnh vô biên, Việtcộng đành phải
để Ngài đi. Trong lễ tang, Ngài quỳ nhận di chúc của Cố
Đại Lão Thích Đôn Hậu, cung thỉnh Ngài giữ chức vụ Xử
Lý Hội Đồng Lưỡng Viện, kiêm Quyền Viện Trưởng Viện
Hóa Đạo, để hướng dẫn việc đòi hỏi phục hồi quyền
sinh hoạt pháp lý cho Giáo Hội. Đến nay, khi Ngài viên tịch,
tuy quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo Hội chưa được trả
lại. Nhưng với bao nhiêu hy sinh gian khó của hàng Giáo Phẩm
và Phật Tử Việtnam trong và ngoài nước, thì thực tế Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã chủ động phục
hoạt, được toàn dân và toàn thế giới công nhận, không
có một thế lực vô minh nào có thể huỷ diệt nổi nữa.
Đến đây, có thể trả lời
với dư luận rằng: Tất cả những âm mưu đen tối từ trước
tới nay, nhằm quy kết cho các nhà lãnh đạo Phật Giáo đấu
tranh vì Dân Tộc và Dân Chủ ở Việtnam là cộng sản, đều
là do quỷ kế của các thế lực phản Dân Tộc, tay sai ngoại
bang và cộng sản. Vì nếu các lãnh tụ Phật Giáo thực
sự là cộng sản, hay tay sai Việtcộng thì làm gì Việtcộng
phài đẻ ra cái gọi là Giáo Hội Phật Giáo quốc doanh, để
rồi đẩy Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vào thế
đối đầu nguy hiểm cho Việtcông như hiện nay. Còn dư luận
đười ươi cứ cho rằng, Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang
là người có khuynh hướng muốn hòa hợp Phật Giáo trong nước
là môt sai lầm ngây thơ vô số tội. Ngay thời kháng chiến,
Ngài đã phản đối việc coi Giáo Hội là một Hội Đoàn.
Chính vì vậy mà năm 1981, Ngài và Ngài Quảng Độ đã quyết
liệt chống lại việc đặt Giáo Hội trong Mặt Trận Tổ
Quốc. Vậy, khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam còn bị nằm
trong Mặt Trận Tổ Quốc để làm công cụ cho Cộng Đảng,
mà bảo các Ngài phải hòa hợp với thứ giáo hội đó là
điều không tưởng. Chính các Ngài và cuộc Đấu Tranh Tự
Do Tôn Giáo của GHPGVNTN đang buộc Việtcộng phải dễ dãi
với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam của chính họ, và các Tôn
Giáo khác tại Việtnam. Đâu có phải Ngài Huyền Quang, Quảng
Độ và GHPGVNTN chỉ tranh đấu cho tự do phục hoạt của tôn
giáo mình, mà đang buộc Việtcộng vào thế phải Dân Chủ
Hóa chế độ, đúng với tâm nguyện của Đức Đệ Tứ Tăng
Thống Thích Huyền Quang và toàn dân hằng theo đuổi.
Little Sàigon ngày 08-07-2008.