Sau gần 10 năm
trời theo dõi, kể từ biến cố Tòa tháp đôi tại New York
bị đánh bằng “bom phi cơ” ngày 11-09-2001, Hoa Kỳ đã hạ
sát kẻ chủ mưu đã gây ra biến cố đó (và nhiều vụ việc
khác) là Osama bin Laden ngày 01-05-2011 mới rồi, trong một vụ
đột kích vào nơi y đang trú ngụ cùng gia đình tại Pakistan.
Công lý cuối cùng đã được thực thi cho hơn 3000 thường
dân vô tội và mở ra hy vọng mới thế giới từ nay sẽ có
thể sống yên bình.
Ngay sau khi tổng thống
Obama công bố sự việc, lãnh đạo của nhiều nước đã lên
tiếng chúc mừng nước Mỹ. Về phía Trung Cộng thì tại cuộc
họp báo thường lệ của Bộ Ngoại giao ngày 03-05, nữ phát
ngôn viên Khương Du nói rằng chủ nghĩa khủng bố là kẻ
thù chung của cộng đồng quốc tế, rằng Trung Quốc luôn
chống lại mọi hình thức khủng bố và tích cực tham gia
những nỗ lực chống khủng bố của toàn cầu. Nữ phát ngôn
viên của Việt cộng là Nguyễn Phương Nga liền sau đó cũng
nói y chang đàn anh (đàn chị): “Việt Nam phản đối chủ
nghĩa khủng bố và lên án các hoạt động khủng bố dưới
mọi hình thức”. Ôi, quả là những lời quá tốt đẹp !?!
Vậy là tên trùm khủng
bố số 1 của thế giới trong thế kỷ 21 đã đi xuống âm
phủ để hội ngộ với các tên trùm khủng bố bậc thầy
của thế kỷ 20, như lãnh tụ Quốc xã Adolph Hitler (giết 6
triệu người Do Thái), lãnh tụ độc tài Saddam Hussein (giết
hàng vạn người Kurde lẫn Iraq)… và nhất là với các lãnh
tụ Cộng sản mà Bin Laden phải bái làm sư phụ, trong đó
có Lenin -mới đây bị Giáo hội Chính thống Nga gọi là con
quái vật- Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Hồ Chí Minh… với
thành tích là chung tay hóa kiếp cho 100 triệu nạn nhân vô
tội, đồng bào ruột thịt của chính họ.
Thành thử chẳng lạ
gì mà cùng lúc với lời tuyên bố của nữ phát ngôn viên
Phương Nga nói trên, báo chí công cụ (theo thứ bản năng tàn
sát luôn nằm trong tâm hồn Cộng sản) nhân kỉ niệm 36 năm
ngày thống nhất đất nước, đã đăng tải nhiều bài ca
ngợi những thành tích khủng bố của VC trong thời kỳ chiến
tranh Quốc-Cộng. Chẳng hạn bài “Tôi ám sát người sắp
làm thủ tướng Sài Gòn”, đề cao chuyện 2 biệt động Sài
Gòn tên Hùng và Châu đã đặt bom giết chết giáo sư Nguyễn
Văn Bông, Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh, cố
vấn cho Tối cao Pháp viện, ủy viên Hội đồng Quản trị
Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Hoặc bài “Ký ức hào hùng”,
tường thuật chuyện một cô gái mang tên Trịnh Thị Thanh
Mão, người Quảng Trị, đi đánh bom khủng bố từ lúc 14
tuổi và tự khoe là đã từng mưu sát Tổng thống Nguyễn
Văn Thiệu nhưng bất thành.
Ngoài ra, báo chí công
cụ còn tiếp tục đại ngôn về cuộc chiến thắng Đế quốc
Mỹ xâm lược và bọn “ngụy quân, ngụy quyền”, vốn thực
chất là một cuộc khủng bố nhân dân cả hai miền Nam Bắc.
Quả thế, kể từ khi Hội nghị trung ương đảng ra Nghị
quyết “củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam” ngày 13-05-1959
đến khi kết thúc cuộc chiến vào ngày 30-04-1975, thì phe Cộng
sản đã bị chết trên 3 triệu người. Quảng Nam, Quảng Bình
thiệt hại nặng nhất, trung bình mỗi hộ một người. Phe
Cộng hòa có 300.000 quân nhân tử trận. (Theo bản công bố
của Bộ Lao động Thương binh Xã hội phổ biến ngày 14-12-1998
trên đài Hà Nội). Còn theo ông đảng viên phản tỉnh Nguyễn
Hộ trong “Quan Điểm và Cuộc Sống” thì cả hai miền Nam
Bắc đã chết trên 11 triệu người.
Nhưng đấy chỉ là nói
về cuộc chiến tranh Quốc-Cộng (Cộng sản xâm lăng-Quốc
gia tự vệ) thôi. Cuộc khủng bố nhân dân (Cộng sản nước
nào cũng chỉ sát hại đồng bào, rất hèn hạ) đã bắt đầu
trước đó nữa. Ai mà quên được chiến dịch đấu tố “cường
hào ác bá” tại Liên khu 4 (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên) năm 1953, cướp đi sinh mạng
hàng ngàn người vô tội! Ai mà không nhớ cuộc Cải cách
Ruộng đất ngày long trời đêm lở đất tại miền Bắc năm
1949-1956, giết hại trực tiếp và gián tiếp nửa triệu dân
lành trong chủ trương “trí phú địa hào, đào tận gốc,
trốc tận rễ”. Tiếp theo đó là cuộc khủng bố giới trí
thức trong vụ “Nhân văn Giai phẩm”, cuộc thanh trừng giới
đảng viên trong vụ “Xét lại chống đảng” cũng làm điêu
đứng cả hàng vạn gia đình và làm thui chột bao tài năng
của Dân tộc.
Song song đó, tại miền
Nam, Việt cộng chủ trương khủng bố dân lành để phô trương
thanh thế, gây hoảng loạn xã hội và phân tán sức chiến
đấu của binh sĩ VNCH. Vụ việc thì có hàng ngàn, không thể
gom hết vào vài trang giấy, nhưng danh sách một số vụ điển
hình vẫn còn có thể tìm thấy trên một số trang mạng. Ngoài
những vụ ám sát đặt mìn lẻ tẻ để giết những chính
khách, trí thức, nhà báo, thương gia nổi tiếng (như vụ Giáo
sư Nguyễn Văn Bông kể trên vào ngày 10-11-1971 và vụ ký giả
Từ Chung của báo Chính Luận ngày 30-12-1965), thì phải kể
đến một số vụ nổi bật về tính chất tàn ác được
báo chí trong và ngoài nước nhắc đến một thời như vụ
đánh bom nhà hàng nổi Mỹ Cảnh ở Sài Gòn (6-1965, 40 người
thiệt mạng và 40 người bị thương); vụ đặt bom sân vận
động Cộng Hòa, Sài Gòn (10-1965, 11 thường dân thiệt mạng,
42 bị thương); vụ thảm sát đồng bào Thượng tại Dak Sơn,
Dak Lak (12-1967, 252 người chết); vụ thảm sát dân lành Tết
Mậu Thân tại Huế (2-1968, 5000 người); vụ thảm sát tại
sân vận động Quy Nhơn (1-1972, 14 học sinh); vụ pháo kích
trường tiểu học Cai Lậy, Định Tường (3-1974, 34 học sinh
chết, hơn 70 em bị thương). Ghê gớm hơn nữa là nhờ “óc
sáng tạo cao độ” trong công tác “giết địch” (đỉnh
cao trí tuệ mà!), những tên khủng bố VC đã nghĩ ra cách
đánh bom kép để giết thêm đợt 2 khi nhân viên y tế, cảnh
sát đến hiện trường cứu người, như trường hợp tại
rạp hát Trưng Vương, Quy Nhơn và nhà hàng nổi Mỹ Cảnh...
Thế nên một cựu quân nhân Mỹ từng tham chiến tại Việt
Nam, ông Bill Laurie, khi đem so sánh thời gian và tính chất giết
người của khủng bố VC với khủng bố Al-Qaeda, đã thốt
lên rằng “VC chính là sư tổ của bọn khủng bố” (“mother
of all terrorism!”).
Nhưng chiến tranh xong,
CS vẫn tiếp tục chính sách khủng bố của mình bằng nhiều
kiểu khác: bằng “trại cải tạo” (trên 150 trại) dành
cho gần một triệu quân cán chính VNCH bị lừa đi “học
tập” (trong đó có khoảng 1/10 bỏ thây vì bị hành quyết,
trúng bom mìn hay lâm bệnh tật); bằng “khu kinh tế mới”
dành cho hàng triệu thị dân bị đuổi khỏi căn nhà êm ấm
hay xưởng quán ăn ra làm được của họ, để đến những
nơi khỉ ho cò gáy, nước độc rừng thiêng; bằng “cách
mạng xã hội” khiến cho cả mấy triệu người đành bỏ
nước ra đi vì không thể chịu nổi nhất là về mặt tinh
thần, dù phải băng rừng vượt suối, phơi thây trên biển
cả, tan nát cuộc đời trên vịnh Thái Lan; bằng “xuất khẩu
công nhân, phát triển công nghiệp” nhằm bán rẻ sức lao
động và cả nhân phẩm của hàng triệu thanh niên nam nữ
cho các xí nghiệp trong nước, các công ty ngoài nước, với
sự hỗ trợ của luật cấm đình công, của công đoàn bênh
đảng, của các tòa đại sứ chỉ biết hăm dọa người lao
động; bằng “vùng quy hoạch, khu chế xuất” nhằm tước
đoạt đất đai ruộng vườn của hàng chục triệu nông dân
hay lâm dân, khiến họ phải vất vưởng đầu đường xó
chợ, phải tìm đường lánh nạn qua lân bang, hay phải nổi
dậy đòi quyền sống để rồi bị đàn áp thẳng tay bằng
súng đạn (như tại Tây Nguyên năm 2001, 2004 và tại huyện
Mường Nhé, tỉnh Điện Biên trong những ngày này).
Chính sách khủng bố
nông dân và lâm dân này được hỗ trợ bằng một công cụ
pháp luật là “Siêu Luật đất đai 2003”, nguyên nhân chính
của tình trạng khiếu kiện liên tục, gay gắt, quyết liệt,
chết người suốt bao năm qua mà chưa có điểm dừng. Theo
tài liệu của Thanh tra Chính phủ, trong 5 năm (2006–2010) đã
có 1.574.750 lượt người đi khiếu kiện: có 1.515 đoàn đông
người, có đoàn đông tới 600 người. Họ mang theo cờ xí,
khẩu hiệu đến ngăn cản nơi giải phóng mặt bằng, bao vây
trụ sở tiếp dân của Quốc hội để tỏ rõ thái độ phản
đối quyết liệt đối với chính sách đất đai. Cuộc đấu
tranh khiếu kiện ấy hết sức gian khổ, tốn công, tốn của,
bị xua đuổi, bị giam cầm, bị đánh trọng thương, kể cả
bị vong mạng. Trong 5 năm, nhà cầm quyền CS đã giải toả
thu hồi đất 500.000 ha đất đai, đẩy 2 triệu 60 vạn dân
khỏi nơi chôn nhau cắt rốn, 87,5% người bị thu hồi đất
đều bị giảm thu nhập, nhiều kẻ không có nơi định cư,
màn trời chiếu đất. Nhiều khu vực định cư cũng là cuộc
sống đầy đọa, nhà cửa chật chội, không điện nước,
không đất canh tác, không nhà vệ sinh, chết chẳng có chỗ
chôn… nợ nần chồng chất, gia đình lục đục, tệ nạn
xã hội phát triển, con cái không được chăm sóc giáo dục.
(Theo dân oan khiếu kiện Bùi Như Thủy). Đúng là một kiểu
khủng bố trường kỳ!
Đối với những ai can
đảm đứng lên đòi quyền lợi, công lý, tự do cho mình và
cho đồng bào, đòi dân chủ cho xã hội, đòi vẹn toàn lãnh
thổ cho tổ quốc, thì CS khủng bố bằng chính Hiến pháp,
thông qua điều 4, bằng Luật hình sự, thông qua điều 79,
87 và 88, bằng công cụ chuyên chính, thông qua lực lượng
công an, an ninh dày đặc để sách nhiễu, quản chế, cầm
tù và thủ tiêu nếu cần. Cả hàng trăm trí thức yêu nước,
dân chủ đối kháng, dân oan đấu tranh đang bị những bản
án nặng nề, hay ít nhất bị bức bách, hăm dọa, quấy rối
cuộc sống, bị ép buộc phủ nhận việc làm của họ. Điển
hình gần đây là Luật sư Hà Vũ, là thi sĩ Bùi Chát, là sinh
viên Nguyễn Anh Tuấn, là mấy ngàn trí thức ký vào kiến
nghị trả tự do cho Ts họ Cù…
Lực lượng tôn giáo
cũng không khỏi bị khủng bố. Ngoài những lãnh đạo tinh
thần hay tín đồ giáo hữu đấu tranh cho tự do độc lập
của Giáo hội đang bị cầm tù, bị quản thúc, bị tống
khỏi nhiệm sở, thì còn có vô số lãnh đạo tinh thần khác
bị khống chế, bị bắt buộc phải làm những điều trái
lương tâm hay trái giáo luật. Cụ thể như phải dung túng
những thành phần biến chất, thỏa hiệp, hay thậm chí là
đảng viên ngầm trong lòng giáo hội, tại những chức vụ
quan trọng. Như phải để cho một số chức sắc tham dự trò
hề ngày 22-05-2011 sắp tới là ứng cử hội đồng nhân dân
toàn quốc, tỉnh thành, quận huyện dù trái luật đạo, dù
biết sẽ chỉ trở thành gia nô, dù quá rõ sự chống đối
chính đáng, sáng suốt và can đảm của đại đa số tín đồ.
Quả thật, Cộng sản
không bao giờ ngưng là lực lượng khủng bố, không bao giờ
muốn chịu thua ai về thành tích khủng bố và không bao giờ
thôi tìm những phương cách khủng bố ngày càng tinh vi và
thâm hiểm. Bởi nó là một chế độ cực quyền, độc tài,
toàn trị, mất hết tính người và tình người.