Cái gì sẽ xảy
ra nếu người ta chối bỏ sử dụng đồng tiền đang được
lưu hành?
Các chính phủ thường
dễ bị lôi cuốn vào việc chi tiêu quá tay. Vào thời đại
hôm nay, điều đó có nghĩa là những gánh nợ chồng chất
và những phương thức làm giảm nhẹ gánh nặng. Nhưng cách
nay vài trăm năm thì người ta tìm cách giảm giá thành việc
đúc đồng tiền kim loại.
Sau mỗi vòng lưu hành,
quay vòng về tay nhà nước thì đồng tiền kim loại bằng
vàng và bạc được "cắt xén" đi, mỗi lần một chút - hoặc
là được nấu chảy và được đúc lại với lượng quý
kim giảm đi, nhỏ hơn giá trị được in trên đồng bạc.
Với cách làm này thì cùng một lượng quý kim, nhà nước
có thể đúc ra được nhiều đồng bạc hơn, tức là có thêm
tiền cho ngân khố.
Kết quả là những đồng
bạc tuy được lưu hành với cùng mệnh giá, nhưng chưa chắc
là chúng có cùng giá trị. Và điều này đưa đến một hiện
tượng thật ngộ nghĩnh. Khi người ta biết được có 2 loại
đồng tiền "tốt" và "xấu" đang được lưu hành cùng một
lúc, thì người ta có khuynh hướng tiêu xài đồng tiền xấu
và cất giữ đồng tiền tốt đi. Chẳng bao lâu sau thì những
đồng tiền tốt đều biến mất, chỉ còn lại những đồng
tiền xấu được lưu hành.
Hiện tượng này được
gọi là quy luật Gresham, lấy từ tên của Sir Thomas Gresham,
là chuyên gia tài chánh vào thế kỷ 16. Nói một cách đơn
giản theo quy luật Gresham thì "đồng tiền xấu nuốt chửng
đồng tiền tốt", và điều này không còn gì gọi là mới
mẻ nữa. Ngày nay Quy luật Gresham vẫn còn đó và vẫn đang
hiện diện tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Việt Nam là một trường
hợp kinh điển. Nền kinh tế Việt Nam hôm nay sử dụng 3 loại
tiền tệ. Đồng tiền lưu hành chính thức là tiền Đồng.
Ngoài ra còn có tiền Đô la Mỹ, là loại tiền tệ được
người dân tin tưởng hơn. Và kế đến là Vàng.
Vàng thật sự là một
vấn đề lớn ở Việt Nam. Tính trung bình theo tỷ lệ lợi
tức đầu người, thì người Việt Nam sử dụng đồng tiền
kiếm được để mua vàng, nhiều hơn bất cứ nơi nào trên
thế giới. Tổng khối lượng vàng mà họ mua vào, chiếm 3.1%
GDP của năm ngoái, trong khi đó, nếu so sánh với Ấn Độ
thì con số đó là 2.5% và Trung Quốc thì chưa đến 0.4% GDP.
Theo ông Huỳnh Trung Khánh,
Phó Chủ tịch Hiệp hội kinh doanh Vàng Việt Nam, thì Việt
Nam hiện có khoảng 500 tấn vàng (có giá trị khoảng 24 tỷ
đô la) được lưu thông, hoặc cất giữ trong dân chúng. Vàng
được giấu dưới gầm giường, được chôn sau vườn. Người
ta không chỉ mua vàng để thủ, mà còn sử dụng làm phương
tiện trao đổi. Đó là lý do tại sao trong việc mua bán hằng
ngày, vàng còn là một loại tiền tệ.
Ở Việt Nam, bạn có
thể đem vàng vào ngân hàng ký thác để kiếm lời. Người
ta ra giá nhà bằng vàng và trả tiền mua nhà bằng những lượng
vàng (tương đương 1.2 lượng vàng tây). Điềy này lý giải
được tại vì Việt Nam là một quốc gia sử dụng lượng
tiền giấy to lớn. Một căn nhà có giá 4 tỷ đồng, là cả
một lượng tiền giấy to lớn phải đếm, kiểm tra.
Trong khi người dân yêu
thích vàng như vậy thì ngân hàng nhà nước lại trái ngược.
Trong những năm gần đây, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã
ra nhiều nghị định và thông tư, dù có chủ tâm hay vô tình,
đã xâm hại đến vai trò của vàng trong hệ thống tiền tệ:
* Tháng 6 năm 2008: Cấm
nhập vàng (mặc dầu vàng nhập lậu vẫn tiếp diễn);
* Tháng 3 năm 2010: Ngưng
trao đổi, giao dịch vàng trên sàn chứng khoán;
* Tháng 10 năm 2010: Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN) ra Thông
Tư số 22, quy định về huy động và cho vay vốn bằng
vàng của tổ chức tín dụng.
* Tháng 5 năm 2011: NHNNVN
ra quy định cấm các hình thức giao dịch, cho vay bằng vàng
miếng.
Quy định mới nhất
có mục đích chấm dứt các giao dịch của ngân hàng, trả
lãi bằng vàng (có lẽ nhà nước hy vọng rằng người dân
sẽ thay thế việc sử dụng vàng trong giao dịch bằng tiền
giấy). Cho đến thời điểm này, các ngân hàng thi nhau ra các
loại lãi xuất cho loại sổ tiết kiệm ký gởi bằng vàng.
Tiền vàng này lại được tiếp tục xoay vòng bằng cách cho
vay mượn thông qua các khoản vay tiền đồng, và đem tiền
đi mua vàng từ các ngân hàng nước ngoài.
Đây là hình thức hoạt
động kinh doanh rất có lãi của các ngân hàng bởi vì lãi
xuất trong nước khá cao, đủ để chi trả các khoản và tiền
lãi cho người ký gởi. Đây là một hình thức buôn tiền,
vay mượn vàng (từ người ký thác) với giá rẻ rồi cho vay
lại với giá cao hơn.
Tuy nhiên, kể từ ngày
1 tháng 5, các ngân hàng sẽ bị cấm giao dịch bằng vàng.
Và từ tháng 5 năm 2013, các ngân hàng sẽ phải chấm dứt
việc trả lãi bằng vàng đối với các tài khoản ký thác
bằng vàng.
Động thái này có thể
gây ra nhiều tranh cãi. Như vậy bạn có thể hình dung rằng,
với nguồn cho vay bị chận, thì sẽ không còn tiền bạc trong
đó nữa. Lãi xuất trần cho vàng rớt thê thảm.
Vậy thì tại sao phải
thay đổi luật xoành xoạch như vậy? Bởi vì, nhà nước nhận
ra rằng vàng là "tác nhân gây rối" - làm cho nền kinh tế
vốn dĩ đã rối rắm, càng trở nên rối rắm hơn.
Chúng ta hãy nhìn vào
các vấn đề gây khó khăn cho Việt Nam:
1/. Thâm thủng ngân sách
cao và trên đà gia tăng - Thâm thủng ngân sách năm 2010 vào
khoảng 12% trên GDP. Tệ hơn nữa là con số này lên cao hơn
trong 4 tháng đầu năm nay.
2/. Lạm phát gia tăng
- những con số mới nhất do Tổng cục Thống kê VN đưa ra
cho thấy chỉ số lạm phát hàng tiêu dùng CPI tăng một cách
phi mã đến lên đến 17.5%, mặc dù đã có chính sách thắt
chặt tiền tệ.
3/. Giá trị tiền đồng
tụt giảm - Tiền Đồng đã bị phá giá 6 lần kể từ tháng
6 năm 2008. Lần mới đây nhất là vào hôm 11 tháng 2 năm nay,
khi nó rớt giá 8.5%.
Nghe rất quen thuộc thì
phải? Cách mà NHNNVN nhìn thấy là, việc người dân đổ xô
đi mua vàng đã khiến cho tình hình càng tồi tệ hơn. Nhập
khẩu vàng càng làm cho vấn đề thâm thủng ngân sách trở
nên tệ hại hơn (Việt Nam không khai thác được vàng). Do
đó, việc mua vàng càng làm cho tiền Đồng suy yếu hơn, khiến
lạm phát gia tăng phi mã. Việc sở hữu vàng (và kể cả tiền
Đô) làm xói mòn chính sách tiền tệ của NHNNVN, bởi vì lãi
xuất đưa ra chỉ áp dụng cho tiền Đồng.
Nhưng chúng ta cũng không
thể đổ lỗi cho người dân Việt Nam về việc mua bán và
trữ vàng, nhất là khi mà tiền Đồng bị mất giá đến 17.5%.
Theo cách này, thì việc sở hữu vàng là một hệ quả tất
yếu của tình hình kinh tế. Cách duy nhất mà NHNNVN có thể
làm để người dân thấy được cái lợi trong việc giữ
tiền Đồng là phải nâng lãi xuất lên cao hơn mức lạm phát,
và như vậy thì người dân mới thấy có lợi. Nhưng như vậy
thì lãi xuất phải tối thiểu là 20%. Việc làm này sẽ đánh
mạnh vào nền kinh tế, có thể làm cho tiền Đồng lên giá,
nhưng đồng thời cũng sẽ khiến cho thâm thủng ngân sách
trở nên tệ hại hơn.
Một mặt không thể
làm cho người dân thấy được cái lợi trong việc giữ tiền
Đồng, mặt khác nhà nước gây phương hại đến chức năng
tiền tệ của vàng. Chắc chắn là không được. Người ta
chỉ thích ôm giữ vàng bởi vì tiền Đồng không làm tròn
chức năng tiền tệ của nó. Giá trị của nó quả là tệ
hại.
Đó là lý do tại sao
người Việt vẫn tiếp tục ôm giữ tiền "tốt" (Vàng),
trong khi đưa đẩy tiền xấu lòng vòng. Quy luật Gresham đã
tiên đoán như vậy rồi.
Việt Nam cứ lẩn quẩn
với cái vòng lạm phát - rồi phá giá đồng tiền. Người
dân bình thường không thể tin vào giá trị của tiền giấy
có thể làm gì khá hơn được. Điều này làm giảm giá đồng
bạc so với các loại tiền tệ khác. Giá trị của nó cũng
bị giảm so với hàng hóa và dịch vụ, có nghĩa là giá cả
gia tăng. Tất cả mọi thứ làm cho tiền Đồng không được
ưa chuộng,...
Cái vòng lẩn quẩn quái
ác này có khi nào lại xảy ra với đồng Đô Mỹ, đồng Pound
Anh hay đồng Eurô không? Rất có thể đang xảy ra. Giá vàng
và bạc đã tăng nhanh trong thập niên qua đối với tất cả
các tiền tệ vừa kể, và đặc biệt là đối với đồng
Đô trong năm nay 2011. Điều này cho chúng ta biết rằng cũng
có nhiều người Tây phương, cũng như người Việt, rất sẵn
lòng muốn đổi tiền giấy để lấy quý kim.
Nếu đồng Đô và những
người anh em họ bạc giấy khác tiếp tục suy yếu, thì người
ta lại thích dồn tiền tiết kiệm vào "đồng tiền tốt",
như hai quý kim vàng và bạc. Rõ ràng đó là Quy Luật Gresham.
Ben Traynor
(Nguồn: Daily
Reckoning Australia)
Lê Minh phỏng dịch.