Thời
cơ cho cuộc cách mạng
dân
chủ tại Việt Nam đã đến?
Nguyễn Hội
Gần đây có một vài bàn
cãi về cuộc cách mạng Việt Nam đã chín muồi hay chưa. Với
bài phân tích ngắn này tác giả muốn cùng quí vị phân tích
đời sống người dân Việt Nam về mặt vật chất cũng như
tinh thần, nhận xét về đảng, nhà nước cộng sản và tình
hình thế giới ngày nay. Cuối cùng là phần kết luận, cuộc
cách mạng tại Việt Nam đã chín muồi hay chưa và điều kiện
nào để cuộc cách mạng được thành công.
Việt Nam là một trong
những dân tộc nghèo nhất thế giới
Theo Quĩ Tiền Tệ Quốc
Tế (International Monetary Fund) trong cả năm 2010 mỗi người
Việt Nam làm ra bình quân được 1.155 Mỹ kim (GDP đầu người),
trong khi đó CIA World Factbook báo cáo là 1.100 Mỹ Kim và xếpViệt
Nam vào hạng thứ 151 trong số 191 nước trên thế giới được
so sánh. Người dân nước Qatar có mức GDP cao nhất thế giới
với 150.429 Mỹ kim mỗi người, gấp 136,75 lần người Việt
Nam.
Đó chỉ là những con
số bình quân cho cả nước. Trên thực tế sự phân phối
mức thu nhập tại Việt Nam chênh lệch rất rõ rệt. Dựa
theo báo cáo của Bộ Thương Binh và Xã Hội được đăng vào
ngày 29/07/2008 trên trang mạng http://taichinh.saga.vn/kinhte/7526.asset
thì „khoảng cách giữa mức thu nhập của các nhóm lao
động đang ngày càng có sự chênh lệch rõ nét, đặc biệt
là ở các thành phố lớn. Tại Hà Nội, chênh lệch giữa
người có tiền lương cao nhất so với mức trung bình là 42
lần (75,2 triệu đồng/tháng so với mức bình quân 1,8 triệu
đồng/tháng). Tại Tp.HCM, con số chênh lệch còn lên đến
109 lần (240 triệu đồng/tháng so với 2,2 triệu đồng/tháng)“.
Những con số được
nêu trong bản báo cáo trên đây chỉ là mức thu nhập chính
thức, nguồn thu nhập do „chức vụ đem đến“ còn cao hơn
nhiều, các chuyên gia rất khó có thể ước đoán chính xác
được nguồn thu nhập này của cán bộ. Một điều mà không
ai có thể tranh cãi được là chức vụ càng lớn thì mức
thu nhập do „chức vụ đem đến“ càng cao. Việc chạy chức
chạy quyền do đó rất phổ biến trong xã hội Việt Nam hiện
nay, hai vụ điển hình đang nóng bỏng của ông bộ trưởng
nội vụ Trần văn Tuấn và của ông thứ trưởng bộ ngoại
giao Nguyễn Thanh Sơn được chứng minh rõ ràng trên trang mạng
của văn phòng luật sư Vì Dân. Do đó thành phần giàu có
nhất trong xã hội Việt Nam hiện nay là cán bộ, đảng viên
cộng sản và sự giầu có của họ được đo lường bởi
chức vụ trong đảng và nhà nước.
Bản tường trình nêu
trên còn cho biết: „Nhóm có thu nhập thấp là công nhân
lao động đang làm việc trong các khu công nghiệp, doanh nghiệp
nước ngoài, với khoản thu nhập khoảng 1,2-1,4 triệu đồng/tháng;
thu nhập của công nhân tại các doanh nghiệp khu vực kinh tế
ngoài nhà nước chỉ vào khoảng 900 nghìn đồng - 1,1 triệu
đồng/người/tháng“.
Cuối cùng bài báo cáo
đã kết luận rằng: „Trong tình cảnh lạm phát, nhóm chịu
ảnh hưởng nặng nề nhất chính là công nhân lao động, với
mức thu nhập trên dưới 1 triệu đồng/tháng.“.
Đúng thế, lạm phát
gia tăng rất cao trong những năm vừa qua, giá cả các sản
phẩm tiêu dùng tăng trong năm 2008 là 24,4% và trong năm 2010
11,8%. Giá thực phẩm tăng cao hơn các sản phẩm tiêu thụ
khác, năm 2008 giá thực phẩm tăng gần 40% và năm 2010 20%.
Dựa trên báo cáo về lạm phát tại Việt Nam lấy từ hai
trang mạng https://www.cia.gov/
và http://www.indexmundi.com/vietnam/inflation_rate_%28consumer_prices%29.html
nếu một công nhân vào đầu năm 2008 có lương hàng tháng
là 1 triệu đồng thì số tiền này chỉ còn giá trị 620.000
đồng vào đầu năm 2011. Muốn duy trì được đời sống tương
tự như năm 2008 người công nhân này phải có mỗi tháng lương
ít nhất là 1.620.000 đồng, đối với những gia đình lao động
chủ yếu dùng đồng lương để mua thực phẩm để sống
thì phải cần tối thiểu mỗi tháng 3,1 triệu đồng vào đầu
năm 2011 thì mới có thể mua được tương đương số lượng
thực phẩm mà họ đã mua vào đầu năm 2008. Liệu lương bổng
có được tăng theo kịp với mức độ tăng của lạm phát
hay không? Nếu lương tăng không kịp lạm phát thì đời sống
người dân ngày càng thấp đi. Còn nếu lương công nhân tăng
cao như mức độ lạm phát tại Việt Nam trong những năm qua
thì sản phẩm lại càng đắt hơn và lạm phát lại càng cao
hơn nữa. Việt Nam đang vướng trong vòng luẩn quẩn khó lòng
giải quyết được vấn đề.
Thành phần ảnh hưởng
nặng nề hơn công nhân và chiếm đa số trong xã hội Việt
Nam là nông dân với mức thu nhập ít ỏi nhất so với các
thành phần khác. Theo bản báo cáo về kinh tế Việt Nam của
Toà Đại Sứ Đức tại Hà Nội, năm 2009 tổng số 65% dân
Việt Nam làm việc và sinh sống trong ngành nông nghiệp
và ngành này chỉ đạt được 21% tổng sản lượng quốc
gia (GDP). Nghĩa là thiểu số còn lại 35% làm ra được và
sinh sống với 79% GDP. Với những con số trên cho thấy, đời
sống nông dân bình quân chỉ bằng 1/7 đời sống những
thành phần khác trong xã hội Việt Nam ngày nay mà thôi. Nghĩa
là thu nhập bình quân trong năm 2009 của mỗi người nông dân
là 275 USD, mỗi ngày 75,3 Cent Mỹ kim.
Tóm lại tính bình quân
đầu người, Việt Nam đã là một trong những nước nghèo
khổ nhất thế giới. Sự chênh lệch về thu nhập rõ rệt
của các thành phần trong xã hội Việt Nam đưa đến tình
trạng khốn khổ của ít nhất 65% dân số Việt Nam. Họ sống
bình quân mỗi ngày vỏn vẹn chỉ với 75 Cent Mỹ kim.
Việt Nam là một trong
những dân tộc có điều kiện phát triển tinh thần thấp
nhất thế giới
Ngoài vật chất để
nuội dưỡng cơ thể, con người còn có những đòi hỏi về
mặt tinh thần như được xã hội tôn trọng, được tự do
suy nghĩ và thực hiện ước muốn của mình, có điều kiện
phát triển như những thành viên sống cùng trong xã hội vv...
Đời sống tinh thần của người dân trong một nước có thể
đánh giá qua một vài tỷ số quốc tế như chỉ số dân chủ
(Democracy Index), chỉ số đàn áp những người theo đạo Thiên
Chúa Giáo (World Watch List), chỉ số tự do ngôn luận, báo chí
(Press Freedom Index), chỉ số tham nhũng (Corruption Perception Index),
chỉ số phát triển con người vv… Để giúp độc giả nhận
xét rõ ràng hơn tình hình Việt Nam, xin mạn phép được làm
một cuộc so sánh các tỷ số nêu trên của Việt Nam với
hai nước vừa hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ là Tunisia
và Ai Cập vì người dân hai xứ này bất mãn về đời sống
vật chất cũng như tinh thần do hậu quả của chế độ độc
tài đem đến:
|
Loại chỉ số
|
Việt Nam
|
Tunisia
|
Ai Cập
|
Chỉ số dân chủ 2010
(Democracy Index) |
140
|
144
|
138
|
Chỉ số đàn
áp người Ki Tô Giáo 2011
(World Watch List) |
18
|
37
|
19
|
| Chỉ số thanh bạch,
không tham nhũng 2010 (Corruption Perception Index) |
116
|
59
|
98
|
Chỉ số phát triển
con người 2010
(Human Development Index) |
113
|
81
|
101
|
Chỉ số tự do báo
chí 2010
(Press Freedom Index) |
165
|
164
|
127
|
| GDP đầu người 2010
(IMF) |
1155
|
4160
|
2777
|
Về chỉ số dân chủ
Việt Nam và hai nước suýt soát nhau. Ai Cập hơn Việt Nam hai
hạng và Việt Nam hơn Tunisia 4 hạng. Các chỉ số khác
Việt Nam thua kém hai nước Tunisia và Ai Cập. Dân chúng hai
nước này than phiền đời sống vật chất thiếu thốn, khổ
cực, tham nhũng chế ngự xã hội không cho họ có cơ hội
phát triển nên họ phải bằng mọi cách giành lại cho bằng
được quyền người dân cho bản thân mình, cho người thân
và cho con cháu sau này dẫu họ có phải hy sinh mạng sống.
Về khả năng thanh bạch, không tham nhũng Việt Nam đứng hạng
thứ 116 trong khi Tunisia đứng hạng thứ 59 và Ai Cập hạng
thứ 98. Qua đó, điều kiện phát triển của người dân trong
xã hội Việt Nam hiện nay thua kém hai nước Tunisia và Ai Cập.
Những con số được
đem ra phân tích cho thấy dân Việt ngày nay không chỉ nghèo
nàn về vật chất mà còn thiếu thốn điều kiện phát triển
tinh thần và đời sống tinh thần của họ bị áp bức, kềm
kẹp. Sau đây chúng ta cùng nhận xét về tình trạng hiện
nay của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam.
Mâu thuẫn trầm trọng
giữa lý thuyết và thực tế của đảng cộng sản
Theo điều lệ, đảng
cộng sản Việt là „đại biểu trung thành lợi ích của
giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc
(*)“. Kết quả phân tích của phần đầu tiên là công
nhân cùng nông dân là thành phần nghèo khổ nhất trong xã
hội Việt Nam ngày nay mà đảng cộng sản Việt Nam là „đại
biểu trung thành lợi ích (*)“ của họ.
Mục đích của đảng
cộng sản Việt Nam được ghi trong điều lệ là „xây
dựng xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc
lột người (*)“, nhưng trên thực tế, đảng và nhà nước
đã phân hoá xã hội Việt Nam một cách trầm trọng.
Xã hội Việt Nam ngày nay có hai giai cấp rõ rệt, một bên
là cán bộ đảng và nhà nước là những người đã từng
thề hứa „đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân
(*)“ nhưng trên thực tế là những kẻ hống hách, hạch
sách đủ điều mỗi khi dân chúng cần cần đến, họ làm
việc ung dung trong những toà nhà mát mẻ có máy điều hoà,
sống xa hoa dư thừa vật chất với nhà
lầu, xe hơi nhưng nếu cần vẫn có giấy chứng nhận là hộ
nghèo. Qua đó, họ là thành phần thống trị xã hội Việt
Nam ngày nay.
Giai cấp thứ hai bao
gồm đại đa số người dân, mặc dù họ phải làm việc
khổ cực từ sáng sớm đến chiều tối với điều kiện
khắc nghiệt nhưng vẫn không đủ nuôi bản thân và gia đình,
con cái không có được điều kiện học hành như con cháu
của cán bộ, đảng viên. Lý do thứ nhất là nhà nước đối
xử không công bằng giữa các thành phần trong xã hội, hậu
đãi con cháu cán bộ, đảng viên. Lý do thứ hai là thành
quả lao động của giới công nhân, giới lao động và nông
dân phải chia chác cho thành phần thống trị được nêu trên,
thành phần này là những chủ tịch, những giám đốc, những
trưởng phòng vv… là những thành phần có mức thu nhập cao
được nêu trong bài „Khoảng
cách giàu nghèo tại Việt Nam ngày một rõ nét“ .
Đảng viên, cán bộ
bị sa đọa, biến chất
Khác với thế hệ cha
anh luôn hô hào „đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm
lược, xoá bỏ chế độ thực dân, phong kiến…(*)“ thế
hệ người cộng sản Việt Nam ngày nay đắm chìm trong vật
chất, buôn bán chức vụ, danh vọng, ăn chơi phóng túng…
Giá trị con người của họ không còn đánh giá bằng sự
„phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng1“ mà bằng
chức tước, danh vọng, bằng gia tài kếch sù.
Người cộng sản
gặp khó khăn lớn về kinh tế
Từ hơn 10 năm nay, đảng
và nhà nước cộng sản chủ trương chạy theo tăng trưởng
thay vì xây dựng một nền kinh tế vững chắc. Để đạt
chỉ tiêu tăng trưởng họ khuyến khích các công ty nhà nước
vay nợ ngân hàng để đầu tư, một số công ty nhà nước
lớn như Vinashin vay nợ các ngân hàng quốc tế. Do tham nhũng
và quản lý yếu kém nhiều công ty nhà nước lỗ vốn cao
và không thể trả được nợ. Nền kinh tế Việt Nam tuy có
phát triển đều đặn hàng năm nhưng sự phát triển không
xuất phát từ sản xuất, từ yêu cầu tiêu thụ của người
dân mà từ những món nợ đầu tư. Con số đầu tư hàng năm
chiếm hơn 40% tổng số GDP của Việt Nam.
Tương tự như Hy Lạp,
nền kinh tế Việt Nam có hai trở ngại lớn là thiếu hụt
cán cân thanh toán và thiếu hụt ngân sách quốc gia. Nhiều
chuyên gia dự đoán một cuộc khủng hoảng tài chánh sẽ xảy
ra tại Việt Nam trong thời gian gần đây.
Cuộc đàn áp đẫm
máu khó xảy ra khi người Việt Nam cùng vùng lên đòi dân
chủ
Năm 1989 các nước Âu
Mỹ thèm thuồng cái nhu cầu tiêu thụ của 1,3 tỷ dân Trung
Quốc nên họ đã „bán rẻ lương tâm“ chấp nhận sự đàn
áp tàn bạo những người biểu tình trên quảng trường Thiên
An Môn hầu được phép vào thị trường Trung Quốc bán và
sản xuất hàng hoá hầu kiếm lợi nhuận. Nhưng năm 2010 Google
đã bất chấp những thiệt hại lớn lao mạnh dạn rút ra
khỏi Trung quốc vì không chấp nhận sự kiểm soát của nhà
cầm quyền đương thời. Tình thế đã thay đổi các nhà doanh
thương đã thu thập nhiều kiến thức về con người và thị
trường Trung quốc, chiếc bánh vẽ Trung quốc của những năm
cuối thập niên tám mươi đã được các doanh nhân phương
Tây sờ mó và cắn thử. Nó không ngọt ngào như cái vẻ nhìn
bề ngoài được trang điểm khéo léo. Mặt khác, Trung Quốc
ngày nay lệ thuộc vào xuất cảng, người Trung quốc sẽ thất
nghiệp nếu các nước không mua hàng hoá của Trung quốc nữa.
Điều này đã chứng minh qua cuộc khủng hoảng năm 2008 khi
sản xuất tại Trung quốc bị đình trệ do Hoa Kỳ và Âu Châu
ít đặt hàng hoá nên các hãng xưởng tại Trung quốc đã
sa thải nhân công gây ra những cuộc biểu tình bạo động
của những người bị thất nghiệp ở nhiều thành phố tại
Trung quốc. Nhưng cái may cho nhà cầm quyền Trung quốc là cuộc
động đất vào cuối năm 2008 đã làm ngưng các cuộc biểu
tình vì người dân phải tập trung lo cho vấn nạn mới.
Việt Nam là nước nhỏ
với gần 90 triệu dân, Việt Nam lệ thuộc hoàn toàn vào nước
ngoài về mặt kinh tế. Khi một cuộc đàn áp đẫm máu xảy
ra đàn áp người dân Việt vùng lên đòi dân chủ, dân quyền
chắc chắn các nước dân chủ trên thế giới sẽ không làm
ngơ như vụ Thiên An Môn..
Lãnh tụ cộng sản Việt
Nam có nhiều doanh vụ làm ăn với thương gia nước ngoài,
đầu tư hoặc gửi tiền ở nước ngoài. Chắc chắn họ sẽ
không có những hành động thiếu khôn ngoan là ra lệnh cho
công an và quân đội đàn áp đẫm máu người dân vô tội
để phải chịu những hình phạt nặng nề trong suốt cuộc
đời còn lại.
Giả sử, lãnh tụ đảng
và nhà nước ra lệnh đàn áp đẫm máu cuộc xuống đường
của hàng vạn người tay không đứng lên đòi hỏi quyền
được làm ăn, sinh sống bình đảng trong xã hội, đòi hỏi
quyền tự quyết mà không bị đảng và nhà nước bảo hộ
vv…Việt Nam chắc chắn sẽ bị các nước dân chủ trên thế
giới phong toả về mọi mặt, đặc biệt về mặt kinh tế.
Sự kiện này Việt Nam đã có kinh nghiệm sau năm 1975, nhưng
khác với thập niên 70 và 80, cán bộ đảng viên ngày nay là
những doanh thương lệ thuộc vào xuất và nhập khẩu. Liệu
các doanh vụ của họ còn có thể tiếp tục khi các quan hệ
với nước ngoài bị cắt đứt? Liệu nhà nước Việt Nam
còn được các nước Tây phương công nhận khi có cuộc tàn
sát đẫm máu?
Sự liên kết toàn cầu
giúp con người sẽ hiểu biết về nhau nhiều hơn và những
đòi hỏi của con người sẽ thống nhất hơn, cho nên không
sớm thì muộn một cuộc cách mạng dân chủ đa nguyên tất
yếu sẽ xảy ra trên đất nước Việt Nam. Các nhà lãnh tụ
cộng sản Việt Nam trước đây đã từng ra lệnh cho công
an, quân đội đàn áp tàn bạo người dân chắc chắn sẽ
bị bắt và sẽ bị kết án nặng nề. Theo kinh nghiệm từ
các nước Đông Âu và Bắc Phi, những kẻ dưới quyền vì
tuân lệnh mà đàn áp thô bạo người dân đòi hỏi những
quyền cơ bản chính đáng thường không chạy được xa nên
bị bắt rất sớm. Đôi khi những họ phải chịu những hình
phạt cay nghiệt trực tiếp bởi những người dân vì uất
ức mà hành động thiếu suy nghĩ.
Nói tóm lại, giải pháp
tốt đẹp nhất cho lãnh đạo đảng và nhà nước là họ
trả lại quyền quyết định vận mạng đất nước cho nhân
dân khi người dân cùng nhau đòi hỏi. Trong trường hợp này
họ và gia đình có thể ra nước ngoài sống ung dung hoặc
họ còn có cơ hội sống an vui trong nước với đồng bào
ruột thịt và tiếp tục thực hiện những doanh vụ với doanh
nhân nước ngoài.
Điều kiện để thành
công
Định luật để dẫn
một cuộc cách mạng thay đổi hoàn cảnh sống tại một quốc
gia là đa số người dân nơi đó không hài lòng với điều
kiện sống hiện tại. Dựa vào những dữ kiện đã đươc
nêu ở phần trên, Việt Nam đã hội đủ điều kiện cho một
cuộc cách mạng từ nhiều năm qua. Những phát triển gần
đây tại Bắc Phi, những mâu thuẫn từ căn bản, cội nguồn
của đảng cộng sản, những khó khăn mà đảng và nhà nước
cộng sản đang đối đầu do cấu trúc độc tài gây ra, đặc
biệt về phương diện kinh tế, cộng thêm sự sẵn sàng hỗ
trợ của chính phủ cùng những đoàn thể, nhân sự yêu chuộng
dân chủ, tự do khắp thế gìới đã cho dân tộc Việt
Nam những điều kiện rất thuận lợi chưa từng có để thực
hiện thành công một cuộc cách mạng dân chủ, nhân quyền.
Những yếu tố thuận
lợi nêu trên đến từ bên ngoài. Điều kiện cho một cuộc
cách mạng thành công còn đòi hỏi yếu tố từ bên bên trong,
yếu tố này đến từ người dân Việt Nam. Sau đây là một
vài điều kiện tiên quyết:
- Hành động
đồng lòng và đồng loạt: Chúng ta nhất thiết phải
đồng loạt nổi dậy, sự nổi dậy thưa thớt dễ bị
chế độ độc tài phá vỡ. Đồng thời, hành động của
phong trào cần được thống nhất thì mới tạo được sức
mạnh. Hành động giữa các nhóm với nhau, giữa quốc nội
và hải ngoại cần được phối hợp chặt chẽ.
- Sẵn sàng
hy sinh tất cả để đạt mục đích cao cả: Trong cuộc
đấu tranh chắc chắn sẽ gặp phải nhiều khó khăn. Nếu
mọi người tham gia đấu tranh có được một ý chí vững
mạnh, bất chấp mọi gian nguy thì mục đích đã định trước
chắc chắn sẽ đạt được.
- Kiên trường,
không nhân nhượng, không thối lui: Lãnh tụ độc tài
thường có nhiều mưu mô, chúng ta nên cẩn thận để không
rơi vào bẫy của họ.
- Đấu tranh
ôn hoà, bất bạo động và có trật tự: Bất bạo
động là sức mạnh vô biên của kẻ yếu chống lại chế
độ độc tài. Điều này đã được chứng minh trong 2 cuộc
cách mạng vừa qua tại Tunisia và Ai Cập. Bạo động là ưu
điểm của chế độ độc tài, dùng bạo động là chúng ta
rơi vào bẫy của họ, điều này được kiểm chứng qua cuộc
cách mạng đang tiến hành tại Libya.
Chế độ độc tài đã
kéo lui sự tiến bộ của dân tộc chúng ta hơn nửa thế kỷ
so với người. Dân tộc Việt sẽ thoát khỏi cơn quốc nạn
nếu những con dân Việt đang sống nơi quê nhà can đảm
đồng lòng vùng lên, quyết tâm giành cho được quyền dân
chủ, tự quyết. Được như thế chúng ta và con cháu chúng
ta mới không còn là những kẻ chỉ biết cúi đầu kéo lê
kiếp sống người nhọc nhằn mà sẽ là những con người
vui tươi, hiên ngang sánh vai cùng các dân tộc tiến bộ khác
trên thế giới văn minh này.
(*) Trích điều lệ đảng
cộng sản Việt Nam khoá XI. |