Họa
xâm lăng của Trung Quốc
là
một đe dọa thường trực cho Việt Nam
Nguyễn Văn Lục
«Giả sử mà Nam Việt Nam bị
Bắc Việt thôn tính, thì sự Trung Cộng thôn tính Việt Nam
chỉ là một vấn đề thời gian.»
(Chính Đề Việt Nam)
Cảm tưởng của tôi khi đọc
xong cuốn Chính Đề Việt Nam là cảm xúc bị sốc, như
bị ai tát vào mặt đến choáng váng. Những luận thuyết do
sự hiểu biết và kiến thức rộng rãi, những trình bày rành
mạch các trào lưu tư tưởng, các dòng lịch sử từ hoàn
cảnh cụ thể các nước tư Đông sang Tây, cách đánh giá
Chủ Nghĩa Cộng Sản rất thuyết phục, cách học hỏi bài
học Nhật Bản đến chủ trương phải Tây Hóa toàn diện
với đầy quyết tâm làm tôi ngỡ ngàng chấp nhận.
Nó đúng là tầm nhìn của
một nhà lãnh đạo có một không hai có chiều sâu và hiểu
biết.
Câu truyện xảy ra cách đây
50 năm, 1960, ông Ngô Đình Nhu và một số phụ tá thân cận
viết tập tài liệu này dùng để huấn luyện cán bộ các
cấp. Nhà Ngô bị sụp đổ 1963. Tập tài liệi bị vứt vào
một xó cũng với tác giả của nó đã bị chôn bùi dưới
ba tấc đất. Đến năm 1988 tập tài liệu được các ông
Cao Xuân Vỹ, Lê Văn Đồng, Đỗ La Lam, Phan Xứng cho xuất
lại . Nhưng sự phổ biếm cũng có giới hạn trong vònt thân
hữu . Nay nhà xiuất bản Hùng Vương ở Los Angeles một lần
nữa cho xuất bản với nhan đề Chính Đề Việt Nam.
Ông Ngô Đình Nhu, dựa
trên những dữ kiện lịch sử để nhận thấy rằng, cái
hiểm họa thường trực đe dọa đến sự an ninh của Việt
Nam vẫn là kẻ láng giềng phương Bắc. Theo ông Nhu, vấn đề
tranh chấp giữa khối cộng sản theo Liên Xô và khối tư bản
theo Mỹ chỉ là những phương tiện tranh đấu để phát triển
và khi đất nước họ phát triển rồi thì chủ nghĩa cộng
sản tự nó không còn có giá trị gì nữa. Cho nên Liên Xô
hay Trung Cộng có dùng lý thuyết Karl Marx-Lenin thì cũng chỉ
là một giải pháp chính trị giai đoạn. Ông khẳng định
đối với Mao Trạch Đông, xử dụng chủ nghã Mác Xít chi?
Là một giai đoạn. Giải pháp ấy chỉ nhằm lôi kéo các nước
bị trị, các nước nghèo gia nhập khối cộng sản để bao
vây các nước phát triển thuộc khối tư bản.
Đối với tác giả Chính Đề,
muốn đất nước phát triển thì phải có một lãnh đạo
gỉỏi. Chúng ta đánh bại quân xâm lăng và quật đổ ách
thống trị vì chúng ta có lãnh đạo giỏi và ý thức quốc
gia được hun đúc và nuôi dưỡng Đồng thời cần theo đuổI
chính sách Tây Phương hóa toàn diện, quyết tâm không thể
do dự, không thể chối từ và theo gương Nhật Bản để có
thể tự cường, tự chủ.
Ông cảnh cáo rất nghiêm trọng
là :
«Trong sự chọn lựa đường
lối của chúng ta sau này, sự chúng ta ở sát nách Trung Quốc
là một yếu tố vô cùng thiết yếu.[...]. Vì thế cho nên
không có một lầm lẫn nào to tát cho bằng sự tin tưởng
rằng trong một vài thế hệ hay một thế kỷ có thể thay
đổi được tất cả tư tưởng của một dân tộc [..] Các
nhà lãnh đạo miền Bắc khi tự đặt mình vào sự chi phối
của Trung Cộng, đã đặt chúng ta trước một hoàn cảnh nô
lệ kinh khủng. [...] Hành động của họ, nếu có hiệu quả,
chẳng những sẽ tiêu diệt mọi cơ hội phát triển của chúng
ta, mà lại còn đe dọa đến sự tồn tại của dân tộc.[..]
Các nhà lãnh đạo cộng sản vì thế đã tạo thời cơ cho
thực dân thực hiện những thủ đoạn chính trị của họ
mà hậu quả đã đưa đến sự chia đôi lãnh thổ ngày nay
[..] Sự lệ thuộc nói trên và sự chia đôi lãnh thổ đã
tạo hoàn cảnh cho sự chi phối và và sự toan thống trị
của nước Tàu đối với Việt Nam tái hiện dũng mãnh sau
gần một thế kỷ vắng mặt.[...]
Ký ức của những thời kỳ
thống trị Tàu tàn khốc đối với chúng ta còn ghi nhớ trong
mỗi trang lịch sử của dân tộc và trong mỗi tế bào của
thân thể chúng ta. [...]
Giả sử mà Nam Việt Nam bị
Bắc Việt thôn tính, thì sự Trung Cộng thôn tính Việt Nam
chỉ là một vấn đề thời gian.»
Trích sơ lược và tóm tắt
trong Chính Đề, nhất là trong chương Vai trò của miền Nam
Bài viết sau đây của người
viết sẽ triển khai một vài ý tưởng chủ đạo của tác
gỉả Chính Đề để thấy rằng sự thật gần như thể đã
xảy ra đúng như vậy.
Cộng sản Việt Nam có thể
là một trong những nước duy nhất hao tổn tài lực và sinh
mạng con người đến kiệt quệ sau khi kết thúc cuộc chiến
tranh vào năm 1975.
Họ đã được gì ngoài một
đất nước điêu tàn và kiệt quệ?
Người viết nhận thấy rằng
chọn lựa công việc giải thực bằng cách cúi đầu làm tên
lính tiền đồn cho chủ nghĩa cộng sản Nga Tàu là một sai
lầm có tính cách lịch sử của cộng sản miền Bằc.
Phong trào không liên kết của
19 nước Á Phi, họp tại Bandung cho thấy các nước ấy có
thể dành được độc lập bằng cách lợi dụng sự tranh
chấp trong cuộc chiến tranh lạnh giữa hai khối cộng sản
và tư bản.
Không phải chi có một con đường
giải phóng dân tộc độc nhất và không cần thiết có một
cuộc chiến tranh giải phóng kinh qua các chế độ cộng sản.
Khẳng định không có ông Hồ, nước ta cũng sẽ thu hồi được
độc lập trong xu thế thời đại «Giải thực» sau thế
chiến thứ hai.
Thật vậy, Liên Xô mỗi năm
chi vào ngân sách Quốc phòng trung bình là 18 tỉ đô la[1963]
và dành ra khoảng nửa tỉ đô la viện trợ cho các nước
không liên kết. Cũng vậy Pháp dành ra 1.7% tổng lợi tức
Quốc gia dành cho các nước nghèo như viện trợ cho Algérie,
Maroc, Tuniesie hay Ivory Coast . Hoặc viện trợ đa phương như
đóng tiền cho Unesco rôi Unesco viện trợ cho các mước khác.
Trích tóm lược Viện trợ,
khí giới của các cường quốc trong mưu toan thống trị thế
giới thứ ba, Nguyễn Khắc Ngữ, Trình Bày 15/9/1970, tranh
31
Xếp hàng, chọn lựa đứng
về một bên như Việt Nam là một chọn lựa đắt giá và
hiểm nguy. Cộng sản Việt Nam đã cố tình quên những tội
ác của cộng sản quốc tế trong việc sát nhập bằng bạo
lực các nước Đông Âu nhập vào khối cộng sản Xô Viết
sau 1945. Vì thế, không lạ gì khi chiến tranh thứ hai vừa
kết thúc, đã có 5 triệu người Đức trong vùng do Liên Xô
kiểm soát đã kịp thời trốn thoát sang các vùng do Anh Mỹ
kiểm soát.
Điều đó cho thấy rằng dân
chúng Đức đã biết lo sợ trước về mối hiểm họa của
Liên Xô. Sau này, làm sao dân chúng Đông Âu có thể quên được
kinh nghiệm mùa xuân 1968 tại Prague?
Trong khi đó khối các quốc
gia không liên kết mỗi ngày mỗi đông thêm dù họ đã ngửa
tay nhận viện trợ kinh tế của cả khối cộng sản lẫn
tư bản.
Các phong trào giải thực ở
giai đoạn chót 1955-1965 được gọi là «thế giới thứ ba »
hay các nước không liên kết đã đủ sáng suốt để không
theo cộng sản Tàu như trường hợp các nước láng giềng
của Tàu như Ấn Độ, Indonesia, Ai Cập, Miến Điện vv...
Mấy chục nước thuộc khối
không liên kết như trường hợp các nước Á Phi được gọi
là những nước mới vươn lên [newly emerging states] đã có
thể tự tìm ra con đường giải thực và phát triển mà không
theo bất cứ khối nào.
Kaunda, một thành viên của
khối không liên kết đã có thể tự hào tuyên bố rằng :
«Ngày hôm nay đánh dấu sự
chấm dứt một giai đoạn bất định về tương lai và con
đường của phong trào không liên kết. Hội nghị không liên
kết đối với những nước nhược tiểu còn vĩ đại hơn
tòa nhà của Liên Hiệp Quốc.»
Trích bài: Hy vọng mới cho
thế giới đệ tam, Thuận Giao, tạp chí Trình Bày, số 5,
1/10/1970
Tổng thống Indonesia thì hãnh
diện tuyên bố:
« Đây là một bước mới
trong lịch sử nhân loại ».
Các nước trong khối không
liên kết như Ấn Độ, Ai Cập cuối cùng đã dành được
độc lập mà ít hao tốn những giọt máu vô ích của nhân
dân họ phải đổ ra như trường hợp Việt Nam?
Thật bất hạnh cho Việt Nam
do sự điên cuồng của các nhà lãnh đạo cộng sản Việt
Nam đã không có giải pháp nào khác để dành độc lập thay
vì súng tiểu liên và chủ thuyết Mác Xít?
Trong khi đó, họ lại ngủ
quên trước kẻ thù truyền kiếp từ phương Bắc.
«Không có lầm lẫn nào to
tát cho bằng sự tin tưởng rằng trong một vài thế hệ hay
một thế kỷ có thể thay đổi được tất cả tư tưởng
của một dân tộc » » Ký ức cuả những thời kỳ thống
trị tàn khốc đối với chúng ta còn ghi nhớ trong mỗi trang
lịch sử của dân tộc và trong mỗi tế bào của lịch sử
chúng ta » [Ngô
Đình Nhu]
Thật vậy cha ông tổ tiên
của chúng ta đã không bao giờ ngủ quên trước kẻ thù.
Thật vậy, trong suốt gần
1000 năm Bắc thuộc và thời kỳ tự chủ từ năm 972, cái
tâm lý đối chọi giữa Trung Quốc và Việt Nam vẫn là
do quyền lợi hai bên nghịch nhau: Phần Trung Quốc vẫn coi
Việt Nam là thuộc phần đất của họ phải tìm cách thâu
hồi về và phía người Việt Nam thì nỗ lực duy trì nền
độc lập
lãnh thổ bằng mọi giá như
trong Bình Ngô Đại Cáo của Lê Lợi, Nguyễn Trãi còn ghi khắc
lại:
Như nước Việt ta từ trước
Vốn xưa Văn Hiến đã lâu
Sơn hà cương vực đã chia
Phong tục Bắc-Nam cũng khác
8 năm sau ngày viết Đại Cáo
Bình Ngô, năm 1435, Nguyễn Trãi đã viết cuốn sách tiêu
biểu Dư Địa Chí bàn về địa lý, lịch sử và và
xã hội An Nam.
Trong 900 năm, Trung Quốc xâm
lăng Việt Nam 7 lần. Nhà Tống 2 lần, nhà Nguyên 3 lần,
nhà Minh và nhà Thanh mỗi triều đại một lần. Cộng chung
có 4 lần mất đất . Mất hai động Vật Ác và Vật Dương
đời nhã Tống, lần thứ hai mất 59 thôn ở Cổ Lâu đời
nhà Minh . Lần thứ ba cũng dưới đời nhà Minh mất hai Châu
và 4 Động. Vụ thứ tư đưới đời Nhà Thanh mất 13 Châu
và ba động.
Mặc dầu vậy, lần nào cũng
có sự chống trả. Vũ khí để chống trả là chủ nghĩa dân
tộc chống lại mọi đe dọa từ Bắc Phương.
Người viết xin ghi lại một
tài liệu rất quý giá của giám mục Alexandre de Rhodes cách
đây mấy trăm năm mà một số danh từ tiếng Pháp viết theo
lối cổ trong cuốn Histoire du Royaume de Tunquin[ Tunquin được
gọi là Đằng Ngoài, tức Bắc Kỳ] .Tài liệu này cũng giúp
độc giả hiểu nghĩa chữ Annam là gì ? Tại sao gọi là Kẻ
Chợ?.Tại sao gọi là Cochinchine? Tài liệu cũng nói lên cái
thực trạng lệ thuộc của xứ sở nước Annam vào Trung Quốc
như thế nào:
Nhan đề : Du Nom,& de lafituation
de ce royaume. Chapitre I
«Qve le Royaume de Tunquin ayt éfté
autrefois l'vne des principales Prouinces du grand Empire de la Chine,
nous l'apprenons du nom qu'il a retenu: Car comme Pequin[ qui eft aujourd'huy
la plus floriffante ville de la Chine,& le fejour ordinaire des roys]
fignifie la Cour ou la ville Royale du Septentrion; & Nan-quin....[
Bản pháp ngữ của Henri Albi]
[Người viết xin ghi lại giao
kèo «Văn Minh » của nước Pháp trong luật lệ biết tôn
trọng Bản quyền tác giả như thế nào, khác xa với xã hội
Việt Nam bây giờ còn rất «mọi rợ » trong luật bản quyền.]
«Dòng tên, tỉnh dòng Lyon đã
nhường đặc quyền cho phép Gioan Baotistita Devent, nhà xuất
bản ở Lyon được in và bán cuốn sách này của cha Alexandre
De Rhodes biên soạn. và như vậy trong hạn 6 năm, cấm tất
cả những người khác không được in hay cho in, nếu không
sẽ bị phạt như ghi trong đặc quyền.»
Làm tại Avignon, bgày 1-3-1651
Lyon, Chez Jean Baptiste devenet en rue Vercìère à la croix d'or, 1651.
Danh hiệu và vị trí xứ Đàng
Ngoài. Chương I
Xứ Đàng Ngoài thời xưa [bị
coi] là một trong những tỉnh lớn nội thuộc Trung Quốc, chúng
ta gọi theo danh hiệu đã được công nhận. Vì như Bắc Kinh
[bây giờ là thành phố thịnh vượng nhất Trung Quốc và là
đế đô thường trú của các vua] có nghĩa là triều đình
hay thành phố của các vua ở miền Bắc, và Nam Kinh là triều
đình hay thành phố của các vua ở miền Nam thì Đông Kinh
cũng có nghĩa là triều đình nơi vua họp triều đình. Thực
ra Đông Kinh chúng tôi nói đây không ở vào phía Đông nước
Tàu, nếu nhắm thẳng vị trí, nhưng ở về phía Nam. Nhưng
vì thời xửa xưa, đế chế Trung Hoa lan rộng tới mãi các
nước Lào và Xiêm thuộc về phía Tây, nên đối với họ
nước Đông Kinh được gọi là nước ở vào phía Đông và
như thế gọi cho thuận tiện đối với tất cả những tỉnh
ở về phía Tây, những tỉnh này phải đi mất 6 tháng mới
tới, nếu cần phải nại tòa án đặt ở Bắc Kinh, nơi vua
thay đổi cung điện tùy tiện. Nhưng từ khi những nước ở
vào miền Tây này thoát khỏi đế chế Trung Hoa thì tỉnh Đông
Kinh vẫn phải triều cống và được gọi là Annam nghìa là
nghỉ yên phía Nam. Hiện nay danh hiệu này là tên gọi chung
cho hai xứ Đàng Ngòai và Đàng Trong.
Và để nói thêm về danh hiệu
đặt cho Đàng Trong ngày nay, tách biệtr khỏi Đàng Ngoài thì
phải biết Thủ đô cả nước Annam gọi là Kẻ Chợ và các
thương gia Nhật Bản buôn bán trong tỉnh đó đã gọi sai và
gọi là CoCi, vì thế người Bồ giao tiếp với họ, để phân
biệt với tỉnh CoCin ở miền Đông Ấn, không xa thành phố
Goa, đã lập thành danh từ Cochinchina như muốn nói xứ CoCin
gần Trung Quốc ...
Trích sách dịch của Hồng
Nhuệ : Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài, trang 3-4
Theo cha Alexandre De Rhodes thì
xứ Đàng Ngoài với thủ đô là Kẻ Chợ chỉ là một quân,
huyện của Trung Quốc mà thôi.
Tinh thần đối kháng của người
An Nam theo cha Alexandre de Rhodes trong cách ăn mặc thật là
có ý nghĩa và lý thú như việc đàn ông để tóc dài, không
để búi tó, đi chân đất. Phụ nữ thì mặc váy và đeo yếm
khác hẳn cách ăn mặc của người Tàu. Rất tiếc nay ít phụ
nữ còn đeo yếm. Thật rất tiếc. Trong sách sử do nhóm Trần
Văn Giàu cũng có ghi chú như sau :
« Phụ nữ thường mặc váy,
đeo yếm. Đàn ông thường đóng khố và cởi trần. Họ thường
đi đất, che mưa nắng bằng nón, áo tơi»
Trích Lịch sư/ Việt Nam, tập
I Nhóm chủ biên Trần Văn Giàu-Trần Bạch Đằng- Mạc Đường,
trang 127.
Có một nhận xét lý thú là
tại sao người Tàu và người Annam ở Đàng Ngoài thì để
tóc bím mà người Tàu ở Đàng Trong lại không để?
«Sau khi thấy khi thấy nhà
Minh không thể phục hưng được thì Mạc Cửu không chịu
cạo tóc, gióc bím theo nhà Thanh, chạy sang cư ngụ ở đất
Chân Lạp, làm quan với Chân Lạp. Thấy chính cuộc nước
này rối ren mà ở Màng khảm, thuộc tỉnh Ream của Miên, mở
sòng bạc để lấy sâu, lại đào được một hầm bạc nên
trỏ thành giàu . Mạc Cửu bèn xây moột ngôi thành trên bờ
biển, mở phố xá rồi chiêu tập lưu dân đến ở các nơi
Phú Quốc, Cần Bột, Rạch Giá, Luống Cày, Hương Úc, Cà Mau
lập thành 7 xã thôn.»
Trích Việt Sử xứ Đàng Trong,
Phan Khoang, trang 326-327.
Sự kỳ thị và chống đối
người Hoa cũng tìm thấy nơi người Đàng Trong như được
chứng minh trong tờ báo Nam Kỳ Địa Phận. Semaine religieuse
[xuất bản liên tục từ năm 1907-1945] Nhưng đặc biệt có
một số bài của độc giả gửi tới lên án gắt gao người
Chệc vì làm ăn điêu xảo và còn có bài kêu gọi người
Annam tẩy chay, không mua bán làm ăn với người Tàu. Xin trích
một đoạn về lề lối cầm đồ của người Chệc:
«Kính lời xin ông chủ bút
làm ơn ấn hành bài này cho chư vị trong lục châu rõ, mà
trừ ba anh Chệc ở tiệm cầm đồ cho hết lường gạt mấy
chị đờn bà .. Vậy nếu muốn cho khỏi lầm tay mấy anh Chệc
đó, thì cứ phải theo lời nghi ngày 25 novembre 1905 của quan
nguyên sóai Nam Kỳ đã định điều lệ cho công ty cầm đồ
như sau này : Những đồ cầm 100 đồng bạc,m tiệm đặng
lời 2 đồng trong một tháng, là 30 ngày, nghĩa là kể từ
ngày cầm mà đếm cho đến ngày mình chuộc, cho đúng 30 ngày,
ví dụ như mình cầm ngày 28 tháng 2 tây, cho đến ngày 29 tháng
3 tây mình chuộc, thì đúng là 30 ngày, thì trọn một tháng
lời, vì tháng 2 tây thiếu ngay.» Nam Kỳ Địa Phận, trang
541, J.B Xuân.
Trích bài Kỷ niệm 100 năm
tờ báo Nam Kỳ Địa Phận 1908-2008, Nguyễn Văn Lục tạp chí
Tân Văn số 8, trang 16.
Phải chi bây giờ nhà cầm
quyền cộng sản Hà Nội cũng phát động được phong trào
tẩy chay mua hàng hóa của Trung Quốc như tổ tiên ta đã làm
cách nay 100 năm?
Cái hệ lụy với Trung Quốc
theo như nhận định của ông Ngô Đình Nhu trong Chính Đề
nay đã thành Sự thật không chối cãi được.
Để trả món nợ chiến thắng
Điện Biên Phủ, ngày 22 tháng 9, năm 1958, đại sứ VNDCCH tại
Trung Quốc là ông Nguyễn Khang đã trao công Hàm cho ông Cơ
Bằng Phi, thứ trưởng bộ ngoại giao Trung Quốc. Nội dung
như sau :
«Chính phủ nước Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày
ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc quyết
định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ
thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn
trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ
với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trên mặt biển »:
Tiếp theo đó, Thủ tướng
Phạm Văn Đồng đã gửi một công hàm cho Thủ tướng Chu
Ân Lai như sau :
«Thưa đồng chí Tổng Lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo
tin để đồng chí Tổng Lý rõ:
Chính phủ nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4
tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước cộng hòa Nhân dân Trung
Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc .
Chính phủ nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị
cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng
hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với
nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Quốc trên mặt bể.
Chúng tôi xin kính gửi Đồng
chí Tổng lý lời chào rất trân trọng./.
Hà Nội ngày 14 tháng 9 năm
1958
Phạm Văn Đồng
Thủ tướng chính phủ
Nước Việt Nam Dân Chủ Công
Hòa.»
Cái hàm hồ và ngu xuẩn là
khi Thủ Tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố tôn trọng 12 hải
lý của Trung Quốc mà không có BẢN ĐỒ ĐÍNH KÈM. Nếu
có bản đồ « Lưỡi bò» của Trung Quốc đính kèm thì lãnh
hải Trung Quốc sẽ tiến sát bờ biển miền Trung và Bắc
Việt, cũng sẽ sát bờ biển Phi Luật Tân, Indonesia và Mã
Lai.
Lần thứ hai, để trả món
nợ đánh chiếm được miền Nam, Trung Quốc thôn tính đảo
Hoàng Sa thuộc phần đất của miền Nam Việt Nam Cộng Hòa
năm 1974. Ngày 3 tháng 5 năm 1976, tờ báo Sài Gòn Giải phóng,
cơ quan ngôn luận của Thành phố Hồ Chí Minh viết một bài
xác nhận quần đảo Hoàng Sa thuộc Trung Quốc mà nguyên
văn có câu như sau:
«Trung Quốc vĩ đại đối
với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là ông
thầy tín cẩn, đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng
ta có được ngày hôm nay, thì chủ quyền Hoàng Sa thuộc Trung
Quốc hay thuộc ta cũng vậy thôi. Trung Quốc với ta là hai
nước sông liền sông, núi liền núi. Khi nào chúng ta muốn
nhận lại quần đảo này. Trung Quốc sẽ sẵn sàng giao lại.»
Trích tài liệu trên báo Đi
Tới số Đặ biệt: Trả Ta sông núi, số 55-56, tháng 3-4/ 2002,
chủ nhiệm, chủ bút Đoàn Minh Hóa, trang 13-14.
Không còn nỗi nhục nào hơn
nỗi nhục này. Chính Đạo viết một bài: Tệ hơn cả Lê
Chiêu Thống ..
Riêng ông Dương Danh Dy từng
có nhiều năm kinh nghiệm ở Bên Trung Quốc phát biểu trên
BBC đại khái rằng: Thế hệ đành anh của chúng tôi đã bị
Trung Quốc lừa, đến lượt chúng tôi cũng không tránh khỏi.
Bị lừa hay biết là bị lừa
vẫn phải ngậm miệng?
Đã hai lần, Hồ Chí Minh và
đảng cộng sản Việt Nam ở trong tình thế cực đoan tự
làm tay sai cho cộng sản Tàu như thứ «phên dậu» [chữ dùng
của Chính Đạo] che chắn cho nước Tàu, chống lại Pháp và
Mỹ, Đã hai lần ngửa tay xin viện trợ của Tàu cộng sản.
Hai lần quỳ gối lệ thuộc Tàu đã là tiền đề cho những
nguy cơ của hiểm họa xâm lăng từ phương Bắc khó tránh
được. Cái giá phải trả là hai hiệp ước ô nhục cắt
đất [30/12/1999] và cắt lãnh hải Bắc Việt [25/12/2000].
Cái nhục ấy là trách nhiệm
của Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Mạnh
Cầm, Nguyễn Dy Niên.
Mỗi lần đạt được một
chiến thắng quân sự là mỗi lần trả giá, mỗi lần mang
nhục và biện hộ một cách ti tiện.
Sau trận hải chiến ngày 4/3/1988[mất
một phần Trường Sa] với Trung Quốc, tờ Nhân Dân, số ra
ngày 26/4/1988 đã tự biện hộ như sau :
« Đúng là có những lời
tuyên bố. Cần phải đặt lại những lời tuyên bố trong
bối cảnh lịch sử của nó ... Trong cuộc chiến đấu một
mất một còn, chống một kẻ thù xâm lược có sức mạnh
quân sự lớn hơn mình nhiều , Việt Nam tranh thủ được Trung
Quốc gắn chặt với cuộc chiến đấu của Việt Nam càng
nhiều bao nhiêu và ngăn chặn Mỹ xử dụng hai quần đảo
cũng như vùng biển Đông chống lại Việt Nam thì càng tốt
bấy nhiêu »
Trích báo Đi Tới, như trên
trang, 14.
Đối với mọi người dân
Việt Nam thì hành động này không khác gì hành động bán
nước.
Và những gì Trung Quốc đang
làm và sẽ làm như một kẻ đàn anh hung hãn uy hiếp đối
với Việt Nam thì mọi người chỉ còn biết chờ và vái trời
cho điều đó không xảy ra .
Và hy vọng là ông Ngô Đình
Nhu đã tiên đoán sai về số phận Việt Mam sau khi cộng sản
xâm chiếm được miền Nam.
|