Liên Lạc: Nguyệt-San Việt-Nam
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC., V5V-5C8, Canada
Phone  +  Fax: (604)  879.1179 - Email: nsvietnam@yahoo.com
 Trang bìa
Do Hải Triều & Nhóm NSVN phụ trách
Hãy tiếp sức cho Nguyệt-San Việt-Nam sống đến ngày Sài Gòn - Hà Nội được tự do 
bằng cách giúp đỡ hoặc mua các tác phẩm do Nguyệt-San Việt-Nam giới thiệu. 
Xin liên lạc trực tiếp với tòa soạn theo địa chỉ trên.


Bài Mới Nhất




Chụp Mũ


Mùa Xuân Đen


Máu và nước mắt 
trên lưng Trường Sơn.


Những Trận Đánh Không Tên 
Trong Quân Sử tập 2.


Thơ chiến đấu của Hải Triều,
Lê Khắc Anh Hào, Ý Yên,
Trần Thúc Vũ.




 

Bình Luận - Thời Sự

Họa xâm lăng của Trung Quốc
là một đe dọa thường trực cho Việt Nam   
Nguyễn Văn Lục  
«Giả sử mà Nam Việt Nam bị Bắc Việt thôn tính, thì sự Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời gian.» 
(Chính Đề Việt Nam) 

Cảm tưởng của tôi khi đọc xong cuốn Chính Đề Việt Nam là cảm xúc bị sốc, như bị ai tát vào mặt đến choáng váng. Những luận thuyết do sự hiểu biết và kiến thức rộng rãi, những trình bày rành mạch các trào lưu tư tưởng, các dòng lịch sử từ hoàn cảnh cụ thể các nước tư Đông sang Tây, cách đánh giá Chủ Nghĩa Cộng Sản rất thuyết phục, cách học hỏi bài học Nhật Bản đến chủ trương phải Tây Hóa toàn diện với đầy quyết tâm làm tôi ngỡ ngàng chấp nhận.  

Nó đúng là tầm nhìn của một nhà lãnh đạo có một không hai có chiều sâu và hiểu biết. 

Câu truyện xảy ra cách đây 50 năm, 1960, ông Ngô Đình Nhu và một số phụ tá thân cận viết tập tài liệu này dùng để huấn luyện cán bộ các cấp. Nhà Ngô bị sụp đổ 1963. Tập tài liệi bị vứt vào một xó cũng với tác giả của nó đã bị chôn bùi dưới ba tấc đất. Đến năm 1988 tập tài liệu được các ông Cao Xuân Vỹ, Lê Văn Đồng, Đỗ La Lam, Phan Xứng cho xuất lại . Nhưng sự phổ biếm cũng có giới hạn trong vònt thân hữu . Nay nhà xiuất bản Hùng Vương ở Los Angeles một lần nữa  cho xuất bản với nhan đề Chính Đề Việt Nam. 

 Ông Ngô Đình Nhu, dựa trên những dữ kiện lịch sử để nhận thấy rằng, cái hiểm họa thường trực đe dọa đến sự an ninh của Việt Nam vẫn là kẻ láng giềng phương Bắc. Theo ông Nhu, vấn đề tranh chấp giữa khối cộng sản theo Liên Xô và khối tư bản theo Mỹ chỉ là những phương tiện tranh đấu để phát triển và khi đất nước họ phát triển rồi thì chủ nghĩa cộng sản tự nó không còn có giá trị gì nữa. Cho nên Liên Xô hay Trung Cộng có dùng lý thuyết Karl Marx-Lenin thì cũng chỉ là một giải pháp chính trị giai đoạn. Ông khẳng định đối với Mao Trạch Đông, xử dụng chủ nghã Mác Xít chi? Là một giai đoạn. Giải pháp ấy chỉ nhằm lôi kéo các nước bị trị, các nước nghèo gia nhập khối cộng sản để bao vây các nước phát triển thuộc khối tư bản.  

Đối với tác giả Chính Đề, muốn đất nước phát triển thì phải có một lãnh đạo gỉỏi. Chúng ta đánh bại quân xâm lăng và quật đổ ách thống trị vì chúng ta có lãnh đạo giỏi và ý thức quốc gia được hun đúc và nuôi dưỡng Đồng thời cần theo đuổI chính sách Tây Phương hóa toàn diện, quyết tâm không thể do dự, không thể chối từ và theo gương Nhật Bản để có thể tự cường, tự chủ. 

Ông cảnh cáo rất nghiêm trọng là : 

«Trong sự chọn lựa đường lối của chúng ta sau này, sự chúng ta ở sát nách Trung Quốc là một yếu tố vô cùng thiết yếu.[...]. Vì thế cho nên không có một lầm lẫn nào to tát  cho bằng sự tin tưởng rằng trong một vài thế hệ hay một thế kỷ có thể thay đổi được tất cả tư tưởng của một dân tộc [..] Các nhà lãnh đạo miền Bắc khi tự đặt mình vào sự chi phối của Trung Cộng, đã đặt chúng ta trước một hoàn cảnh nô lệ kinh khủng. [...] Hành động của họ, nếu có hiệu quả, chẳng những sẽ tiêu diệt mọi cơ hội phát triển của chúng ta, mà lại còn đe dọa đến sự tồn tại của dân tộc.[..] Các nhà lãnh đạo cộng sản vì thế đã tạo thời cơ cho thực dân thực hiện những thủ đoạn chính trị của họ mà hậu quả đã đưa đến sự chia đôi lãnh thổ ngày nay [..] Sự lệ thuộc nói trên và sự chia đôi lãnh thổ đã tạo hoàn cảnh cho sự chi phối và và sự toan thống trị của nước Tàu đối với Việt Nam tái hiện dũng mãnh sau gần một thế kỷ vắng mặt.[...] 

Ký ức của những thời kỳ thống trị Tàu tàn khốc đối với chúng ta còn ghi nhớ trong mỗi trang lịch sử của dân tộc và trong mỗi tế bào của thân thể chúng ta. [...] 

Giả sử mà Nam Việt Nam bị Bắc Việt thôn tính, thì sự Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời gian.» 

Trích sơ lược và tóm tắt trong Chính Đề, nhất là trong chương Vai trò của miền Nam 

Bài viết sau đây của người viết sẽ triển khai một vài ý tưởng chủ đạo của tác gỉả Chính Đề để thấy rằng sự thật gần như thể đã xảy ra đúng như vậy. 

Cộng sản Việt Nam có thể là một trong những nước duy nhất hao tổn tài lực và sinh mạng con người đến kiệt quệ sau khi kết thúc cuộc chiến tranh vào năm 1975. 

Họ đã được gì ngoài một đất nước điêu tàn và kiệt quệ? 

Người viết nhận thấy rằng chọn lựa công việc giải thực bằng cách cúi đầu làm tên lính tiền đồn cho chủ nghĩa cộng sản Nga Tàu là một sai lầm có tính cách lịch sử của cộng sản miền Bằc. 

Phong trào không liên kết của 19 nước Á Phi, họp tại Bandung cho thấy các nước ấy có thể dành được độc lập bằng cách lợi dụng sự tranh chấp trong cuộc chiến tranh lạnh giữa hai khối cộng sản và tư bản. 

Không phải chi có một con đường giải phóng dân tộc độc nhất và không cần thiết có một cuộc chiến tranh giải phóng kinh qua các chế độ cộng sản. Khẳng định không có ông Hồ, nước ta cũng sẽ thu hồi được độc lập trong  xu  thế thời đại «Giải thực» sau thế chiến thứ hai. 

Thật vậy, Liên Xô mỗi năm chi vào ngân sách Quốc phòng trung bình là 18 tỉ đô la[1963] và dành ra khoảng nửa tỉ đô la viện trợ cho các nước không liên kết. Cũng vậy Pháp dành ra 1.7% tổng lợi tức Quốc gia  dành cho các nước nghèo như viện trợ cho Algérie, Maroc, Tuniesie hay Ivory Coast . Hoặc viện trợ đa phương như đóng tiền cho Unesco rôi Unesco viện trợ cho các mước khác. 

Trích tóm lược Viện trợ, khí giới của các cường quốc trong mưu toan thống trị thế giới thứ ba, Nguyễn Khắc Ngữ, Trình Bày 15/9/1970, tranh 31  

Xếp hàng, chọn lựa đứng về một bên như Việt Nam là một chọn lựa đắt giá và hiểm nguy. Cộng sản Việt Nam đã cố tình quên những tội ác của cộng sản quốc tế trong việc sát nhập bằng bạo lực các nước Đông Âu nhập vào khối cộng sản Xô Viết sau 1945. Vì thế, không lạ gì khi chiến tranh thứ hai vừa kết thúc, đã có 5 triệu người Đức trong vùng do Liên Xô kiểm soát đã kịp thời trốn thoát sang các vùng do Anh Mỹ kiểm soát. 

Điều đó cho thấy rằng dân chúng Đức đã biết lo sợ trước về mối hiểm họa của Liên Xô. Sau này, làm sao dân chúng Đông Âu có thể quên được kinh nghiệm mùa xuân 1968 tại Prague?  

Trong khi đó khối các quốc gia không liên kết mỗi ngày mỗi đông thêm dù họ đã ngửa tay nhận viện trợ kinh tế của cả khối cộng sản lẫn tư bản. 

Các phong trào giải thực ở giai đoạn chót 1955-1965 được gọi là «thế giới thứ ba » hay các nước không liên kết đã đủ sáng suốt để không theo cộng sản Tàu như trường hợp các nước láng giềng của Tàu như Ấn Độ, Indonesia, Ai Cập, Miến Điện vv... 

Mấy chục nước thuộc khối không liên kết như trường hợp các nước Á Phi được gọi là những nước mới vươn lên [newly emerging states] đã có thể tự tìm ra con đường giải thực và phát triển mà không theo bất cứ khối nào. 

Kaunda, một thành viên của khối không liên kết đã có thể tự hào tuyên bố rằng : 

«Ngày hôm nay đánh dấu sự chấm dứt một giai đoạn bất định về tương lai và con đường của phong trào không liên kết. Hội nghị không liên kết đối với những nước nhược tiểu còn vĩ đại hơn tòa nhà của Liên Hiệp Quốc.» 

Trích bài: Hy vọng mới cho thế giới đệ tam, Thuận Giao, tạp chí Trình Bày, số 5,  1/10/1970 

Tổng thống Indonesia thì hãnh diện tuyên bố:  

« Đây là một bước mới trong lịch sử nhân loại ».  

Các nước trong khối không liên kết  như Ấn Độ,  Ai Cập cuối cùng đã dành được độc lập mà ít hao tốn những giọt máu vô ích của nhân dân họ phải đổ ra như trường hợp Việt Nam? 

Thật bất hạnh cho Việt Nam do sự điên cuồng của các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã không có giải pháp nào khác để dành độc lập thay vì súng tiểu liên và chủ thuyết Mác Xít? 

Trong khi đó, họ lại ngủ quên trước kẻ thù truyền kiếp từ phương Bắc.   

«Không có lầm lẫn nào to tát cho bằng sự tin tưởng rằng trong một vài thế hệ hay một thế kỷ có thể thay đổi được tất cả tư tưởng của một dân tộc » » Ký ức cuả những thời kỳ thống trị tàn khốc đối với chúng ta còn ghi nhớ trong mỗi trang lịch sử của dân tộc và trong mỗi tế bào của lịch sử chúng ta » [Ngô 
Đình Nhu] 

Thật vậy cha ông tổ tiên của chúng ta đã không bao giờ ngủ quên trước kẻ thù. 

Thật vậy, trong suốt  gần 1000 năm Bắc thuộc và thời kỳ tự chủ từ năm 972, cái tâm lý đối chọi  giữa Trung Quốc và Việt Nam vẫn là  do quyền lợi hai bên nghịch nhau: Phần Trung Quốc vẫn coi Việt Nam là thuộc phần đất của họ phải tìm cách thâu hồi về và phía người Việt Nam thì nỗ lực duy trì nền độc lập 
lãnh thổ bằng mọi giá như trong Bình Ngô Đại Cáo của Lê Lợi, Nguyễn Trãi còn ghi khắc lại:  

Như nước Việt ta từ trước
Vốn xưa Văn Hiến đã lâu
Sơn hà cương vực đã chia
Phong tục Bắc-Nam cũng khác 

8 năm sau ngày viết Đại Cáo Bình Ngô, năm  1435, Nguyễn Trãi đã viết cuốn sách tiêu biểu Dư Địa Chí bàn về địa lý, lịch sử và và xã hội An Nam.  

Trong 900 năm, Trung Quốc xâm lăng  Việt Nam 7 lần. Nhà Tống 2 lần, nhà Nguyên 3 lần, nhà Minh và nhà Thanh mỗi triều đại một lần.  Cộng chung có 4 lần mất đất . Mất hai động Vật Ác và Vật Dương đời nhã Tống, lần thứ hai mất 59 thôn ở Cổ Lâu đời nhà Minh . Lần thứ ba cũng dưới đời nhà Minh  mất hai Châu và 4 Động. Vụ thứ tư đưới đời Nhà Thanh mất 13 Châu và ba động. 

Mặc dầu vậy, lần nào cũng có sự chống trả. Vũ khí để chống trả là chủ nghĩa dân tộc chống lại mọi đe dọa từ Bắc Phương. 

Người viết xin ghi lại một tài liệu rất quý giá của giám mục Alexandre de Rhodes cách đây mấy trăm năm mà một số danh từ tiếng Pháp viết theo lối cổ trong cuốn Histoire du Royaume de Tunquin[ Tunquin được gọi là Đằng Ngoài, tức Bắc Kỳ] .Tài liệu này cũng giúp độc giả hiểu nghĩa chữ Annam là gì ? Tại sao gọi là Kẻ Chợ?.Tại sao gọi là Cochinchine? Tài liệu cũng nói lên cái thực trạng lệ thuộc của xứ sở nước Annam vào Trung Quốc như thế nào: 

Nhan đề : Du Nom,& de lafituation de ce royaume. Chapitre I 

«Qve le Royaume de Tunquin ayt éfté autrefois l'vne des principales Prouinces du  grand Empire de la Chine, nous l'apprenons du nom qu'il a retenu: Car comme Pequin[ qui eft aujourd'huy la plus floriffante ville de la Chine,& le fejour ordinaire des roys] fignifie la Cour ou la ville Royale du Septentrion; & Nan-quin....[ Bản pháp ngữ của Henri Albi] 

[Người viết xin ghi lại giao kèo «Văn Minh »  của nước Pháp trong luật lệ biết tôn trọng Bản quyền tác giả như thế nào, khác xa với xã hội Việt Nam bây giờ còn rất «mọi rợ » trong luật bản quyền.] 

«Dòng tên, tỉnh dòng Lyon đã nhường đặc quyền cho phép Gioan Baotistita Devent, nhà xuất bản ở Lyon được in và bán cuốn sách này của cha Alexandre De Rhodes biên soạn. và như vậy trong hạn 6 năm, cấm tất cả những người khác không được in hay cho in, nếu không sẽ bị phạt như ghi trong đặc quyền.»  

Làm tại Avignon, bgày 1-3-1651 Lyon, Chez Jean Baptiste devenet en rue Vercìère à la croix d'or, 1651. 

Danh hiệu và vị trí xứ Đàng Ngoài. Chương I 

Xứ Đàng Ngoài thời xưa [bị coi] là một trong những tỉnh lớn nội thuộc Trung Quốc, chúng ta gọi theo danh hiệu đã được công nhận. Vì như Bắc Kinh [bây giờ là thành phố thịnh vượng nhất Trung Quốc và là đế đô thường trú của các vua] có nghĩa là triều đình hay thành phố của các vua ở miền Bắc, và Nam Kinh là triều đình hay thành phố của các vua ở miền Nam thì Đông Kinh cũng có nghĩa là triều đình nơi vua họp triều đình. Thực ra Đông Kinh chúng tôi nói đây không ở vào phía Đông nước Tàu, nếu nhắm thẳng vị trí, nhưng ở về phía Nam. Nhưng vì thời xửa xưa, đế chế Trung Hoa lan rộng tới mãi các nước Lào và Xiêm thuộc về phía Tây, nên đối với họ nước Đông Kinh được gọi là nước ở vào phía Đông và như thế gọi cho thuận tiện đối với tất cả những tỉnh ở về phía Tây, những tỉnh này phải đi mất 6 tháng mới tới, nếu cần phải nại tòa án đặt ở Bắc Kinh, nơi vua thay đổi cung điện tùy tiện. Nhưng từ khi những nước ở vào miền Tây này thoát khỏi đế chế Trung Hoa thì tỉnh Đông Kinh vẫn phải triều cống và được gọi là Annam nghìa là nghỉ yên phía Nam. Hiện nay danh hiệu này là tên gọi chung cho hai xứ Đàng Ngòai và Đàng Trong. 

Và để nói thêm về danh hiệu đặt cho Đàng Trong ngày nay, tách biệtr khỏi Đàng Ngoài thì phải biết Thủ đô cả nước Annam gọi là Kẻ Chợ và các thương gia Nhật Bản buôn bán trong tỉnh đó đã gọi sai và gọi là CoCi, vì thế người Bồ giao tiếp với họ, để phân biệt với tỉnh CoCin ở miền Đông Ấn, không xa thành phố Goa, đã lập thành danh từ Cochinchina như muốn nói xứ CoCin gần Trung Quốc ... 

Trích sách dịch của Hồng Nhuệ : Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài, trang 3-4 

Theo cha Alexandre De Rhodes thì xứ Đàng Ngoài với thủ đô là Kẻ Chợ chỉ là một quân, huyện của Trung Quốc mà thôi.  

Tinh thần đối kháng của người An Nam theo cha Alexandre de Rhodes  trong cách ăn mặc thật là có ý nghĩa và lý thú như việc đàn ông để tóc dài, không để búi tó, đi chân đất. Phụ nữ thì mặc váy và đeo yếm  khác hẳn cách ăn mặc của người Tàu. Rất tiếc nay ít phụ nữ còn đeo yếm. Thật rất tiếc. Trong sách sử do nhóm Trần Văn Giàu cũng có ghi chú như sau : 

« Phụ nữ thường mặc váy, đeo yếm. Đàn ông thường đóng khố và cởi trần. Họ thường đi đất, che mưa nắng bằng nón, áo tơi» 

Trích Lịch sư/ Việt Nam, tập I Nhóm chủ biên Trần Văn Giàu-Trần Bạch Đằng- Mạc Đường, trang 127. 

Có một nhận xét lý thú là tại sao người Tàu và người Annam ở Đàng Ngoài thì để tóc bím mà người Tàu ở Đàng Trong lại không để? 

«Sau khi thấy khi thấy nhà Minh không thể phục hưng được thì Mạc Cửu không chịu cạo tóc, gióc bím theo nhà Thanh, chạy sang cư ngụ ở đất Chân Lạp, làm quan với Chân Lạp. Thấy chính cuộc nước này rối ren mà ở Màng khảm, thuộc tỉnh Ream của Miên, mở sòng bạc để lấy sâu, lại đào được một hầm bạc nên trỏ thành giàu . Mạc Cửu bèn xây moột ngôi thành trên bờ biển, mở phố xá rồi  chiêu tập lưu dân đến ở các nơi Phú Quốc, Cần Bột, Rạch Giá, Luống Cày, Hương Úc, Cà Mau lập thành 7 xã thôn.»  

Trích Việt Sử xứ Đàng Trong, Phan Khoang, trang 326-327. 

Sự kỳ thị và chống đối người Hoa cũng tìm thấy nơi người Đàng Trong như được chứng minh  trong tờ báo Nam Kỳ Địa Phận. Semaine religieuse [xuất bản liên tục từ năm 1907-1945]  Nhưng đặc biệt có một số bài của độc giả gửi tới lên án gắt gao người Chệc vì làm ăn điêu xảo và còn có bài kêu gọi người Annam tẩy chay, không mua bán làm ăn với  người Tàu. Xin trích một đoạn về lề lối cầm đồ của người Chệc: 

«Kính lời xin ông chủ bút làm ơn ấn hành bài này cho chư vị trong lục châu rõ, mà trừ ba anh Chệc ở tiệm cầm đồ cho hết lường gạt mấy chị đờn bà .. Vậy nếu muốn cho khỏi lầm tay mấy anh Chệc đó, thì cứ phải theo lời nghi ngày 25 novembre 1905 của quan nguyên sóai Nam Kỳ đã định điều lệ cho công ty cầm đồ như sau này : Những đồ cầm 100 đồng bạc,m tiệm đặng lời 2 đồng trong một tháng, là 30 ngày, nghĩa là kể từ ngày cầm mà đếm cho đến ngày mình chuộc, cho đúng 30 ngày, ví dụ như mình cầm ngày 28 tháng 2 tây, cho đến ngày 29 tháng 3 tây mình chuộc, thì đúng là 30 ngày, thì trọn một tháng lời, vì tháng 2 tây thiếu ngay.» Nam Kỳ Địa Phận, trang 541, J.B Xuân. 

Trích bài Kỷ niệm 100 năm tờ báo Nam Kỳ Địa Phận 1908-2008, Nguyễn Văn Lục tạp chí Tân Văn số 8, trang 16. 

Phải chi bây giờ nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội cũng phát động được  phong trào  tẩy chay mua hàng hóa của Trung Quốc như tổ tiên ta đã làm cách nay 100 năm? 

Cái hệ lụy với Trung Quốc theo như nhận định của ông Ngô Đình Nhu trong Chính Đề nay đã thành Sự thật không chối cãi được. 

Để trả món nợ chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 22 tháng 9, năm 1958, đại sứ VNDCCH tại Trung Quốc là ông Nguyễn Khang đã trao công Hàm cho ông Cơ Bằng Phi, thứ trưởng bộ ngoại giao Trung Quốc. Nội dung như sau : 

«Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân  Trung Hoa trên mặt biển »: 

Tiếp theo đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi một công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai  như sau : 

«Thưa đồng chí Tổng Lý, 

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng Lý rõ:

Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc . 

Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Quốc trên mặt bể. 

Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng./. 

Hà Nội ngày 14 tháng 9 năm 1958 

Phạm Văn Đồng 
Thủ tướng chính phủ 
Nước Việt Nam Dân Chủ Công Hòa.»  

Cái hàm hồ và ngu xuẩn là khi Thủ Tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố tôn trọng 12 hải lý của Trung Quốc mà  không có  BẢN ĐỒ ĐÍNH KÈM.  Nếu có bản đồ « Lưỡi bò» của Trung Quốc đính kèm thì lãnh hải Trung Quốc sẽ tiến sát bờ biển miền Trung và Bắc Việt, cũng sẽ sát bờ biển Phi Luật Tân, Indonesia và Mã Lai. 

Lần thứ hai, để trả món nợ đánh chiếm được miền Nam, Trung Quốc thôn tính đảo Hoàng Sa thuộc phần đất của  miền Nam Việt Nam Cộng Hòa năm 1974.  Ngày 3 tháng 5 năm 1976,  tờ báo Sài Gòn Giải phóng, cơ quan ngôn luận của Thành phố Hồ Chí Minh viết một bài xác nhận quần đảo Hoàng Sa thuộc Trung Quốc mà  nguyên văn có câu như sau: 

«Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là ông thầy tín cẩn, đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có được ngày hôm nay, thì chủ quyền Hoàng Sa thuộc Trung Quốc hay thuộc ta cũng vậy thôi. Trung Quốc với ta là hai nước sông liền sông, núi liền núi. Khi nào chúng ta muốn nhận lại quần đảo này. Trung Quốc sẽ sẵn sàng giao lại.»  

Trích tài liệu trên báo Đi Tới số Đặ biệt: Trả Ta sông núi, số 55-56, tháng 3-4/ 2002, chủ nhiệm, chủ bút Đoàn Minh Hóa, trang 13-14. 

Không còn nỗi nhục nào hơn nỗi nhục này. Chính Đạo viết một bài: Tệ hơn cả Lê Chiêu Thống .. 

Riêng ông Dương Danh Dy từng có nhiều năm kinh nghiệm ở Bên Trung Quốc phát biểu trên BBC đại khái rằng: Thế hệ đành anh của chúng tôi đã bị  Trung Quốc lừa, đến lượt chúng tôi cũng không tránh khỏi.  

Bị lừa hay biết là bị lừa vẫn phải ngậm miệng?  

Đã hai lần, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam ở trong tình thế cực đoan tự làm tay sai cho cộng sản Tàu như thứ «phên dậu» [chữ dùng của Chính Đạo] che chắn cho nước Tàu, chống lại Pháp và Mỹ, Đã hai lần ngửa tay xin viện trợ của Tàu cộng sản. Hai lần quỳ gối lệ thuộc Tàu đã là tiền đề cho những nguy cơ của hiểm họa xâm lăng từ phương Bắc khó tránh được. Cái giá phải trả là hai hiệp ước ô nhục cắt đất [30/12/1999] và cắt lãnh hải Bắc Việt [25/12/2000]. 

Cái nhục ấy là trách nhiệm của Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Dy Niên.  

Mỗi lần đạt được một chiến thắng quân sự là mỗi lần trả giá, mỗi lần mang nhục và biện hộ một cách ti tiện. 

Sau trận hải chiến ngày 4/3/1988[mất một phần Trường Sa] với Trung Quốc, tờ Nhân Dân, số ra ngày 26/4/1988 đã tự biện hộ như sau :  

« Đúng là có những lời tuyên bố. Cần phải đặt lại những lời tuyên bố trong bối cảnh lịch sử của nó ... Trong cuộc chiến đấu một mất một còn, chống một kẻ thù xâm lược có sức mạnh quân sự lớn hơn mình nhiều , Việt Nam tranh thủ được Trung Quốc gắn chặt với cuộc chiến đấu của Việt Nam càng nhiều bao nhiêu và ngăn chặn Mỹ xử dụng hai quần đảo cũng như vùng biển Đông chống lại Việt Nam thì càng tốt bấy nhiêu » 

Trích báo Đi Tới, như trên trang, 14. 

Đối với mọi người dân Việt Nam thì hành động này không khác gì hành động bán nước. 

Và những gì Trung Quốc đang làm và sẽ làm như một kẻ đàn anh hung hãn uy hiếp đối với Việt Nam thì mọi người chỉ còn biết chờ và vái trời cho điều đó không xảy ra . 

Và hy vọng là ông  Ngô Đình Nhu đã tiên đoán sai về số phận Việt Mam sau khi cộng sản xâm chiếm được miền Nam. 

  • Nguyễn Văn Lục  
| Trang bìa NSVN Online |
| Ðầu trang | Bình Luận | Tin Tức | Sáng Tác | Thơ Cho Quê Hương |