Tin giờ chót:
Trong ngày 20 tháng 2, Associated Press đã loan tin rằng những
cơ quan có thẩm quyền ở Trung Quốc đã bắt giam một số
người bất đồng chính kiến, gia tăng số cảnh sát viên
trên đường phố, ngưng dịch vụ nhắn tìn dưới hình thức
văn bản (text message) qua hệ thống điện thoại di động,
gia tăng kiểm soát Internet, ngăn chặn thông tin về các cuộc
nổi dậy ở Trung Đông. Cùng trong ngày, Chủ Tịch Nhà Nước
Hồ Cẩm Đào ra lệnh cho những viên chức địa phương giải
quyết những vấn đề nổi cộm của dân chúng làm hại cho
sự hòa hợp và ổn định trong xã hội. 1/
Hình (AP/Xinhua): Chủ
tịch Hồ Cẩm Đào kêu gọi “giải quyết những vấn đề
nổi cộm của dân chúng làm hại cho sự hòa hợp và ổn định
trong xã hội.” tại buổi hội thảo dành cho các viên chức
cấp tỉnh và bộ tại Bắc Kinh ngày 19-02-2011.
oo0oo
Những lãnh tụ độc
tài ở Á châu lo ngại
Những
chế độ độc tài tại Tunisia và Ai Cập bị lật đổ nhanh
chóng bởi những cuộc biểu tình của dân chúng đã làm cho
những lãnh tụ độc tài ở khắp mọi nơi lo sợ. Tại Á
châu, những lãnh tụ này đã theo rõi làn sóng khát vọng dân
chủ lan tràn khắp vùng Trung Đông và tự hỏi làn sóng này
sẽ đi xa đến đâu. Ngay tại Trung Quốc, mặc dù bên
ngoài làm ra vẻ tự tin vào đường lối đúng đắn đã chọn
lựa, chánh quyền tỏ ra thận trọng về biến cố tại Cairo
[thủ đô Ai Cập] vì nó có thể làm sống lại những ký ức
cũ và về những hi vọng mà chánh quyền có thể tái lập
lại.
Những chế độ chuyên
quyền tuyệt đối như Miến Điện và Bắc Hàn có thể cảm
thấy miễn dịch đối với sức mạnh của dân bởi vì những
chế độ này có thể dựa vào sự cô lập và sự đàn áp
tàn bạo tuyệt đối. Trong những chế độ độc tài ở Trung
Á, gần gũi với Trung Đông hơn về địa lý, văn hóa và tôn
giáo, tiếng vang của những cuộc cách mạng mới đây có thể
lớn hơn. Nhưng phần đông người ta nghĩ đến những
điểm của Trung Quốc tương tự với những biến cố vừa
qua.
Ký ức Thiên An Môn
Những điểm tương tự
này có những hậu quả to lớn trên thế giới không phải
chỉ vì vai trò của Trung Quốc ngày càng quan trọng hơn, nhưng
sự lớn mạnh của Trung Quốc đã đưa đến một điều gọi
là “sự đồng thuận Bắc Kinh” (Beijing consensus), theo đó
sự phát triển kinh tế nhanh chóng đáng kể hơn là tự do.
Vào năm 1989, sau cuộc tàn sát tại quảng trường Thiên An
Môn ở Bắc Kinh, khi chế độ cộng sản ở các nước Đông
Âu thay phiên nhau sụp đổ, Trung Quốc là một quốc gia đứng
ngoài lề, chống lại khuynh hướng lịch sử mà một ngày
nào đó nó cũng sẽ bắt kịp. Sự thành công sau đó của
Trung Quốc đã làm giảm bớt niềm tin rằng khuynh hướng tự
do dân chủ chắc chắn sẽ xẩy ra, và khuynh hướng này trở
nên kém ước ao đối với một số người. Ngay cả những
nhà bình luận Tây Phương đã phải thừa nhận rằng hệ thống
của Trung Quốc đã đạt được những điều hứa hẹn.
Những viên chức Trung
Quốc nói rằng quốc gia của họ không thích hợp với chế
độ dân chủ Tây Phương. Một điều họ không đề cập đến
là chính cơ cấu của Đảng Cộng Sản có nguồn gốc Lê Nin
Tây Phương. Ngoài ra họ còn che dấu một yếu tố quan trọng
của Phương Tây không hiện hữu ở Trung Quốc là khả năng
loại bỏ một chính quyền không được dân chúng ưa thích
mà không cần phải có một cuộc cách mạng. Đây là lý do
tại sao mà những cuộc cách mạng ở những nơi khác lại
gây sự chú ý mạnh mẽ.
Ký ức về những cuộc
biểu tình tại quảng trường Thiên An Môn là một lý do khiến
cho những viên chức kiểm duyệt của Trung Quốc làm việc
cần cù để giới hạn việc bàn cãi đến tình trạng bất
ổn tại Ai Cập. Kịch bản rất quen thuộc đối với những
ai có mặt tại Bắc Kinh vào năm 1989: Những cuộc biểu tình
lớn lao, không khí đoàn kết của quần chúng và lòng yêu
nước vùng dậy, đông đảo dân chúng tập hợp tại quảng
trường chính của thủ đô, những khẩu hiệu chống tham nhũng
và độc tài, sự tin tưởng rằng quân đội về phe dân chúng
và chống lại kẻ cầm quyền, ngay cả sự xuất hiện của
những tên du côn ủng hộ chế độ. Tuy nhiên lần này câu
chuyện có một kết thúc vui vẻ hoặc ít nhất tạo ra một
cảm giác thắng lợi và lạc quan.
Báo chí Trung Quốc quả
thực có đề cập đến biến cố làm xụp đổ của chính
quyền Mubarak một cách rõ ràng. Một bài báo viết rằng “Ai
Cập đã thắng một trận đánh, nhưng không phải là cả một
cuộc chiến.” Tờ China Daily lập luận: “Bất cứ một thay
đổi chính trị nào sẽ đều vô nghĩa … quốc gia xụp đổ
cuối cùng sẽ làm mồi cho hỗn loạn.” Tuy nhiên có những
kết luận khác. Mạng Caixin bình luận rằng “Chế độ
chuyên quyền tạo ra xáo trộn; dân chủ xây dựng hòa bình.”
Những lãnh tụ độc
tài Trung Quốc có ba lý do để nghĩ rằng họ có thể gạt
bỏ sự so sánh với Tunisia và Ai Cập. Thứ nhất, Trung Quốc
có ba thập niên phát triển kinh tế một cách tuyệt vời.
Một cuộc điều nghiên do Pew Research Centre thực hiện vào
năm vừa qua cho thấy rằng 87% dân Trung Quốc hài lòng với
sự việc đã diễn tiến trong nước. Thứ hai, ngay cả
nếu không hài lòng, dân chúng cũng không có một nhân vật
nào để quy trách nhiệm: Trung Quốc là một chế độ độc
tài độc đảng, không phải một cá nhân. Không có một bạo
chúa nào cố bám vào quyền lực lâu dài. Vào năm 2002, Đảng
Cộng Sản Trung Quốc đã thực hiện một cuộc chuyển tiếp
quyền hành một cách trật tự và cam kết một cuộc chuyển
tiếp nữa vào năm 2012.
Thứ ba, bộ máy nội
an rất lớn và hiệu lực và quân đội lệ thuộc vào Đảng
Cộng Sản. Nhưng không ai biết lực lượng an ninh sẽ phản
ứng ra sao nếu có lệnh đàn áp một cuộc nội dậy lớn
nữa của quần chúng? Lực lượng này đã sẵn sàng bắn
vào những người biểu tình để dẹp tắt cuộc nổi dậy
của sắc dân Uighurs tại Urumqi, thuộc tỉnh Tân Cương (Xinjiang)
vào năm 2009. Tuy nhiên ngay vào năm 1989, quân đội đã
không chứng tỏ là hoàn toàn đáng tin cậy – Ít nhất có
một sĩ quan cấp tướng đã không tuân lệnh đem quân tiến
vào Bắc Kinh.
Một đảng cộng sản
thật sự tự tin đã không dành quá nhiều cố gắng vào việc
kiểm soát Internet để ngăn chặn người sử dụng so sánh
tình trạng quốc nội với những biến cố ở nước ngoài.
Họ luôn luôn chú ý đến những dấu vết có thể đưa tới
bất ổn và có nhiều lý do để buồn phiền. Nạn lạm phát
lên cao dữ dội vào cuối thập niên 1980 trước khi xẩy ra
cuộc biểu tình Thiên An Môn, nay lại một lần nữa gia tăng.
Những giai cấp trung lưu, thông thường là những động cơ
thúc đẩy những thay đổi chính trị, đang phát triển rất
nhanh. Nạn thất nghiệp của giới trẻ mới tốt nghiệp lên
rất cao làm hao mòn niềm hi vọng của những người đáng
lẽ phải lạc quan về tương lai của Trung Quốc. Hàng năm,
người ta chứng kiến hàng chục ngàn cuộc biểu tình, trong
nhiều trường hợp liên quan đến vấn đề tịch thu đất
đai bởi những viên chức địa phương hỗng hách.
Cây muốn lặng
Những cuộc vùng dậy
mới đây của quần chúng tạo ra hai khó khăn cho những người
bênh vực hệ tư tưởng của Trung Quốc. Thứ nhất, họ không
thể đổ lỗi cho những kẻ thông thường bị tình nghi là
thủ phạm, “những bàn tay lông lá” ngoại bang – điển
hình là Hoa Kỳ. Trái lại những cuộc nổi loạn này một
phần mang tính cách chống Mỹ. Như tại Phi Luật Tân vào năm
1986, Nam Hàn 1987, và Nam Dương 1998, những lãnh tụ độc tài
được Mỹ nuông chiều bị lật đổ.
Thứ hai, những cuộc
nổi dậy thiếu chủ đích tư tưởng và thiếu tổ chức chặt
chẽ. Mật vụ của Trung Quốc rất giỏi trong việc bóp chết
những phong trào chính trị vừa mới đâm trồi. Nhưng họ
đã không thấy được sự bành trướng của tổ chức Phát
Luân Công (Falun Gong) thành một lực lượng chống chánh quyền
trên toàn quốc. Mặc dù có bức tường lửa và những đội
quân kiểm duyệt, lực lượng an ninh Trung Quốc gặp khó khăn
trong việc kiểm soát những trang blog nhỏ, tin nhắn dưới
hình thức văn bản (text message), hoặc những hệ thống thông
tin đại chúng. Cố gắng ngăn chặn thông tin về Trung Đông
chỉ thành công một phần. Đây là lý do tại sao họ cảm
thấy tin tức gây ra rối loạn – bởi vì dân Trung Quốc không
coi đó là ký ức của quá khứ đầy ác mộng, nhưng là viễn
tượng của một tương lai đầy hi vọng.
-
Người dịch: Nguyễn
Quốc Khải
Chú thích:
(1) Anita Chang, “China
tries to stamp out ‘Jasmine Revolution,” Associated Press, February
20, 2011.