Nén
Nhang Kính Dâng Hương Linh
Cố
Tổng Thống Trần Văn Hương Trong Ngày Giỗ Năm Thứ 29
Giáo Già
Ngày
1 tháng 2 năm 2011
H,
Còn
5 hôm nữa là đến ngày giỗ cố Tổng thống Trần Văn Hương,
Cụ qua đời ngày mùng 3 Tết năm Tân Dậu [1982]. Thư Cho Con
kỳ này xin được ghi lại các bài học Giáo Già đã may mắn
học được nơi Cụ thay nén nhang tưởng niệm năm thứ 29
ngày qua đời của vị Tổng thống dân cử cuối cùng của
Việt Nam Công Hòa.

Năm
1982, ngày 28 tháng 1, nhằm ngày mùng 4 Tết năm Nhâm Tuất [1982],
trong lúc gia đình tôi chuẩn bị ‘Cúng Tất,’ để đưa
ông bà khuất mặt trở lại cõi sống bên kia trần gian, thì
bất ngờ được một người bạn, anh S [đã qua đời ở Hawai],
đến nhà báo tin Cụ Trần Văn Hương mới qua đời ngày hôm
trước, tức mùng 3 Tết. Tôi choáng váng, và chợt nghe như
có một luồng nước cực lạnh chạy dọc theo cột xương
sống, từ dưới xương cùng trồi lên đỉnh đầu, rồi lan
mau, khiến óc tôi tê rần, và trong khoảnh khắc toàn thân
nghe như mất hết cảm giác. Hoàn hồn tỉnh lại, tôi sững
sờ nhìn người bạn vẫn còn đứng bên ngoài cổng sắt,
đăm đăm nhìn tôi, như chờ đợi nghe tôi nói một lời nào
đó. Tôi không mời anh vào nhà, mà mở cổng bước ra, rủ
anh đến xe bán cà phê, ở lề đường Nguyễn Tri Phương,
ngay Ngả Sáu Chợ Lớn, uống ly cà phê, để hỏi thêm các
chi tiết cần biết, liên quan đến cái chết của Cụ mà anh
vừa cho tôi biết.
Ðến
nơi, trời chưa đứng bóng, chọn một bàn thấp lè tè, kê
khuất sau một gốc cây lớn, ngồi xuống, rồi lớn tiếng
kêu cô chủ quán ‘cho hai ly cà phê đen nhỏ và hai điếu
thuốc Hoa Mai.’ Trong lúc chờ đợi cô chủ quán pha cà phê,
tôi cất tiếng hỏi S.:
-Cụ
mất lúc nào?
-Hôm
qua. Hồi sáng sớm, anh Ð. đạp xe đến nhà cho tôi hay, rồi
hối hả đạp xe đi, như sợ có người theo dõi. Tôi hỏi
vói theo thì anh Ð. cho biết là tối hôm qua anh T. đến nhà
anh cho hay tin Cu mất, cũng lật đật bỏ đi... Tôi không kịp
hỏi gì hết...
Cô
chủ quán mang cà phê tới. Chúng tôi ngừng nói, nhìn nhau.
Cô ta nhìn tôi, thoáng chút ranh mảnh, nói:
-Hai
Thầy cứ tự nhiên nói chuyện. Không có gì phải ngại!
Tôi
ngước mắt nhìn cô, ngạc nhiên hỏi:
-Cô
muốn nói chúng tôi ngại điều chi?
Chút
ranh mảnh thoáng hiện trên mắt cô chuyển vội sang nụ cười,
cũng không kém phần ranh mảnh. Cô đáp:
-Ngại
em nghe và ngại người khác nghe chuyện hai Thầy vừa nói về
người mới chết hôm qua.
Cả
hai, tôi và S., ngước mắt nhìn cô, như muốn hỏi: ‘Sao cô
biết.’ Chưa kịp lên tiếng thì nghe cô nói tiếp:
-Em
chưa biết người đó là ai; nhưng xem cách nói chuyện của
hai Thầy, và chuyện phải mang ra bàn cà phê ở lề đường
để nói như thế nầy, thì em chắc phải là chuyện quan trọng,
hai Thầy không muốn cho... lối xóm nghe!
Tôi
nhìn thẳng vào mắt cô. Cô cũng đăm đăm nhìn tôi... Tôi
bật cười, hỏi:
-Nói
chuyện người chết thì có gì đâu phải ngại. Ở đâu cũng
có người chết. Ở đâu cũng nói được. Ở đời ai không
chết.
Cô
chủ quán đưa tay lên như muốn ngăn không cho tôi nói tiếp,
và muốn lên tiếng nói gì đó, nhưng lại thôi, im lặng nhìn
tôi như muốn nghe tôi nói tiếp. Tôi tiếp lời:
-Xin
lỗi cô, tôi có hơi đường đột. Có sống phải có chết.
Có người chết tất nhiên có người nói chuyện về người
chết. Ai cũng có thể nói chuyện về cái chết và người
chết. Có luật lệ nào cấm nói chuyện người chết đâu.
Không có người chết thì các tiệm bán hòm, như nhà quàn
‘Tô Bia,’ làm sao sống được.
Cô
lập nghiêm nhìn S., rồi quay lại nhìn tôi, mỉm cười:
-Em
không biết Thầy nầy là ai. Nhưng em biết Thầy. Em đoán chắc
cái chuyện người chết mà hai Thầy vừa nói đó có tầm
quan trọng mà hai Thầy không muốn cho người khác biết.
Tự
nhiên tôi bị đẩy ra khỏi câu chuyện Cụ Hương vừa qua
đời, bị đẩy ra ngoài sự nôn nả muốn nghe thêm các chi
tiết liên quan đến tin Người vừa mất, nhìn thẳng vào mắt
cô chủ quán, nói:
-Ơ
hay! Tự dưng cô nói chuyện tôi không hiểu gì hết. Sao lại
gọi chúng tôi bằng Thầy. Cô nói cô biết tôi, nhưng xin lỗi,
tôi không được biết cô.
Thấy
tình hình có vẻ hơi căng thẳng, không đợi cô trả lời,
tôi tiếp lời với chút bông đùa:
-Chuyện
biết nhau một chiều như con đường ‘Công Lý’ ở trước
tòa án có vẻ nguy hiểm quá!... Chuyện người sống mất hết
việc làm, mất cơm ngon, áo đẹp rồi mất luôn cơm no, áo
ấm, mất nhà cửa, mất bà con, mất bạn bè... khiến không
ai dám nói tới chuyện sống đã đành, tới chuyện chết cũng
không nói được nói nữa thì...
Tôi
chợt ngưng nói, lặng lẽ nhìn cô chủ quán, chờ đợi nghe
cô lên tiếng. Cô thôi mỉm cười, mắt thoáng chút buồn xa
xăm:
-Em
không đùa với Thầy đâu. Không phải chuyện quen biết một
chiều đâu. Thầy quên em, chớ em không quên Thầy. Thầy quên
trò là chuyện thường, nhưng phần lớn trò không quên Thầy,
nhứt là với những vị Thầy có nhiều nét đặc biệt...
như Thầy.
Cô
ngừng nói, cúi xuống, đưa tay cầm muỗng khuấy nhẹ ly cà
phê trước mặt tôi, chăm chăm nhìn tôi đang nhìn lên, xin
phép ngồi xuống, rồi nói nhỏ:
-Thầy
quên, em nhắc Thầy nhớ. Em là M, H.M., thường ngồi ở đầu
bàn, cạnh lối đi giữa giảng đường rộng minh mông, nhưng
chật ních sinh viên. Em chỉ học với Thầy ở ‘Ðại học
Minh Trí’ có mấy tháng thì ‘sập tiệm.’ Ngày 30/4/1975
nghe tin Ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, cả nhà em
hoang mang vô cùng. Sáng hôm sau, tụi em vô trường, thấy không
khí khác lạ hẳn. Thầy đâu không thấy, sinh viên cũng không
có mấy đứa nhốn nháo hỏi nhau những câu không ai trả lời
được. Gom hết những câu hỏi, và vài câu trả lời hiếm
hoi, tụi em được biết Thầy Khoa trưởng đang bận bên Công
ty B.G.I.; Thầy Phó Khoa trưởng đã bỏ chạy trước rồi.
Còn Thầy là Phụ tá, chắc kẹt lo chuyện bàn giao ở TÐC.
Nghe
đến đây, nghĩ chuyện không có gì phải lo lắng lắm, tôi
ngạc nhiên hỏi:
-Sao
cô rành quá vậy?
Cô
thong thả đáp, tuy lời còn có chút cung kính, nhưng cử chỉ
biểu lộ cho thấy hình như cô đang nói với một người bạn
thân nào đó, chớ không phải nói với ông Thầy cũ:
-Em
nghe mỗi người kể một chút, rồi gom lại. Nhưng có điều
em biết không đúng là Thầy lúc đó không còn làm ở TÐC
nữa. Thầy đổi về đâu không ai biết.
Tôi
chận lời cô:
-Sau
đó tôi có đến trường; và mấy ngày sau, ký giấy bàn giao
cho ‘người ta’ hết rồi.
-Phải.
Cả trường còn lại mình Thầy có trách nhiệm. Thầy không
giao thì ai ở đó mà giao trường cho họ. Xong việc, Thầy
cũng đi mất.
-Tôi
còn ở đây chớ đi đâu mà mất.
-Phải,
Thầy đi, nhưng không mất. Hôm đó em có mặt ở trường,
cùng mấy đứa bạn lảng vảng đi qua đi lại sân trước...
Sau khi thấy người mặc áo chemise trắng trở màu cháo lòng,
nhăn nheo, bỏ ngoài quần màu phân ngựa cũng nhăn nheo, chân
mang dép râu, bước lên chiếc xe lạ, ra về, thì tụi em tràn
vào phòng Thầy, hỏi Thầy những điều chúng em chờ biết.
Cô
ngừng nói. Tôi và S. chăm chú chờ nghe cô kể tiếp. Cô thong
thả đưa bàn tay phải trắng mịn, cổ tay tròn mềm, năm ngón
thon dài, móng cắt ngằn, cầm cái muổng bằng nhôm nhỏ, khuấy
nhẹ ly cà phê đen còn phân nửa, để trước mặt tôi, như
một thói quen dễ thương, vì có còn chút đường nào đọng
dưới đáy ly đâu mà khuấy, nói tiếp:
-Hình
như hôm đó Thầy không được bình tĩnh lắm. Thầy cho biết
tất cả được ‘người ta’ cho chuyển qua Trường Luật,
các em chờ qua bên đó học tiếp. Phần Thầy phải chờ quyết
định của ‘cách mạng’ không biết tới chừng nào mới
có. Do đó, coi như Thầy ‘mất dạy.’
Cô
ngừng nói, ranh mảnh nghiêng đầu nhìn tôi một lúc, rồi
mới kể tiếp:
-Thầy
có vẻ mất bình tĩnh mà vẫn nói ‘tếu’ được. Em nghe
vui vui vì hai tiếng ‘mất dạy’ của Thầy. Buồn lo đủ
thứ, nát cả ruột gan, mà Thầy cũng đùa được. Em hỏi
tiếp Thầy: “Nếu tụi em không qua Trường Luật học tiếp
thì sao?” Lưỡng lự nhìn tụi em một lúc, Thầy chợt
mỉm cười nói tiếp: “Nếu mấy em không qua đó học thì
coi như mấy em... 'thất học'....”
Hình
như có ý muốn cho tôi có thời gian nhớ lại câu nói sau cùng
đó, cô ngừng lại một lúc, rồi mới kể tiếp:
-Em
chưng hửng khi nghe Thầy nói câu nói đó. Em thật không ngờ.
Trong hoàn cảnh vô cùng đặc biệt lúc đó mà Thầy lại có
thể phát kiến ra lối dụng ngữ độc đáo như vậy. Bây
giờ, ngồi đây, nghĩ lại chuyện ‘Thầy mất dạy, Trò thất
học’ em nghe xót xa, cay đắng lạ lùng.
Có
người khách mới đến, H.M. ngừng kể, đứng dậy, quay lưng
đi lại xe cà phê, nói:
-Hai
Thầy cứ tự nhiên nói chuyện... người chết, em lo chuyện
em.
Trở
lại chuyện Cụ Hương vừa qua đời, tôi dè dặt hỏi S.:
-Anh
không biết Cụ mất lúc nào và hiện cảnh sống gia đình
Cụ ra sao?
-Lâu
rồi tôi không được tin Cụ, cho đến sáng nay... Lúc nãy
tôi quên kể thêm chút chi tiết quan trọng, là lúc quay lưng
đi anh Ð. có khuyên tôi đừng đến dự đám táng, vì bọn
‘nó’ đông lắm, đừng để bọn ‘nó’ lưu ý mà thêm
phiền, phiền người đi đám và phiền cả gia đình Cụ.
-Bạn
anh khuyên như vậy, mà anh có tính nghe lời nó không?
-Ðột
ngột quá. Tôi chưa biết xử trí ra sao nữa. Anh nghĩ thế
nào? Nên đi hay không nên đi? Ai cũng biết là có mặt mình
hay không có mặt mình đám táng chắc cũng vậy thôi. Xét chung
chắc không có mặt mình gia đình Cụ đỡ phiền phức hơn.
Phần mình không biết thì thôi, chớ biết mà không đến thì
lòng mình không yên, mà đến thì ai đoán được hậu quả
sẽ như thế nào, thân mình đang sợ công an mà chường mặt
ra chỗ đầy công an, chìm nổi đủ loại, chẳng khác nào
giởn mặt với chủ ngục, giởn mặt với tử thần... Còn
anh, anh nghĩ như thế nào? Phần tôi, để đó tính sau. Riêng
phần anh, tôi dứt khoát khuyên anh không nên đi. Bọn ‘nó’
lưu ý anh nhiều lắm.
-Sao
anh biết?
S.
nhỏ giọng trả lời:
-Trong
nhiều cuộc đàm luận, thỉnh thoảng có người nhắc đến
tên anh với nhiều nghi vấn lắm, nhứt là họ thấy anh không
bị ở tù ‘cải tạo’ như các đồng nghiệp của anh. Ở
Sài Gòn ố Chợ Lớn nầy hầu như thành phần nào cũng có
ít nhiều người biết đến anh, vì anh thường có bài viết
đăng trên báo Việt lẫn báo Tàu.
Tôi
ngơ ngác nhìn S., thoáng chút ngạc nhiên về câu anh vừa nói,
hỏi nhỏ:
-Ai
nói với anh như vậy?
-Cần
gì phải có người nói mới biết. Trong số những người
quen với tôi có người chưa từng bao giờ gặp anh, nhưng khi
nói về anh, có chuyện họ còn muốn rành hơn tôi nữa. Tôi
nghe nói, trong một bữa ăn ở Chợ Lớn, một thương gia có
tiếng tăm, nêu câu hỏi: “Không biết có phải anh là cháu
của Trần Văn Trà hay không mà khỏi bị đi 'cải tạo'?...”
-Tôi
có nghe mấy người kể lại chuyện nầy. Nhưng chuyện có
gì quan trọng đâu?
S.
nhìn ra đường, nói tiếp:
-Một
lần khác, nghe nói có một cán bộ Bảo vệ Chánh trị thắc
mắc về vị trí của anh ở TÐC, mà nó nói là ‘nhân dân
phản ánh’ ít nhứt cấp bực của anh phải tương đương
với ‘đại tá hay trung tá’ mà sao anh không đi ‘cải tạo.’
Hình như ‘nó’ có tới nhà anh, hỏi qua lý lịch của anh,
và anh đã xuất trình cho nó xem các loại giấy tờ chứng
minh anh là một nhà giáo, nên không bị ‘tập trung cải tạo.’
Nó có vẻ không tin, nhưng chưa tìm được cách làm khó anh.
-Anh
nói hơi nhiều đó. Anh có ý ngăn không muốn tôi đến dự
đám táng của Cụ thì tôi không đi. Nói nhiều quá coi chừng
có người khác nghe không tiện.
Vừa
lúc đó, H.M., cô chủ quán, quay lại bàn, tự nhiên kéo ghế
ngồi cạnh tôi, nói:
-Một
lần nữa xin Thầy cho phép em ngồi. Thầy đừng ngại. Em nghe
và biết chuyện Thầy tiện hơn là không nghe, không biết!
S.
trở thế ngồi, hình như cho đỡ mỏi, nhưng chủ đích là
để ngay chân khều nhẹ chân tôi. Tôi giả bộ như không biết.
H.M. ranh mảnh nhìn tôi, nói:
-Thầy
đừng rầy và trách em tò mò. Thầy không nhớ em, nhưng em
nhớ Thầy rất rõ. Trước đây, em với mấy đứa bạn trong
lớp thường thắc mắc nhiều về Thầy, mà không biết hỏi
ai. Hình như Thầy biết nhiều người và nhiều việc quan trọng
liên quan đến chánh quyền và giới kinh tế tài chánh, cả
một số người hoạt động chánh trị rất đặc biệt; vì
những chuyện Thầy nói và những điều Thầy dùng làm thí
dụ trong các bài giảng nghe hợp với thời cuộc lắm.
-Thôi
bỏ qua chuyện đó đi. Quên hết đi. Ðừng nhớ lại và cũng
đừng biết thêm gì nữa. Ðổi đời rồi. Em phải biết rằng
nếu có vài việc làm nào đó của tôi trong quá khứ được
coi là ‘đặc biệt’ thì cái ‘đặc biệt ngày cũ đó bây
giờ có thể là hiểm họa.’
Ðang
ngồi đối diện trước mặt tôi, S. chồm tới một chút,
chen lời:
-Tôi
xin lỗi anh, đã lỡ lời. Xin anh và cô chủ quán bỏ qua hết
đi. Thôi mình đi. Nhờ cô M. tính tiền và đừng để ý đến
chuyện chúng tôi nói nãy giờ.
H.M.
đứng dậy nhìn S. nói:
-Em
không dám tính tiền đâu. Hai ly cà phê hôm nay và mấy điếu
thuốc Hoa Mai xin hai Thầy cho em được mời.
S.
lục túi áo lấy mấy đồng tiền để lên mặt bàn, cầm
cái ly đã cạn cà phê, gần hết nước trà lợt, còn chút
cặn màu đen đậm lẫn xác trà màu vàng tái, dằn lên, nhìn
H.M., không nói. H.M. cúi xuống cầm cái ly lên, để qua một
bên, lấy mấy đồng tiền giấy trao lại cho S., nói:
-Thầy
cất đi. Em không lấy đâu. Xin Thầy cho em được mời hai
Thầy. Ðừng để đó có người đi qua để ý không tiện.
H.M.
quay sang nhìn tôi cất giọng đùa vui, cầu cứu:
-Thầy
nói giùm em một tiếng đi! Thầy nói bây giờ em ‘thất học’
nhưng ngày trước em có học với Thầy. Nó khiến em phải
mời hai Thầy. Em sẽ không yên lòng khi gặp được Thầy mà
không mời được Thầy ly cà phê nhỏ với vài điếu thuốc
lá nội hóa, từ cái xe cà phê nhỏ của em. Phần Thầy, Thầy
nói bây giờ Thầy ‘mất dạy,’ nhưng ngày trước Thầy
có dạy em, em chịu ơn Thầy. Bây giờ, tình cờ gặp lại
Thầy, ly cà phê nhỏ với vài điếu thuốc lá giá chẳng đáng
bao nhiêu, em mời thầy để thay lời cám ơn, chẳng lẽ Thầy
không nhận. Ðừng hẹp lòng với em.
S.
lại khều chân tôi. Ðoán chừng anh muốn rời bàn ra đi, nên
tôi nhìn anh, nói:
-Thôi!
Anh chiều ý cô học trò cũ của tôi đi. Mới sáng được
uống cà phê ‘chùa’ cũng là một cái thú... nghe mùi ‘nhang’
thoang thoảng trong chút cà phê vừa ợ ra khỏi cổ.
H.M.
nhìn tôi, khẻ nheo con mắt có đuôi, nói theo tiếng cười:
-Em
cám ơn Thầy. Thầy cứ đùa hoài. Lúc nào Thầy cũng đùa
được. Hồi trước em thích học giờ Thầy có lẽ nhờ chút
‘tếu’ của Thầy trong các dẫn dụ rải rác khắp bài giảng...
Bây giờ, xin cho em được có chút “Tếu” theo Thầy, cứ
coi đây như ngôi “Chùa Nhỏ” của “Thầy-Trò”... Trước
khi đi, xin thầy cho em một ân huệ. Thầy nhớ đừng đi dự
đám táng người mới qua đời đó nghe Thầy!
* * *
Hoạt
cảnh hơn 15 năm trước chợt hiện về, khi tôi được mời
tham dự lễ giỗ Cụ Hương, tại nhà hàng Phú Lâm, San Jose,
Bắc California, Hoa Kỳ, ngày 15 tháng 3 năm 1998.
Trên
đường đến lễ giỗ, tôi ngậm ngùi nhớ lại ngày Cụ qua
đời, mấy ngày ngắn ngủi sau Tết nguyên đán. Hôm đó, tôi
đã nghe lời lời S. và cô sinh viên cũ nên không đến dự
đám táng Cụ, để tránh những phiền phức có thể xảy ra,
nguy hiểm cho bản thân tôi, và có thể gây phiền lụy cho
tang gia. Sau đó, nghe thuật lại, không khí đám táng rất nặng
nề. Công an bảo vệ chánh trị dầy đặc ở cả vòng trong
lẫn vòng ngoài. Khách đến dự có rất nhiều người tang
gia không quen, không biết mặt, và cũng không nhận diện được
thuộc thành phần xã hội nào.
Có
một số người, nghĩ mình không có gì để phải sợ công
an chụp hình hay theo dõi, đến tham dự đám táng, khi về kể
lại cho bạn bè nghe, xác nhận rằng họ thấy có rất ít
người quen hơn kẻ lạ, và người đi dự với sắc mặt hầu
như lúc nào cũng căng thẳng, ít trò chuyện với nhau, như
hoạt cảnh thường xảy ra ở một số đám táng khác. Ða
số đều lặng lẽ ra về, sau khi thắp nhang, lạy trước linh
cửu Cụ, nói vài lời chia buồn với tang gia. Ít có người
ngồi nán lại, và nếu có người nán lại thì cũng chẳng
phải để trò chuyện với nhau theo thói thường, Họ sợ những
lời họ thốt ra, những câu chuyện họ kể, có thể gây nên
chuyện phiền phức cho họ, có khi bị bắt bỏ tù, mà chính
nạn nhơn không biết đã phạm tội gì. Họ thường lấm lét
nhìn ngang ngó dọc một lúc rồi lặng lẽ ra về. Thỉnh thoảng
cũng có người đến chào từ giả tang gia...

Và
hôm nay, cũng nhơn ngày giỗ Cụ, ngậm ngùi nhớ lại 29 năm
trước, xót xa hình dung về đám táng khá đặc biệt của
một con người ngoại hạng, tôi nghe cay đắng nặng lòng.
Tôi không hiểu phận số cay nghiệt nào Trời dành cho Cụ
khiến mỗi lần Cụ xuất hiện trên chánh trường là mỗi
lần đất nước bước vào một biến cố trọng đại. Hay
đúng hơn, khi đất nước bước vào một biến cố trọng
đại, những người đương nhiệm lãnh đạo quốc gia lúng
túng mời Cụ ra gánh vác việc nước đỡ đòn cho họ.
Lần
bước trở về quá khứ của hơn 85 năm trước...
◘
Năm 1926, khi Cụ tốt nghiệp Trường Cao đăng Sư Phạm và
được bổ nhiệm về dạy ở Trường Trung học Mỹ Tho thì
tôi chưa chào đời.
◘
Tháng 8 năm 1945, Cụ bước vào cuộc chiến giành độc lập
cho dân tộc Việt Nam trong tư thế của một người lãnh đạo
Ủy ban Hành chánh Kháng chiến tỉnh Tây Ninh, nơi Cụ được
Chánh quyền Pháp bổ nhiệm làm Thanh tra Học chánh. Ðến khi
Pháp tái chiếm tỉnh này Cụ đưa đoàn quân dưới quyền
rút vào Ðồng Tháp Mười tiếp tục kháng chiến.
◘
Năm 1946-1947, Cộng sản Việt Nam âm thầm dùng nhiều thủ
đoạn độc hại thanh toán các người không theo chúng, đặc
biệt là các đảng phái Quốc gia, để độc quyền tiến hành
cuộc kháng chiến chống Pháp bằng tà đạo, khiến cuộc kháng
chiến càng lúc càng trở nên quyết liệt và đẫm máu hơn,
máu của những người theo Pháp và máu của cả những người
yêu nước chống Pháp, nhưng không theo cộng sản, Cụ giải
tán đoàn quân do Cụ trực tiếp chỉ huy, để trở về thành
như người đi giữa hai lằn đạn.
◘
Cụ giã từ kháng chiến, nơi Cụ có thể bị bách hại, nếu
tiếp tục ở lại, như một số trí thức khác cùng cảnh
ngộ; và sau đó Cụ cũng không hợp tác với Pháp, kẻ đang
cai trị và đàn áp, bốc lột dân Việt, từng khiến Cụ từ
bỏ mọi bổng lộc để chống lại. Cụ chấp nhận lao động
khổ cực để kiếm sống qua ngày, chấp nhận cuộc sống
của người dân bình thường, mưu sinh bằng công sức lao động
cực nhọc của mình.
◘
Ðến năm 1955, Cụ nhận lời mời của Thủ tướng Ngô Ðình
Diệm ra là Ðô trưởng Sài Gòn Chợ Lớn lần thứ nhứt,
khi chánh phủ cần có một nhơn sĩ trí thức Miền Nam có uy
tín, và nhiều khả năng ổn định tình thế đang rất phức
tạp, âm ỉ biến loạn từ nhiều phía, sau cuộc di cư vĩ
đại đưa số lớn trí thức, doanh gia, văn nghệ sĩ và công
chức từ Hà Nội vào Sài Gòn, trốn chạy cộng sản, sau Hiệp
định Genève năm 1954 phân chia đất nước làm hai, đang tái
lập cuộc sống mới có ít nhiều nề nếp phần nào xa lạ
với người địa phương ở đây.
◘
Năm năm sau, tức năm 1960, nhận thấy Thủ tướng Ngô Ðình
Diệm, bây giờ đã là Tổng Thống đầu tiên của Việt Nam
Cộng Hòa, lãnh đạo chánh phủ theo con đường càng lúc càng
hướng về chỗ độc tài, dùng tà đạo để tạo quyền lực
cho gia đình và bè phái, gây nên những tệ hại càng lúc càng
trầm trọng hơn, khiến Việt cộng núp dưới chiêu bài Mặt
Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam có cơ hội khai
thác và bành trướng các hoạt động khủng bố, phá hoại
và lôi cuốn các thành phần bất mãn chế độ bỏ hàng ngũ
quốc gia vô bưng theo chúng, bên cạnh một số người bất
mãn chánh quyền bị Việt cộng lợi dụng làm công cụ tuyên
truyền cho chúng, ngay trong hàng ngũ quốc gia, Cụ đã khẳng
khái cùng 17 nhơn sĩ trí thức khác, ngày 26-4-1960, ký tên chung
trên bản ‘Tuyên ngôn Caravelle’ cảnh giác Tổng thống Diệm
về những tệ hại của chánh phủ do ông này lãnh đạo. Bản
Tuyên ngôn được trình cho Tổng thống Diệm. Khi được công
bố nó đã gây xúc động mạnh trong dư luận chánh giới và
báo chí, cả quốc nội lẫn quốc ngoại. Nó trực tiếp cảnh
giác Tổng thống Diệm về một số sự việc sai trái trầm
trọng, đang gây hại quốc gia, dân tộc; mà có người cho
là Tổng thống không biết, hay biết mà làm ngơ, hoặc chính
đích thân ông, và bào đệ của ông là Ông Cố vấn Ngô Ðình
Nhu, cho tiến hành như một sách lược của chánh phủ. Tuyên
ngôn cảnh giác:
·
Về mặt chánh trị, nó vạch rõ sự sai lầm trầm trọng
trong cuộc bầu cử phản dân chủ, mà điển hình là cuộc
bầu cử Quốc Hội khóa II vừa qua. Nó yêu cầu Tổng thống
cởi giảm chế độ, mở rộng dân chủ, ban bố những dân
quyền tối thiểu, công nhận đối lập, để nhơn dân lên
tiếng, đặng những oan ức uất hận không còn nữa.
·
Về mặt an ninh, nó cảnh giácTổng thống về những
cuộc bắt bớ liên miên những người xét ra không có tội,
không vi phạm luật pháp quốc gia; đặc biệt ở những vùng
bị Việt cộng quấy phá, nơi trước đó là tử địa của
chúng, nhờ tinh thần chống cộng quyết liệt của các lực
lượng giáo phái.
·
Về mặt hành chánh, nó yêu cầu Tổng thống đừng
đem đảng phái chi phối quốc gia, gieo nghi kỵ giữa kẻ trong
‘phong trào’ người ‘ngoài đoàn thể;’ đừng để nạn
tham nhũng lộng hành, phục hồi nhơn tâm, mang lại niềm tin
trong lòng dân chúng.
·
Về mặt quân sự, nó lưu ý Tổng thống đừng đem
tinh thần đảng trị vào làm rối hàng ngũ quân nhơn, đừng
để tệ nạn ‘phong trào’ ‘cần lao’ chia rẽ anh em đồng
đội, đừng khiến người lính và cấp chỉ huy lấy sự trung
thành với đảng, sự vừa ý bề trên làm tiêu chuẩn thăng
quan, thăng cấp; mà phải tẩy trừ tư tưởng bè phái gia tộc
trong hàng ngũ quân đội.
·
Về mặt kinh tế, xã hội, nó yêu cầu Tổng thống
đừng để một đất nước phì nhiêu, phong phú phải lâm
cảnh dân nghèo thất nghiệp, của hết, tiền khan, lúa đầy
đồng không bán được, hàng đầy chợ không người mua, mọi
nguồn lợi tức lọt vào tay một nhóm người đầu cơ, lấy
đảng phái đoàn thể làm bình phong che đậy độc quyền tư
lợi; mà phải dẹp bỏ các chướng ngại chận đường phát
triển kinh tế, tiếp đón mọi đầu tư xuất vốn của bạn
ngoại quốc như của người bổn xứ, đình chỉ mọi hình
thức lấy phu làm xâu...
◘
Bản tuyên ngôn cũng cảnh giác Tổng thống Diệm về nguy cơ
bùng nổ những lượn sóng căm thù, oán hận không sao ngăn
cản nổi, của cả một dân tộc quá đau khổ, đứng dậy
để bẻ xiềng xích đã kiềm hãm họ, để quét sạch thối
tha, tẩy trừ nhũng lạm, bất công, đã bóc lột, hà hiếp
họ. Nó chẳng những không làm nên tiếng kèn báo động giúp
Tổng thống và chánh phủ thức tỉnh, giác ngộ những lầm
lạc, mà lại trở thành chiếc xe chở tù đưa tất cả 18
người ký tên trên đó vào nhà giam, trong đó có Cụ Trần
Văn Hương khiến tình thế càng lúc càng nguy ngập hơn.
◘
Cuối năm 1963, ngày 1/11, chánh phủ Ngô Ðình Diệm bị lật
đổ với hai cái chết thảm thương của Tổng thống và bào
đệ là Cố vấn Ngô Ðình Nhu. Ðất nước bị đẩy mau vào
những cơn biến loạn nối tiếp nhau không ngừng nghỉ, tạo
thêm thuận tiện cho Cộng sản Bắc Việt đẩy mạnh đà xâm
lăng Miền Nam qua chiêu bài Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng
Miền Nam Việt Nam.
◘
Năm 1964, trong cơn xáo trộn khắp mọi mặt, hỗn loạn diễn
ra hầu như hằng ngày ở thủ đô Sài Gòn, Cụ Hương lại
được mời làm Ðô Trưởng Sài Gòn lần thứ hai để đương
đầu với mọi biến động; và sau đó được Quốc Trưởng
Phan Khắc Sửu mời làm Thủ Tướng, giữa lúc tình hình chánh
trị vô cùng căng thẳng, sự xáo trộn đang đi lần tới chỗ
hầu như bất trị, không chỉ riêng ở Thủ đô Sài Gòn, mà
còn ở nhiều địa phương khác, đặc biệt là miền Trung...
◘
Ðến năm 1965, Ðại Tướng Nguyễn Khánh làm chuyện ‘chỉnh
lý,’ ra bản ‘Tuyên ngôn Vũng Tàu,’ giải tán Quốc Hội,
truất quyền Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu, Cụ Hương không
chấp nhận chuyện ngang ngược có thể gây thêm xáo trộn
quốc gia đang cần được ổn định, nên cương quyết không
trao chánh phủ cho Ðại Tướng Nguyễn Khánh. Do đó, Cụ bị
bắt quản thúc tại Vũng Tàu.
◘
Năm 1967, cùng với Cụ Mai Thọ Truyền, Cụ Hương lập liên
danh ứng cử Tổng thống, đối đầu với liên danh của hai
Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ. Những người
có trách nhiệm ít nhiều trong việc tổ chức cuộc bầu cử
lúc đó [Bây giờ nhiều người vẫn còn sống] hẳn biết
rõ những thủ thuật mờ ám nào đã được sử dụng cho liên
danh của hai vị Tướng lãnh trên thắng cử, mặc dầu liên
danh của hai Cụ HươngốTruyền thắng ở hầu hết các thành
phố lớn và dẫn đầu ở Ðô thành Sài Gòn ố Chợ Lớn.
◘
Năm 1968, sau cuộc tổng công kích đẵm máu Tết Mậu Thân
của Việt cộng vào Sài Gòn và các thành phố lớn, tình hình
chánh trị, quân sự, kinh tế ở Miền Nam suy sụp trầm trọng
đến độ hiểm nguy, Cụ Hương lại được mời đứng đầu
sóng, ngọn gió. Cụ hy sinh danh dự, nhận lời Tổng thống
Thiệu ra làm Thủ tướng lần thứ hai. Lần nầy, sau một
năm chấp chánh, Cụ ổn định được tình thế.
◘
Ðến năm 1970, cùng liên danh với Cụ Nguyễn Văn Huyền, Cụ
đắc cử vào Thượng Nghị Viện.
◘
Năm sau, 1971, thêm một lần nữa, vì nhu cầu ổn định của
tình hình, trước những đe dọa của một số thế lực khiến
rối loạn có nhiều nguy cơ xảy ra, từ hàng ngủ quốc gia,
đến hiểm họa xâm lăng thô bạo ngày càng gia tăng cường
độ của Cộng sản Bắc Việt, Cụ Hương lại một lần nữa
hy sinh danh dự, chịu ứng cử Phó Tổng Thống chung liên danh
ứng cử Tổng thống của Tướng Nguyễn Văn Thiệu. Ðiều
này đã được Cụ ngậm ngùi giải thích với phái đoàn Tổng
hội Giáo giới Việt Nam tân nhiệm, do Giáo sư Ðỗ Bá Khê
[Nhiệm kỳ nầy Giáo sư Ðỗ Bá Khê là chủ tịch và người
viết là Tổng Thơ Ký] hướng dẫn đến ra mắt Cụ, mấy
ngày sau kết quả cuộc bầu cử Ban Chấp Hành mới, năm 1974.
Dịp này, tôi đã thấm thía nghe Cụ giải thích về ý nghĩa
ba chữ ‘Tổ Quốc ố Danh Dự ố Trách Nhiệm’ trên chiếc
mũ của người sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Cụ đã
khẳng khái cho biết mặc dầu có một số không nhỏ người
thân cận không đồng ý, lên tiếng trách móc và tìm cách
ngăn cản, Cụ cũng nhứt quyết đặt Tổ Quốc trên Danh Dự,
đặt sự ổn định và an toàn của quốc gia trên danh dự
cá nhơn, khi nhận lời ứng cử chung liên danh với Tướng
Thiệu.
◘
Ðắc cử, làm Phó Tổng thống, Cụ được đẩy lên đầu
ngọn sóng ‘chống tham nhũng,’ Cụ được Tổng thống giao
cho trách nhiệm mà ai cũng ngán là ‘bài trừ tham nhũng.’
Trong trách vụ nặng nề của mình, Cụ đã đối đầu với
muôn ngàn khó khăn, vì nhìn đâu cũng thấy tham nhũng, từ
trên xuống dưới, từ bên tả sang bên hửu, từ trước mặt
đến sau lưng, và... từ một số người thân cận với Tổng
thống Thiệu và một số khác bám sát bên cạnh Cụ như ‘người
thân cận!’ Không nơi nào không có tham nhũng, khiến Cụ phải
thốt lên một câu nói ‘để đời’ là “diệt hết tham
nhũng thì còn ai để làm việc.” Nhiều người cho rằng qua
câu nói đó Cụ thành thật thú nhận rằng Cụ đã bất lực
và đang bất lực. Cụ bất lực trước ‘quốc nạn tham nhũng,’
thứ bất lực chung của mọi người có trách nhiệm hàng đầu
trong các cơ quan công quyền lúc bấy giờ. Nhưng nhìn từ một
góc cạnh khác, tôi thấy câu nói của Cụ không biểu lộ
sự bất lực của cá nhơn Cụ. Trái lại, đó là cách nói
để nhìn nhận một sự thực đau lòng, đụng chạm đến
hầu như toàn diện guồng máy quân đội và chánh quyền hiện
hữu, khiến người tinh ý có thể nhận diện một số người
tham nhũng lừng lẫy ở cả ba cơ quan Tư Pháp, Lập Pháp và
Hành Pháp. Do đó, có thể đã có không ít người trong số
này tìm cách châm biếm câu nói của Cụ, rêu rao rằng Cụ
bất lực, để mong Cụ bực mình cho dẹp bỏ chuyện chống
tham nhũng, cho họ được tha hồ tham nhũng, bất kể tham nhũng
đang là một quốc nạn, nó đang khiến đất nước lâm ngưy,
vì quốc gia đang trên đà suy sụp trầm trọng do từ tội
tham nhũng của họ và đồng bọn. Với tôi, câu nói được
coi như ‘để đời’ của Cụ cho thấy cách ‘chống’ tham
nhũng của Cụ không phải là ‘diệt cho chết hết tham nhũng,’
vì ‘diệt hết tham nhũng thì còn ai để làm việc.’ Nỗ
lực ‘chống’ tham nhũng của Cụ chủ yếu nằm ở chỗ
tìm cách ‘cải hóa’ tham nhũng, tùy hoàn cảnh và điều
kiện khả hữu biến kẻ tham nhũng thành người hiền lương,
từ thượng từng lãnh đạo quốc gia đến người quân nhơn
công chức ở cấp thấp nhứt.
◘
Ðến ngày 21 tháng 4 năm 1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
từ chức, Cụ trở thành Tổng thống dân cử giữa tình thế
vô cùng hổn loạn và bi đát. Cụ không còn bị đẩy ra trước
đầu cơn gió ác nghiệt, không còn bị đẩy lên trên đầu
ngọn sóng hung bạo, như bao nhiêu lần khác trước đây nữa,
mà giữa cơn sóng gió hãi hùng, Cụ bị trao cho tay lái con
thuyền ngập nước không còn người chèo. Cụ đã can đảm
đón nhận nó, và cũng đã can đảm cương quyết từ chối
mọi áp lực bàn giao chánh quyền bừa bãi, ra ngoài định
chế quốc gia, ra ngoài qui định của Hiến Pháp và Luật pháp
quốc gia, để cuối cùng kết thúc cuộc đời của một chánh
khách bất khuất, kết thúc sinh mạng của chính mình, và kết
thúc cả sinh mạng của quốc gia, bằng cú đập tay giận dữ,
bằng những giọt lệ... già thảm thiết, bằng giọng nói
nghẹn ngào hiện thành lời trối bi thương giữa Quốc Hội
lưỡng viện:
“Nếu
ý trời muốn cho nước Việt Nam này không còn nữa thì thôi,
chúng ta sẽ cùng nhau với nước Việt Nam này mà chết... chớ
không thể chấp nhận đầu hàng được.”
◘
Ðến 8 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975, theo quyết định của
Quốc Hội lưỡng viện, Cụ trao quyền Tổng thống cho Ðại
tướng Dương Văn Minh, một Tổng thống không được dân bầu,
để ông nầy đầu hàng Cộng sản Bắc Việt, vào sáng ngày
hôm sau, 30 tháng 4 năm 1975.

Nhớ
lại buổi tiếp kiến Cụ dành cho Tổng Hội Giáo Giới Việt
Nam tại Phủ Phó Tổng Thống năm 1974, song song với việc hy
sinh Danh Dự cho Tổ Quốc, khi chấp nhận đứng chung liên danh
với Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Cụ đã hãnh diện cho biết
thêm rằng Cụ rất sung sướng nhận lãnh tước vị ‘Hạ
sĩ danh dự’ của binh chủng ‘Nhảy Dù,’ ghi đậm lời
tri ơn sâu xa của binh chủng này dành cho Cụ, khi Cụ bất
chấp thế lực của quân đội Mỹ, và sự hiểm nguy của
bản thân, mở cuộc họp báo quốc tế, tố cáo thái độ
bội ước và bỏ rơi chiến hữu Việt Nam Cộng Hòa của quân
đội Mỹ, trong cuộc hành quân Hạ Lào Lam Sơn 719; khiến Chánh
phủ Mỹ lúc đó phải lập tức ra lịnh cho các đơn vị Mỹ
hành quân phải tiếp tục kế hoạch, và xin lỗi về việc
này.
Và
nhớ lại bài diễn văn sau cùng với lời nói sau cùng “chúng
ta sẽ cùng nhau với nước Việt Nam này mà chết... chớ
không thể chấp nhận đầu hàng được” tôi thấy cả thân
dáng già nua đứng thẳng, bên cạnh cây gậy cũng đứng thẳng
của Cụ, bên cạnh những đứa con yêu của Tổ quốc mãi
mãi đứng thẳng, và không mỏi bước đi tới, giữa cuộc
chiến chưa kết thúc, sau ngày 30-4-1975 oan nghiệt.
Cụ
vẫn đứng thẳng cho
tới năm 1978, Cộng sản nêu lý do khoan hồng nhơn đạo để
gọi là trả quyền công dân cho Cụ. Cụ trả lời rằng Cụ
đã là người lãnh đạo quốc gia, nay nếu gọi là khoan hồng
nhơn đạo thì khi nào tất cả công chức, sĩ quan và binh sĩ
của Việt Nam Cộng Hòa đều được ra khỏi trại tù và nhận
sự khoan hồng như vầy thì Cụ sẽ là người nhận cuối
cùng; còn muốn Cụ đi bỏ phiếu để chụp hình thì Cụ không
làm.
Cụ
vẫn đứng thẳng cho
tới một lần khác, Cộng sản đưa báo chí đến muốn Cụ
tuyên bố một lời về chánh sách hòa hợp hòa giải của
họ, Cụ thẳng thắn trả lời rằng hố sâu hận thù mà họ
đã đào ở các trại cải tạo không thể lấp lại được.
Cụ
vẫn đứng thẳng
cho tới khi Ðại sứ các nước Pháp, nước Úc cho người
đến thăm Cụ và cho biết họ có thể can thiệp với Cộng
sản cho Cụ ra khỏi nước với lý do đi trị bịnh, nhưng
Cụ tiếp tục từ chối, cương quyết ở lại chia sẻ cùng
dân quân Miền Nam sự tủi nhục và nghèo đói dưới gông
cùm Cộng sản.
Cụ
vẫn đứng thẳng
cho tới cuối cùng Cụ mất ngày 27 tháng 1 năm 1982, tức ngày
mùng ba Tết năm Nhâm Tuất. Bạn bè, đồ đệ và lính tráng
cũ âm thầm đến chào tiễn biệt và dự lễ hỏa táng của
Cụ.
Tới
nay, cuộc chiến QuốcốCộng chưa kết thúc ngày 30-4-1975.
Nó đang buộc kẻ thắng trận chiến hãi hùng hơn 35 năm trước
ố nói rõ ra là Việt cộng ố phải quỳ gối đi lùi; phải
phủ phục, cúi lạy, van xin kẻ ‘cựu thù ngoại chủng’
ban cho chút ‘bạc’ ơn ‘tối huệ quốc.’ Nó cũng buộc
kẻ cao ngạo ngu đần từ đỉnh cao hoang tưởng phải cong
mình, khom lưng huyễn dụ kẻ ‘cựu thù nội tộc,’ cầu
lụy ‘ngụy quân,’ ‘ngụy quyền’ và ‘ngụy dân,’ xin
họ quên bớt ‘hận thù,’ góp tay ‘dựng lại’ quê hương
bị chúng làm đổ nát, điêu linh, hoang tàn... trên đường
bước tới...
Nếu
lịch sử khó đem thành bại luận anh hùng, thì ai dám đem
thành bại luận về con người Cụ; luận về người ‘Lính
già’ mang tước hiệu ‘Hạ sĩ danh dự’ của
binh chủng Nhảy Dù thiện chiến, hiên ngang trước mọi áp
lực ngoại bang; luận về Cụ ‘Giáo già’ đầy
khí tiết, hiện thân của một sĩ phu ‘đi giữa nhiều lằn
đạn;’ luận về vị ‘Nhơn sĩ già’ hai lần
làm ‘Ðô trưởng,’ từng đi xe đạp trước mọi thách đố
của thời cuộc; luận về Người ‘Chánh khách già’
hai lần làm ‘Thủ tướng,’ có lần không bàn giao chánh
quyền cho kẻ gây rối đất nước, thách đố áp lực bắt
bớ và lưu đày quản thúc; và luận về Người ‘Tổng
thống già’ không chịu đầu hàng cường địch, từ
chối mọi cám dỗ của cuộc sống tự do an nhàn nơi xứ lạ,
từ chối lời mời xuất ngoại với bất cứ lý do nào, để
ở lại chung chia cùng dân quân miền Nam Việt Nam sự tủi
nhục và nghèo đói dưới gông cùm Cộng sản; và sau cùng
chịu chết cùng đồng bào ngay trong lòng đất nước thân
yêu.
Mọi
người, tùy theo quan điểm, có thể đem thành bại luận anh
hùng, có thể phê phán việc làm của Cụ tùy lúc đúng hay
sai, giỏi hay dở, nhưng không ai có thể phủ nhận được
lòng yêu nước, khí tiết và sự thanh bạch của Cụ Trần
Văn Hương, vị Tổng Thống dân cử cuối cùng của Việt
Nam Công Hòa.
* * *
Trong
suốt cuộc đời, tôi rất ít khi có dịp được Cụ Hương
tiếp chuyện, nhưng lần nào được hân hạnh tiếp chuyện
cùng Cụ tôi đều học được ở Cụ những bài học quý
giá, trong đó có ba bài học tôi không bao giờ quên, xin được
nhắc lại thay phần kết bài viết này:
-
Trong
trách nhiệm ‘bài trừ tham nhũng’ Cụ đã dạy tôi bài học
‘cải hóa kẻ lầm lỗi’ chớ ‘không truy diệt người
phạm tội;’ như rửa sạch bàn chân đạp bãi phân dơ rồi
tiếp tục cuộc hành trình, bình an đi tới; chớ không chặt
bỏ nó đi cho thân người được sạch, nhưng lại bị đớn
đau, tàn phế, không được dễ dàng tiếp tục đi hết đoạn
đường còn lại.
-
Trong
khi ép mình đứng chung liên danh ứng cử Tổng Thống với
Tướng Nguyễn Văn Thiệu cụ đã dạy tôi bài học đặt Tổ
Quốc trên Danh Dự cá nhơn, cho dầu đó là danh dự của một
chánh khách liêm khiết và tiết tháo, chưa một lần cong lưng
khuất phục trước bất cứ một thế lực hung bạo nào.
-
Trong
bài diễn văn sau cùng của vị Tổng Thống dân cử sau cùng
của Việt Nam Cộng Hòa, cụ đã dạy tôi bài học thượng
tôn Hiến pháp và Luật pháp quốc gia, bài học ‘ngay lưng’
trị nước, cho dầu cụ đang trực diện cơn hấp hối của
Chánh phủ, và dân tộc đang đứng trước hiểm họa tàn bạo
của cộng sản xâm lược.
Giờ
đây, xin Cụ tha lỗi cho kẻ hèn này, khi được tin Cụ qua
đời sớm hơn một số người khác, đã không đủ can đảm,
cho dầu đó chỉ là thứ can đảm... âm thầm, để âm thầm
đến viếng hương linh Cụỳ, âm thầm dự lễ hỏa táng Cụỳ,
trong nghi thức đơn sơ, tiễn đưa Cụ về bên kia cõi sống
miên viễn đời đời. Xin thắp nén nhang muộn tạ lỗi cùng
Cụ, xin Cụ cho tôi được gọi Cụ bằng Thầy, vị Thầy
tôi không có diễm phúc được học một giờ nào, nhưng lại
có vinh hạnh được học quá nhiều bài học về
Tổ
Quốc và Danh Dự, về sự dấn
thân trị nước và tiết tháo ở đời.
Hẹn
con thư sau
Giáo
Già.
|