LẬT
LẠI HỒ SƠ VỤ ÁN TRỘM CỔ VẬT Ở TỈNH BẮC GIANG
Lê Thanh Tùng
Như
quý vị đã biết ngày 28/06/2006 toà án tỉnh Bắc Giang đã
đưa 9 bị cáo gồm 4 nhà sư và 5 phật tử tại gia ở tỉnh
Bắc Giang và Hà Nội ra xét xử về tội trộm cắp tượng
Phật và cổ vật ở các đình chùa Bắc Giang đã thu hút đông
đảo nhân dân trong vùng cũng như đồng bào Việt Nam tại
hải ngoại. Nguyên do của sự thu hút này cũng chỉ vì đây
là vụ án quan liêu của nhà chức trách điều tra xét xử
một cách hồ đồ của cái gọi là nhà nước “Cộng Hoà
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”. Trong đó kẻ có tội không
được xét xử, người vô tội thì lại bị bắt giam, bị
ép cung, đánh đập tra tấn dã man cốt là để lấy được
khẩu cung bởi vì cái chế độ khốn nạn “trọng
cung hơn trọng chứng”. Thế nhưng mức độ nghiêm
trọng của việc mất cắp các tượng và cổ vật với trị
giá gần 6 tỉ Việt Nam đồng, lúc ấy tương đương với
gần 400 ngàn Mỹ kim, và thái độ của công an nhân dân Việt
Nam khi biết rõ các bị can vô tội nhưng vẫn cố tình ép
buộc tội đã khiến không ít người dân và các giới chính
khách quan tâm và đặt nhiều câu hỏi, phải chăng cuộc trộm
cắp đó có sự đồng loã tay trong nào đó của giới có chức
có thẩm quyền, và để che lấp tội ác của mình, thì họ
phải tìm ra những con dê tế thần ? Thế nhưng hành động
lần này của họ cũng như “vải màn (mùng) không che
được mắt thánh”. Với sự bùng nổ của công nghệ
thông tin nhanh chóng và hữu hiệu như hiện nay thì người
dân đông đảo trong vùng đã can đảm dám đứng lên bênh
vực cho đồng bào vô tội, trước áp lực từ mọi phía,
sự nhập cuộc của các luật sư, nhà báo chân chính, đã
khiến quan toà thuộc cái gọi là “toà án nhân dân tỉnh
Bắc Giang” đã phải thả các bị cáo khỏi cảnh tù
đày. Thế nhưng vẫn chưa được tuyên bố là trắng án và
vô tội, nhưng đây cũng đủ để thấy sức mạnh của người
dân đã phần nào đẩy lùi được bộ máy bạo quyền của
nhà nước cộng sản độc tài toàn trị Việt Nam.
Sau
đây là một đoạn, trích trong cáo trạng dài 16 trang giấy
A4: “Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định như
sau:
-
Vụ thứ nhất:
Khoảng
đầu năm 2001, Phan Hữu Hường: (tức Thích Đức Chính)
là
sư giả đang chấp tác tại chùa Thọ Am, xã Liên Ninh, huyện
Thanh Trì, Hà Nội nghe tin từ các phật tử quê ở huyện Lục
Nam tỉnh Bắc Giang đến thắp hương tại chùa Thọ Am nói
chuyện với Hường về một số pho tượng cổ ở chùa Khám
Lạng – Lục Nam có yểm vàng ở bên trong tượng. Sau đó
Hường đã đi về chùa khám lạng với danh nghĩa là thăm chùa
nhưng thực chất là để trinh sát nắm đường đi, lối lại
của chùa để thực hiện việc trộm cắp tượng phật. Sau
khi trinh sát thực tế về. Hường đã bàn với các tên: Phạm
Mạnh Hùng sinh 1968 đang chấp tác tại chùa Thọ Am, Lê
Văn Thương (tức Thích Tâm Thương) sinh 1973 đang trụ trì
tại chùa Tranh Khúc, xã Duyên Hà, Thanh Trì, Hà Nội và Nguyễn
Quý Đoan (tức Thích Đào Sơn) là đệ tử của Lê Văn
Thương (thời gian đó Đoan đang chấp tác ở chùa Đông Ngũ,
xã Ngũ Thái – Thuận Thành - Bắc Ninh). Về việc tổ
chức đi trộm cắp tượng phật tại chùa Khám Lạng – Lục
Nam tỉnh Bắc Giang. Sau khi bàn bạc thống nhất biết Hùng
lái được xe ô tô, nên Thương đã giao cho Hùng
đi thuê xe ô tô loại 12 chỗ ngồi để làm phương tiện
đi gây án, còn Phan Hữu Hường thì chuẩn bị dụng
cụ như kìm cộng lực, 1 bao tải dứa, 1 thanh sắt soắn nhọn
để phá khóa. Tối ngày 5/6/2001 Hùng đã ra bến xe ô
tô Văn Điển thuê 1 chiếc ô tô màu xanh loại 12 chỗ
ngồi và tự lái tới chùa Tranh Khúc chở Hường. Thương,
Đoan đi về chùa Khám Lạng – Lục Nam để trộm cắp
tượng. Khi đến cửa chùa Khám Lạng, bọn chúng đỗ xe ô
tô rồi mở cửa chùa để trộm cắp tượng ( khi đó cửa
chùa không có khóa cửa) cả 4 tên đã vào chùa lấy 1
pho tượng Di Lạc cao khoảng 70cm nặng khoảng 30 kg bằng
gỗ sơn son thiếp vàng (có từ thế kỷ 17) cho vào bao tải
dứa khiêng ra ô tô để đem về. Trong khi đang thực hiện
hành vi phạm tội thì bị động, tên Hường đã ném kìm cộng
lực cán nhựa màu đỏ ra phía ruộng ngoài cửa chùa rồi
lên xe ô tô đem tượng về chùa Tranh Khúc, xã Duyên Hà nơi
Thương đang trụ trì. Ngay đêm đó bọn chúng đã cậy nắm
yểm tâm ở sau lưng bức tượng để tìm vàng nhưng không
có vàng mà chỉ thấy có 1 giây bùa để trong đó. Sáng
hôm sau bọn chúng gọi cho Nguyễn Thúy Lan ở số nhà
33 phố Hàng Giấy, quận Hoàn kiếm – Hà Nội đến để bán
cho Lan pho tượng này với giá 3 triệu đồng (do Thương trực
tiếp bán; khi bán tượng cho Lan), theo Thương khai là “Lan
hỏi nguồn gốc pho tượng do đâu mà có”, . Thương nói
rõ cho lan biết là bọn Thương mới trộm cắp được tại
chùa Khám Lạng – Lục Nam – Bắc Giang. Theo Lan khai “pho
tượng đó do một nhà sư đem đến nhờ sửa lại, nhưng khi
sửa thấy bị mục hỏng nên Lan đã đem thả trôi sông Hồng”.
Vì vậy cơ quan điều tra không thu hồi được nhưng qua công
tác khám nghiệm hiện trường; cơ quan điều tra đã thu được
chiếc kìm cộng lực mà các bị can đem đi gây án vứt lại
hiện trường.”
Qua
cái đoạn cáo trạng trên cho ta thấy rất phi lý. 3 nhà tu
hàng có địa vị, bổng lộc hẳn hoi với một Lê Mạnh
Hùng đang làm phó giám đốc cho một công ty trách nhiệm hữu
hạn lại rủ nhau đi ăn cắp một pho tượng Phật để bán
được 3 triệu đồng. Chỉ riêng tiền thuê xe ô tô 12
chỗ ngồi ở thời điểm năm 2001 ít nhất cũng phải mất
1 triệu đồng (thời điểm đó rất hiếm xe cho nên giá thuê
rất đắt) chưa kể tiền xăng và tiền mua kìm cộng lực.
Vậy là chỉ còn hơn 1 triệu đồng chia cho 4 người thành
thử ra mỗi người chỉ được 300-400 ngàn đồng. Trong khi
đó ông Phạm Mạnh Hùng không hề biết lái xe ô tô
ấy vậy mà nhà sư Thích Đức Chính lại giao cho Phạm
Mạnh Hùng lái xe ô tô mới tức cười làm sao.
Một
điều hết sức phi lý là bà Lan khai rằng “pho tượng
đó do một nhà sư đem đến nhờ sửa lại, nhưng khi sửa
thấy bị mục hỏng nên Lan đã đem thả trôi sông Hồng. Vì
vậy cơ quan điều tra không thu hồi được nhưng qua công tác
khám nghiệm hiện trường; cơ quan điều tra đã thu được
chiếc kìm cộng lực mà các bị can đem đi gây án vứt lại
hiện trường.”
Pho
tượng này bằng gỗ, mà gỗ đã mục thì không thể chìm
được. Và dòng sông Hồng từ Hà Nội ra tới của biển ở
Hải Phòng những hơn 100 km, hơn nữa vào thời điểm đầu
năm 2001 theo như cáo trạng mô tả thì nước sông Hồng cạn
tới tận đáy mà không ai phát hiện ra pho tượng ấy kể
cũng kỳ lạ thật. Bà Lan là một dân buôn đã không thể
dùng được thì có lẽ không ai lại phải giấu giếm pho tượng
đó làng gì khi thấy nó trôi lổi ở trên sông Hồng.
Đây
là một việc làm vu cáo trắng trợn và vô cùng ngu xuẩn của
công an và viện kiểm sát CS nói chung, công an, viện kiểm
sát tỉnh Bắc Giang nói riêng. Không hề có bằng chứng, vật
chứng và không có tính thuyết phục. Ấy vậy mà cứ dùng
nhụng hình tra tấn dã man theo kiểu trung cổ là “không
có đánh cho bằng có, và có thì đánh cho bằng chừa”.
Rồi 4 lần đưa ra xét xử không thành ấy vậy mà vẫn chưa
được tuyên là trắng án, các bị cáo chỉ được tại ngoại
để điều tra tiếp thì quả là nhân loại không thể nơi
đâu có tòa án giỏi như tòa án CS Việt Nam.
*
YÊU
CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CÁC NẠN NHÂN NHƯ SAU:
1.Thích
Nguyên Kiên
-Yêu
cầu bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần từ
khi bị bắt giam ngày 15/03/2004 đến ngày 28/06/2006 là 835 ngày
(27 tháng 13 ngày). Được tại ngoại từ ngày 29/06/2006 đến
ngày 13/02/2007 mới có quyết định đình chỉ điều tra là
229 ngày (07 tháng 15 ngày).
-Đề
nghị bồi thường theo nghị quyết 388, nhưng với việc phục
vụ nhân dân thường xuyên nhà chùa nhận được 3 triệu đồng/ngày
nhưng Thích Nguyên Kiên chỉ yêu cầu các cơ quan gây thiệt
hại chỉ phải bồi thường 2 tỷ đồng để lấy tiền phụng
sự lại nhân dân và Hội phật giáo.
-Đề
nghị hai cơ quan trên phải đăng báo liên tiếp 03 số báo
Nhân Dân, báo Hà Nội, báo Giác ngộ, Đài truyền hình Việt
Nam, Đài tiếng nói Việt Nam và trực tiếp xin lỗi cải chính
công khai tại xã Phương Quế và và nơi sinh quán của Thích
Nguyên Kiên, có sự tham dự của chính quyền địa phương,
đại diện Hội phật giáo huyện Thường Tín, đại diện
Hội phật giáo Hà Nội.
-
Đề nghị cơ quan đã bắt giữ sư Kiên phải xây dựng lại
chùa Quế mới bởi vì trong khi bị bắt thì sư kiên đang tu
tạo chùa Quế. Mấy năm ở tù, mưa gió làm hỏng, xuống cấp
không thể sử dụng được nữa.
-
Đề nghị bồi thường tổn thất về tinh thần và trau rồi
kiến thức Phật học với số tiền là 1 tỷ đồng để Hội
Phật giáo tiến hành thực hiện lại thủ tục từ đầu đối
với sư Kiên bởi vì trong thời gian giam giữ sư Kiên không
có điều kiện duy trì nếp sinh hoạt của người tu hành theo
quy định của Giáo hội Phật giáo.
-
Đề nghị bồi thường việc thất thu nhập tăng gia sản xuất
trên mảnh vườn Chùa trung bình mỗi ngày là 200 ngàn đồng.
Như vậy 1109 ngày bằng 221 triệu đồng.
-
Chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ:
Tiền
thuốc:
5 triệu
Tiền
khám, chụp: 1 triệu
Tiền
thuê xe đi khám: 7 triệu
-
Tổng cộng số tiền yêu cầu bồi thường là 3 tỷ 270 triệu
đồng và số tiền xây mới ngôi chùa Quế.
2.Ông
Phạm Mạnh Hùng
-
Bị bắt từ ngày )4/12/2003 – 28/06/2006 (tức 30 tháng 25 ngày)
thì được tại ngoại đến ngày 13/02/2007 thì được đình
chỉ điều tra (tức 38 tháng 10 ngày). Khi bị bắt giữ thì
ông Hùng đang làm Phó giám đốc của một công ty trách nhiệm
hữu hạn với mức lương là 5.9 triệu đồng/tháng.
-
Đề nghị bồi thường thiệt hại thu nhập là 245 triệu đồng.
-
Đề nghị các cơ quan bắt giữ phải bồi thường tổn thất
về tinh thần là 500 triệu.
-
Đề nghị các cơ quan phải đăng liên tiếp 03 số báo Nhân
dân, báo Giác ngộ, báo Tiền phong, báo Đại đoàn kiết, báo
Việt Nam Nét, Đài truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt
Nam và trực tiếp xin lỗi cải chính công khai có sự tham gia
đông đảo các cấp chính quyền nơi mà gia đình ông Hùng
đang sinh sống.
-
Yêu cầu bồi thường về thương tật do tra tấn và thần
kinh luôn luôn bị hoảng loạn kể từ ngày có quyết định
đình chỉ điều tra vụ án cho đến nay là 200 triệu đồng.
-
Yêu cầu cơ quan bắt giữ người oan sai phải bồi thường
tiền nuôi 2 con ông Hùng ăn học với mức 3 triệu/tháng bằng
97 triệu đồng.
-
Yêu cầu bồi thường chi phí chăm sóc 2 con với mức 2 triệu
đồng/tháng bằng 78 triệu đồng.
-
Yêu cầu bồi thường tiền thuốc chữa bệnh là 11 triệu
đồng.
-
Tiền thuê luật sư là 10 triệu đồng.
-
Tiền tiếp tế hàng tháng là 600 ngàn x 31 tháng là 18.6 triệu
đồng.
-
Tổng cộng số tiền yêu cầu bồi thường là 1.539.600.000
đồng (một tỷ một trăm năm mươi chín triệu sáu trăm ngàn
đồng chẵn).
3.
Nhà sư Thích Đức Chính (tức Phan Hữu Hường)
-
Yêu cầu các cơ quan bắt giữ và đánh chết Đại đức Thích
Đức Chính phải xây lăng tẩm cho Ngài.
-
Yêu cầu các cơ quan bắt giữ và giết hại nhà sư phải công
khai xin lỗi và đăng 03 kỳ lên các báo Nhân dân, An ninh thế
giới, Đại đoàn kết, Giác ngộ, Tiền phong, Tuổi trẻ, An
ninh thủ đô, Đài truyền hình Việt nam, Đài tiếng nói Việt
Nam và xin lỗi trực tiếp trước đông đảo các cấp chính
quyền và nhân dân nơi chùa Thọ Am, xã Liên Ninh, huyện Thanh
Trì, Hà Nội.
4.
Bà Nguyễn Thuý Lan
-
Yêu cầu các cơ quan bắt giữu phải xây lăng mộ cho Đại
đức Thích Đức Chính và phải đăng báo xin lỗi 03 kỳ trên
các báo sau: Nhân dân, An ninh thế giới, An ninh thủ đô, Đại
đoàn kết, Pháp luật, Giác ngộ, Tiền phong, Tuổi trẻ, Đài
tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam đồng thời
trực tiếp đứng ra xin lỗi trước đông đảo quần chúng
nhân dân, phật tử tại chùa Thọ Am – Liên Ninh – Thanh Trì
– Hà nội.
- Yêu cầu
cơ quan bắt giữ người oan khuất phải bồi thường tổn
thất về vật chất và tinh thần là 150 triệu đồng.
Tôi Lê Thanh
Tùng cực lực lên án về những hành động lưu manh của công
an cộng sản Bắc Giang đã gây ra cái chết tang thương cho
nhà sư Thích Đức Chính và đánh đập vô cùng tàn nhẫn đối
với các nạn nhân oan sai. Tôi đề nghị Tà quyền cộng sản
Bắc Giang cùng Tà quyền cộng sản Hà Nội phải đưa những
kẻ bắc giữ người oan sai ra xét xử nghiêm minh đúng theo
pháp luật và bồi thường thỏa đáng theo như yêu cầu của
các nạn nhân oan khuất như đã nêu ở trên.
Hà
Nội ngày 11 tháng 01 năm 2011Gửi tới Đại hội đảng biểu
toàn quốc lần thứ 11 khai mạc vào ngày mai 12/01/2011.
Lê
Thanh Tùng. Phóng viên Tự do Phong trào Dân chủ Việt Nam và
Khối 8406.
Điện thoại 0915.128.256
Email:aiquocle@gmail.com
|