Hồ
Chí Minh
Là
Thằng Đéo Hoang?
Huy Vũ
Nhà thơ HỮU LOAN, tác giả
bài thơ nổi tiếng MẦU TÍM HOA SIM, đã qua đời vào ngày
18-03-2010 tại Việt Nam. Hầu hết báo chí trong và ngoài nước
đã loan tin buồn này. Ít ngày sau đó trên báo Người Việt
Online có đăng lại một bài báo của nhà văn Viên Linh viết
cho tờ Khởi Hành năm 2007. Qua bài báo người ta được biết,
ông Viên Linh đã điện đàm với nhà thơ Hữu Loan vào ngày
16-05-2007. Trong cuộc điện đàm, nhà thơ Hữu Loan đã “tiết
lộ” với ông Viên Linh rằng, ông ta đã chửi ông Hồ Chí
Minh giữa một đại hội rằng: “Ông là cái thằng đéo
hoang”.
Dưới đây là một
đoạn văn của bài báo nói về vụ chửi này:
“Còn chuyện tôi
chửi Hồ Chí Minh giữa một đại hội. Người ta hô vang Hồ
Chí Minh vĩ đại. Chỉ có tôi không hô. Họ hỏi ý kiến
tôi ra sao? Tôi không trả lời. Ông Hồ hỏi tôi ‘Cháu
đánh giá bác ra sao? Tôi đứng yên không trả lời. Ông hỏi
mãi.
Tôi trả lời. Tôi
nói ở Việt Nam có Bà Trưng Bà Triệu. Con gái giỏi giang.
To gan. Hồ Chí Minh cứ hỏi.
Tôi trả lời: Tôi
không nói, ông cố tình hỏi ông đừng trách nhé. Ông là
cái thằng đéo hoang.”
Thời gian mà nhà thơ
Hữu Loan chửi ông Hồ câu này, chắc chắn là trước năm
1953-1954, trước khi nhà thơ “rũ áo từ quan” và cũng là
trước thời gian ông Hồ cho thực thi cuộc Cách Mạng Ruộng
Đất trong vùng kháng chiến chống Pháp. Ai đã ở trong vùng
Việt Minh kiểm soát vào thời gian ấy, đều biết rõ ông
Hồ đã được bộ máy tuyên truyền của Việt Minh Cộng Sản
tâng bốc lên đến tận mây xanh, và được ca tụng như một
người quyết trí độc thân, ngay từ hồi còn trai trẻ, không
phải vì ông bất lực hay lại cái, mà vì muốn cống hiến
trọn vẹn đời mình cho dân tộc.
Vì bị tuyên truyền
bịp bợm, nên người dân trong vùng kháng chiến chống Pháp
vào thời gian nầy, chỉ được biết những đức tính tốt
đẹp của ông Hồ, và không hề được biết bất kỳ thói
xấu, hay hành vi đồi bại nào của ông ta cả. Nếu dư luận
bỗng có xì ra một điều tồi bại nào đó của ông ta, thì
bộ máy tuyên truyền khổng lồ này lập tức tìm đủ mọi
cách lấp liếm đi, kể cả việc thủ tiêu những người phao
tin. Còn ai vô tình hay cố tình bôi nhọ ông, thì đi tù mọt
gông, không có ngày về.
Khi chửi thẳng vào mặt
ông Hồ như thế, nếu không phải là một câu nói thốt ra
trong lúc bốc đồng, thì nhà thơ ắt hẳn phải là một người
vô cùng can đảm, đáng khâm phục. Tuy nhiên, kẻ viết bài
này cũng có đôi chút hoài nghi là, nhà thơ chửi ông
Hồ như thế có thích đáng không? Vì hoài nghi như thế, nên
bèn vác ngà voi đi soi mói trong đống tài liệu, sách vở,
và báo chí hiện có để tìm hiểu xem nhà thơ chửi ông Hồ
như thế là oan hay ưng cho ông ta?
Để làm công việc này
được chính xác, trước hết ta cần phải phân tích từ đéo
hoang. Theo thiển ý của kẻ viết bài này thì đéo ở đây
là động từ chỉ hành động làm tình hay giao cấu, còn hoang
ở đây là trạng từ chỉ trạng thái hay tính chất của hành
động làm tình ấy. Vậy, theo nghĩa tổng quát, đéo như thế
nào thì bảo là đéo hoang?
Trong kho tàng ca dao Việt
Nam, ta thấy có câu: “đéo lồn mà chẳng coi giờ, đụng
phải bàn thờ đổ cả bát nhang.” Đéo bậy bạ đến
nỗi đổ cả bát nhang trên bàn thờ có phải là đéo hoang
không? Theo kẻ viết bài này, thì đéo mà không coi giờ tốt
hay xấu, nên đã đụng chạm đến thanh danh của ông bà và
tổ tiên là đéo hoang là chí lý lắm! Song dường như lại
không thích hợp lắm với từ đéo hoang mà nhà thơ Hữu Loan
dùng trong câu chửi này.
Tra cứu trong một vài
bộ từ điển Việt-Việt mà tôi có, hay trên mạng internet,
thì hầu như không có bộ nào có định nghĩa từ đéo hoang
cả. Riêng trong bộ VIỆT NAM TÂN TỪ ĐIỂN của Thanh Nghị
có định nghĩa từ con hoang như sau: “CON HOANG dt. Con đẻ
ra lúc chưa có chồng chính thức”. Về phương diện pháp
lý chồng chính thức là người chồng có chứng thư hôn thú
do một cơ quan công lập có thẩm quyền cấp phát.
Phỏng theo định nghĩa
này, ta có thể tạm định nghĩa từ đéo hoang như sau:
“đéo hoang là đéo một người đàn bà lúc người này
không phải hay chưa phải là vợ chính thức”. Trên bình
diện pháp lý, vợ chính thức là người vợ có chứng thư
hôn thú do một cơ quan công lập có thẩm quyền cấp phát.
Nói một cách tổng quát:
“Khi một người đàn ông ăn nằm hay làm tình với một
người đàn bà, mà không có hôn thú hợp pháp trước với
người này, thì gọi là đéo hoang.”
Một điều nên biết
là, đéo hoang, trên bình diện pháp lý, tuy không được coi
là một hành vi chính đáng, nhưng không minh thị cấm đoán.
Trên bình diện luân lý và đạo đức, thì đéo hoang lại
là một điều tồi tệ nhất, đặc biệt là đối với những
người đang nắm giữ quyền cao chức trọng trong chính quyền.
Tổng Thống Clinton của
Hợp Chúng Quốc, quyền uy bao trùm thiên hạ, song chỉ vì đéo
hoang cô Monica Lewinsky ngay tòa Bạch Ốc, giữa ban ngày ban mặt,
lại trong giờ làm việc nữa, nên sứt bứt sang bang và chỉ
còn một chút xíu nữa là mất chức Tổng Thống. Ông Eliot
Spiter, thống đốc bang New York, cũng chỉ vì đéo hoang với
một cô gái làng chơi hạng sang, mà mất chức thống đốc.
Ông Nguyễn Trường Tô,
chỉ vì “đéo hoang” mấy cô nữ sinh mà bị mất chức Tỉnh
Trưởng tỉnh Hà Giang. Nghĩ cũng tội nghiệp cho ông Tô. Đảng
Cộng Sản Việt Nam hiện nay đang hô hào đảng viên và dân
chúng trong nước triệt để học và làm theo gương Hồ Chủ
Tịch Vĩ Đại. Như vậy, ông Tô có làm gì khác hơn lời kêu
gọi tha thiết này đâu, mà trừng phạt ông ta. Đáng lẽ Nhà
Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam phải ban cấp
Huân Chương Hồ Chí Minh hạng nhất cho ông Tô mới hợp tình
hợp lý.
Ông Lê Khả Phiêu khi
còn đang là Tổng Thư Ký đảng Cộng Sản Việt Nam
sang thăm Trung Quốc chỉ vì đụng đến mảnh đất xéo có
vài phân vuông của một cô Sẩm, mà chính phủ Cộng Hòa Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã phải cắt hàng ngàn cây số vuông
lãnh thổ và lãnh hải “bồi thường” cho Trung Quốc. Và
nếu không có vụ đéo hoang này chắc ông Phiêu còn được
làm thêm một nhiệm kỳ 4 năm chức Tổng Thư Ký đảng
Cộng Sản Việt Nam nữa.
Có lẽ cũng vì thế,
nên việc đéo hoang của ông Hồ chẳng những được đảng
Cộng Sản Việt Nam giấu kỹ hơn mèo giấu cứt nên có câu
thơ châm biếm:
Hồ đéo, bí mật
quốc phòng
Ai mà tiết lộ, đi
đong cuộc đời.
Tới đây đã có được
một định nghĩa tạm thời về đéo hoang, và ta chỉ việc
dùng nó như kim chỉ nam để tìm khiếm xem trong số những
mụ đàn bà đã đi bên cạnh cuộc đời của ông Hồ, hễ
ai không là vợ chính thức, tức là ông ta đã đéo hoang người
ấy.
Qua sách, báo, tài liệu,
phim ảnh, v.v.. ta thấy ông Hồ đã giao du thân mật với các
đấng nữ lưu sau đây.
1/ Cô gái bán cơm
ở chợ Đa Kao:
Trong “Hồ Chí Minh,
Con Người và Huyền Thoại” ông Trần Gia Phụng viết về
Nguyễn Tất Thành, tức ông Hồ hồi còn nhỏ, một đoạn
như sau:
“Người ta có thể
đi đến kết luận rằng trong khoảng thời gian 1908-1911, Thành
là một lãng tử vô định. Việc học hành lỡ dở, gia cảnh
ly tán vì người cha rượu chè bê tha, hung dữ, cậu đã vượt
ra khỏi khuôn khổ thông thường của một người dưới phố.
Có thể cậu đã theo cha vào Nam, học nghề bốc thuốc.
Hoặc đã làm chân phụ bếp cho một khách sạn người Hoa,
hay thư ký của một đồn điền nào đó. Trong một phút phẫn
chí vì thất tình với cô gái bán cơm ở chợ Đa Kao, cậu
đã đăng ký làm bồi tầu, hy vọng cuộc sống phiêu lưu trôi
nổi nơi đất lạ sẽ giúp quên đi dĩ vãng, phó mặc mọi
sự, sống trôi nổi theo dòng đời.”
Như vậy, theo ông Trần
Gia Phụng, khi tạm trú trên đất Saigon, cậu Thành có yêu
cô hàng cơm ở chợ Đa Kao, song không rõ vì lý do nào đó
mà cậu Thành hay ông Hồ đã bị cô ta cho ra rìa. Song
trong thời gian kể từ lúc gập gỡ lần đầu, cho tới lúc
“anh đường anh, em đường em”, cậu Thành có kiếm chác
được chút cháo nơi cô hàng cơm hay không? Theo tôi nghĩ, thất
tình đến nỗi phẫn chí, tự nó đã nói lên được là cậu
Thành chưa kiếm chác được gì hết nơi cô hàng cơm cả.
Nếu đã kiếm được chút cháo nơi cô hàng cơm rồi, thì
cậu Thành đâu đến nỗi phải phẫn chí. Nói tóm lại,
việc bảo cô hàng cơm đã là người ăn nằm với cậu Thành
như vợ chồng không chính thức là điều đáng hoài nghi.
2/ Bourdon Pháp Quốc:
Theo giáo sư Nguyễn
Thế Anh, nguyên viện trưởng viện đại học Huế vào thời
gian Tết Mậu Thân, sau khi rời tầu Amiral Latouche Treville để
sống trên đất Pháp bằng nghề chụp hình, ông Nguyễn Ái
Quốc hay ông Hồ có mối liên hệ tình cảm với một cô gái
người Pháp tên là Bourdon. Lá thư đầu tiên mà ông Hồ gửi
cho cô Bourdon được viết vào ngày 10-05-1923. Và lá thư cuối
cùng của cô Bourdon viết cho ông Hồ để khước từ mối
tình này, được viết vào ngày 11-06-1923. Quen biết trong thời
gian quá ngắn ngủi như thế, người ta tin là ông Hồ chưa
có thể “cắm dùi” trên mảnh đất mầu mỡ của cô Bourdon
được. Như thế có nghĩa là cô Bourdon không có thể coi là
vợ không chính thức của ông Hồ được.
3/ Marie Biere Pháp Quốc:
Theo nhà báo Thành Tín,
tức cựu đại tá Việt Cộng Bùi Tín, thì ở Pháp có một
số tài liệu cho thấy, trong thời gian kiếm sống bằng nghề
thợ chụp hình ở Paris, ngoài cô Bourdon, ông Hồ còn có quan
hệ tình cảm với một cô gái Pháp khác tên là Marie Biere
nữa. Song rất tiếc tác giả đã không nói rõ mối quan
hệ tình cảm này kéo dài bao lâu và xâu nông thế nào, nên
không có bằng chứng để thể kết luận là trong mối liên
hệ này “con ong đã tỏ đường đi lối về.” Nói khác
đi là cô Bourdon chưa thể coi là người vợ không chính thức
của ông Hồ.
4/ Hai người vợ Nga:
Trong HO CHI MINH A LIFE,
trang 225, ông William Duiker viết: “Có các nguồn tin khác
cho hay là, sau khi đến Moscow, Nguyễn Ái Quốc được cơ quan
đầu não Quốc Tế Cộng Sản (QTCS) chỉ định cho ông một
người vợ tạm thời. Cũng có tin đồn là ông Hồ đã có
một đứa con gái với người bạn gái ở Liên Bang Xô Viết
(1 )”. Như vậy trong thời gian đến Nga, lần đầu,
đã có tới 2 người đàn bà Nga đi vào đời ông Hồ, một
do Quốc Tế Cộng Sản chỉ định để giúp ông điều hòa
sinh lý, và một do ông tự kiếm lấy.
Trong cuốn CON RỒNG VIỆT
NAM, trang 205, cựu hoàng Bảo Đại cũng viết: “Hồ Chí
Minh có một người vợ Nga và có chung một người con gái,
nhưng ông ta không bao giờ nhắc đến.”
Bà bạn gái mà William
Duiker nhắc đến, và người vợ Nga mà cựu hoàng đề cập,
đều có một mẫu số chung là đứa con gái với ông Hồ,
nên người ta nghĩ rằng, hai bà này là một.
Khi một người là temporary
wife và một người là lady friend thì tất nhiên ông Hồ đã
ăn ở với những người đàn bà này như những người vợ
không chính thức.
5/ Mao Từ Mẫn:
Trong bài viết có tựa
đề là “Hồ Chí Minh Có Rất Nhiều Vợ” tác giả Ngọc
Ân cho biết, vào năm 1924, Đảng cộng sản Liên Xô cử một
phái đoàn cố vấn sang giúp chính phủ Tôn Trung Sơn thành
lập trường “Hoàng Phố Quan Quân Học” ở Quảng Châu.
Trong phái đoàn này ông Pháo-La-Din, tức Borodine, là cố vấn
chính trị; Tướng Gia-Luân, tức Galen, cố vấn quân sự; Nguyễn
Ái Quốc tức Lý Thụy, là bí thư kiêm thông dịch viên.
Trong thời gian ở Quảng
Châu ông Hồ có lấy một người vợ Tầu tên là Mao Từ Mẫn,
là em bà con với Mao Trạch Đông. Bà Mẫn có với ông Hồ
một đứa con gái được đặt tên là Từ Phong. Ngay từ hồi
còn nhỏ cô Phong đã ăn mặc giả trai. Năm 1945, Từ Phong
theo ông Hồ về Việt Nam với tư cách vừa là cháu và vừa
là cận vệ. Vào năm 1950 hay 1951, cô Phong đã ăn mặc trở
lại là một cô gái, để kết duyên với một người họ
Lâm, là người Mao Trạch Đông cho đi theo ông Hồ Việt Nam,
bề ngoài là bảo vệ ông Hồ, song bề trong là để theo dõi
và báo cáo về các hành tung của ông này. Khi ông Hồ
qua đời cô Phong và chồng đã trở về Trung Hoa.
Tác giả Ngọc Ân không
hề đề cập đến chứng thư hôn thú giữa ông Hồ và bà
Mao Từ Mẫn cả. Như vậy ông Hồ và bà Mao, tuy có một cô
con gái chung, song vẫn chỉ là một cặp vợ chồng không chính
thức.
6/ Mẹ của nữ ca
kịch sĩ Hồng Tuyển Nữ:
Cũng vẫn theo tác giả
Ngọc Vân, thì trong thời gian ở Quảng Châu, ông Hồ còn có
một người vợ khác, mà người ta không rõ tên tuổi, mà
chỉ biết bà này trước khi lấy ông Hồ đã có một đứa
con riêng, là nữ ca kịch sĩ Hồng Tuyển Nữ, và sau khi lấy
ông Hồ đã sinh được một cô con gái, được đặt tên là
Lý Xảo Vân. Trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa do Mao Trạch
Đông phát động, Hồng Tuyển Nữ bị người con gái đấu
tố tơi bời. Nghe nói sau đó, Hồng Tuyển Nữ trốn thoát
được sang Đài Loan. Cô Lý Xảo Vân, sau trở thành y
tá phục vụ trong quân đoàn địa phương tỉnh Vân Nam, do
trung tướng Hoàng Nam Hùng, một thành viên của Việt Nam Quốc
Dân Đảng, tốt nghiệp trường Hoàng Phố chỉ huy. Khi quân
đoàn này giải tán, ông Hoàng Nam Hùng mang cô Lâm Xảo Vân
về Hồ Khẩu gửi vào nhà một người Việt tên là Lý
Xuân Lâm, hay Lý Bánh Tây, vì ông Lâm là chủ một tiệm làm
bánh Tây, tức bành mì, trong thành phố này.
Cuộc sống chung giữa
ông Hồ và bà mẹ của ca kịch sĩ Hồng Tuyển Nữ, tuy đã
cho ra đời một cô con gái là Lý Xảo Vân, song vẫn chỉ là
một cặp vợ chồng tạm bợ, nên không thể có chứng thư
hôn thú, vì thế ta không có thể kết luận rằng họ là một
cặp vợ chồng chính thức được.
7/ Tăng Tuyết Minh
(TTM):
Trong TĂNG TUYẾT
MINH NGƯỜI VỢ TRUNG QUỐC CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC, tác giả Hoàng
Tranh (viện phó viện khoa học xã hội Quảng Tây) cho biết
là, vào khoảng giữa tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc, tức ông
Hồ, từ Mạc Tư Khoa đến Quảng Châu, làm việc tại phòng
phiên dịch của cố vấn Borodin, thuộc hội Lao Liên của Tôn
Trung Sơn. Trong thời gian ở đây ông Hồ có bắt liên lạc
được với nhiều người Việt Nam đến đây để hoạt động
cách mạng, trong đó một người là Lâm Đức Thụ và bà vợ
người Tầu của ông ta là Lương Huệ Quần. Hai vợ chồng
này đã mai mối cho ông Hồ một cô nữ hộ sinh, tên là Tăng
Tuyết Minh. Hôn lễ của hai người được cử hành vào tháng
10 năm 1926. Lúc ấy ông Hồ 36, còn TTM 21. Địa điểm tổ
chức hôn lễ là nhà hàng Thái Bình ở trung tâm thành phố
Quảng Châu. Nơi đây cũng là địa điểm tổ chức lễ kết
hôn của Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu một năm về trước.
Trong HO CHI MINH A BIOGRAPHY,
trang 39, tác giả Pierre Brocheux cũng viết: “Một sự kiện
quan trọng trong cuộc sống tình cảm của ông Hồ, là đám
cưới của ông ta với cô Tăng Tuyết Minh, một nữ hộ sinh
và là bạn học của vợ Lâm Đức Thụ, đã được tổ chức
vào ngày 18 tháng 10 năm 1926. Trong một lá thư, Thụ viết là,
‘Ngày hôm nay, Lý Thụy lấy một người bạn học của vợ
tôi’. Vào lúc cưới, cô Minh 21 và ông Hồ 31. Họ đã
phải vượt qua sự phản đối của thân mẫu cô Minh, vì bà
này biết rõ các hoạt động của ông Hồ, cũng như những
khó khăn tiềm tàng về phía gia đình của thân phụ cô ta
nữa, vì gia đình này theo đạo Thiên Chúa đã hai thế hệ….“
Theo tác giả Brocheux
thì tiệc cưới của ông Hồ và bà Minh được tổ chức vào
ngày 18-10-1926 tại một nhà hàng lớn trong thành phố Quảng
Châu, với nhiều người tham dự, song không hề đề cập đến
việc, trước hay sau hôn lễ, đã có một chứng thư hôn thú
được lập bởi nhà chức trách có thẩm quyền. Ở Trung Hoa
cũng như ở Việt Nam vào thời gian ấy, hôn lễ chỉ là nghi
thức theo phong tục cổ truyền trong dân gian; còn việc lập
hôn thú mới được coi thủ tục pháp lý.
Tóm lại việc ông Hồ
lấy cô Tăng Tuyết Minh, dù hôn lễ hay tiệc cưới, được
tổ chức linh đình tại một nhà hàng sang trọng ở Quảng
Châu, với nhiều nhân vật tai to, mặt lớn tham dự đi nữa,
song về mặt pháp lý vẫn không thể coi là một vụ kết hôn
chính thức.
8/ Lý Huệ Khanh:
Trong LỘT TRẤN HUYỀN
THOẠI HỒ CHÍ MINH (bài 2) tác giả Trần Gia Phụng viết: “Theo
một số tài liệu khác, thì trong thời này (thời gian ở Quảng
Châu)’ Lý Thụy còn sống với một phụ nữ Trung Hoa thứ
nhì là Lý Huệ Khanh, em của Lý Huệ Quần. Lý Huệ Quần
là vợ của Lâm Đức Thụ, một đồng chí của Lý Thụy.
Tài liệu này giải thích rằng Nguyễn Ái Quốc đổi tên thành
Lý Thụy là theo họ của Lý Huệ Khanh cho dễ hoạt động.”
Không có tài liệu nào
đề cập đến chứng thư hôn thú giữa ông Hồ và bà Khanh
cả. Rõ ràng là là ông Hồ và bà Khanh không phải là
vợ chồng chính thức theo đúng nghĩa pháp lý.
9/ Đặng Dĩnh Siêu:
Trong cuốn VỀ BA ÔNG
THÁNH nhà báo Thành Tín, tức cựu đại tá Việt Cộng Bùi
Tín, cho biết là theo bà Sophia Quinn Judge, một nhà sử học
Hoa kỳ, một người Mỹ nói tiếng Việt rất thành thạo,
đã bỏ ra nhiều năm để sưu tầm và nghiên cứu các tài
liệu liên quan đến ông Hồ, thì ông Hồ còn yêu cả vợ
ông Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu.
Việc nói rằng, ông
Hồ đã yêu bà ĐDS một cách đơn phương, thì có thể chấp
nhận được. Còn bảo đây là mối tình song phương,
và hai bên đã đi lại với nhau như vợ chồng rồi thì lại
là điều khó tin là có thật. Ông Hồ và ông Chu không xa lạ
gì nhau cả, nên việc qua lại hay ăn nằm với nhau giữ ông
Hồ và bà Siêu trước khi bà này lấy ông Chu (nếu có), có
lẽ nào ông Chu lại không hay biết. Và nếu biết, ông Chu
chắc không ngu gì đi cưới bà Siêu làm vợ chính thức cả.
Còn nếu bảo bà Siêu đã đi lại với ông Hồ khi đang là
vợ chính thức của ông Chu, thì lại càng khó tin hơn nữa.
Ông Chu là một người tài giỏi, về sau đã làm đến chức
Tổng Lý Quốc Vụ Viện nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa,
có lẽ nào lại ngu đến nỗi để bà Siêu cắm hàng đống
sừng lên đầu sao?
10/ Nguyễn Thi Minh
Khai (NTMK):
Theo ông Pierre Brocheux,
trong HO CHI MINH A BIOGRAPHY (trang 63), thì vào tháng 3 năm
1930, cô NTMK được gửi từ Hải Phòng tới Hương Cảng để
phụ giúp ông Hồ trong việc điều hành công việc của chi
nhánh Phòng Viễn Đông ở tại Hồng Kông. Tại đây, mối
liên hệ tình cảm giữa ông Hồ và cô NTMK đã đi xa hơn tình
đồng chí. Brocheux còn cho biết thêm là có hai văn bản của
Phòng Viễn Đông đề cập đến việc ông Hồ xin phép cưới
cô NTMK làm vợ.
Theo ông William Duiker,
trong HO CHI MINH A LIFE (trang 199), thì vào mùa Xuân 1931, ông Hồ
bắt đầu có mối liên hệ tình cảm với một bạn đồng
nghiệp, trẻ tuổi người Việt, và ông hồ đã gửi thư tới
Phòng Viễn Đông chính, có trụ sở ở Thượng Hải, để
xin phép cưới người bạn gái trẻ đẹp này làm vợ. Trong
thư phúc đáp ông Hồ vào tháng 4/1931, ông Noulens, trưởng
Phòng Far Eastern Bureau ở Thượng Hải, đã nhắc nhở
ông Hồ là, đơn xin lấy vợ phải nộp hai tháng trước ngày
cưới. Cũng trong tháng 4 năm 1931, cô NTMK bị Sở Cảnh Sát
Hương Cảng bắt giữ, vì tình nghi dính dáng đến các hoạt
động phá hoại. Vì thế mà cuộc sống lứa đôi của ông
Hồ và cô Minh Khai ở Hương Cảng dang dở, và việc xin phép
cưới cô Minh Khai cũng không được ông Hồ nhắc đến nữa.
Cũng theo ông William
Duiker, trong HO CHI MINH A LIFE, trang 225, thì trong những lá thư
và các báo cáo mật của đảng Cộng Sản Đông Dương ở
Macao gửi cho Far Eastern Bureau, trước khi Đại Hội Quốc Tế
Cộng Sản khai mạc tại Mạc Tư Khoa vào ngày 25-07-1935, cũng
cho biết là vợ Quốc là một trong những thành viên của phái
đoàn tham dự đại hội này. Điều này cho thấy là đảng
CSĐD đã xác nhận NTMK đã là vợ của ông Hồ khi còn ở
Hương Cảng.
Ngay sau khi tới Moscow
để tham dự Đại Hội QTCS ở Moscow, cô NTMK Minh Khai đã khai
trong phiếu lịch rằng, cô là vợ của Lin, bí danh của ông
Hồ ở Moscow. Sau khi tham dự đại hội, cô NTMK được giữ
lại ở Moscow để theo học chính trị ở Lenin School. Trong
thời gian đó ông Hồ cũng đang theo học tại trường này.
Ông Hồ và NTMK đã ở chung với nhau trong căn một phòng, và
trong những phiếu ghi nhận đồ đạc dùng cho phòng riêng của
hai người cũng đều ghi là hai vợ chồng, Khai và Lin, chung
phòng, chung giường.
Nơi trang 63, trong HỒ
CHÍ MINH A BIOGRAPHY, ông Pierre Brocheux viết: “Nếu thật
sự có một mỗi tình lãng mạng thì mối tình này đã kết
thúc một cách đáng thương cho ông Hồ, bởi vì cô NTMK đã
kết hôn với Lê Hồng Phong tại tòa thị sảnh Moscow trước
khi trở về Đông Dương…” (2 )
Trong HO CHI MINH THE MISSING
YEARS, trang 211, tác giả Sophia Quinn –Judge cho biết là ông
Lê Hồng Phong trở về Việt Nam vào năm 1936, và bà NTMK vào
năm 1937; trong khi đó ông Hồ vẫn còn hiện diện ở Moscow.
Có lẽ vì thế mà hiện
nay ở Việt còn đang lưu truyền một câu ca dao rất dí dỏm
rằng:
“Bác Hồ đại
trí đại hiền
Đéo Minh Khai
chán gả liền Hồng Phong
Minh Khai phận
gái chữ tòng
Bác Hồ sái
nhất Hồng Phong sái nhì.”
Như vậy Nguyễn Thị
Minh Khai đã là vợ của ông Hồ vào hai thời kỳ khác nhau,
một vào năm 1931 tại Hương Cảng, và một năm 1935 tại Moscow.
Cả hai thời kỳ đều không có chứng thư hôn thú, nên người
ta không thể nói là cô Nguyễn Thị Minh Khai là vợ chính thức
của ông Hồ được.
10/ Li Sam ở Hương
Cảng:
Vào tháng 4 năm 1931,
cô Nguyễn Thị Minh Khai (NTMK) bị nhà đương cuộc Hương
Cảng bắt, vì tình nghi có dính dáng đến các hoạt động
phá hoại. Sau đó ít lâu, theo ông William Duiker trong HO CHI MINH
A LIFE, trang 200, thì cảnh sát Anh ở Hương Cảng cũng đã tới
căn chung cư của ông Hồ, nằm trong một khu phố đông người,
thuộc đảo Kowloom, vào hồi 2 giờ sáng ngày 6 tháng 6. Tại
đây họ thấy một người đàn ông đang chung sống với một
người đàn bà Việt Nam, trong một gian phòng ở tầng hai.
Người đàn ông khai là người Trung Hoa và tên là T.V. Wong.
Trong khi đó người đàn bà khai là cháu của Wong và tên là
Ly Sam. Song theo các tài liệu tịch thu tại phòng này, cho thấy
là người đàn ông chính là Nguyễn Ái Quốc. Còn người đàn
bà khai tên là Ly Sam lúc xét nhà, về sau, được xác định
là Lý Ưng Thuận, và là vợ của ông Hồ Tùng Mậu, là một
đồng chí thân cận của ông Hồ.
Dụ dỗ một người
đàn bà là vợ của một người vừa là bạn vừa là đồng
chí thân cận để đéo hoang, thì ông Hồ quả là một người
tồi bài hết chỗ chê.
11/ Nông Thị Ngát:
Theo tài liệu của cộng
sản Việt Nam thì ông Hồ từ Trung Hoa về nước vào ngày
08-02-1941 qua cột mốc số 108 biên giới Việt Trung để trực
tiếp lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc theo lệnh
của Quốc Tế Cộng Sản. Khi về đến đất Việt ông Hồ
đóng đô trong một túp lều nằm bên bờ một dòng suối.
Tại đây, một cô gái dân tộc Tầy trẻ đẹp, tên là Nông
Thi Ngát được đưa tới để phục dịch ông Hồ. Cũng tại
căn lều tranh này cô Ngát được ông Hồ kèm cặp rất kỹ
lưỡng về mọi mặt và còn đặt cho cô một tên mới là
Trưng, và còn dặn thêm là: “Từ nay ai hỏi thì cháu nói
mình là cháu chú Thu, tên Trưng”.
Vào khoảng năm 1997,
một tờ báo Xuân có phỏng vấn bà Ngát chuyện này, và được
xác nhận là bà đã đến học tập với ông Hồ ròng rã cả
năm trời. Hàng ngày, trong căn nhà sàn chật hẹp chỉ có một
thầy và một trò. Ông thầy bề ngoài có vẻ đạo đức,
phong nhã; song bề trong vốn là một con yêu râu xanh. Còn cô
học trò lại là một bông hoa rừng, hai gò bồng đảo sương
còn ngậm, một rạch đào nguyên suối chửa thông, nên tránh
sao cảnh, ông thầy râu xanh “làm thịt” cô học trò ngây
thơ như nai tơ giữa rừng được.
Đến tháng 8 năm 1945
khi về Hà Nội để lãnh đạo đảng Cộng Sản cướp chính
quyền, vì ham mê quyền lực nên dường như ông Hồ đã quên
hẳn cháu Trưng . Sau năm 1954 ít lâu, bỗng nhớ tới cô gái
Tầy ngây thơ đã ăn nằm với ông như vợ chồng, trong những
năm đầu của thập niên 1940 ở hang Pắc, ông Hồ đã không
quên nâng đỡ và cất nhắc cô Trưng lên tới chức Tỉnh
Ủy Viên, Ủy Viên Ban Chấp Hành Trung Ương, Chánh Án Tòa Án
Nhân Dân tỉnh Cao Bằng.
Theo tin đồn rộng rãi
trong dân gian, thì trong thời gian cô Ngát được ông Hồ kèm
cặp trong căn nhà sàn bên bờ suối thơ mộng đã sinh ra một
cậu con trai, và cậu này chính là Nông Đức Mạnh, Tổng Bí
Thư đảng Cộng Sản hiện nay.
Trong cuốn HO CHI MINH
A LIFE nơi trang 575, ông William Duiker viết:
“Vào tháng 4 năm
2001, Nông Đức Mạnh một viên chức chính phủ ít được
biết tới, và được đồn đại rộng rãi là con rơi của
Hồ Chí Minh, được bầu làm làm Tổng Thư Ký đảng Cộng
Sản Việt Nam (3 )”
Cũng trong cuốn này,
nơi trang 670, ông William Duiker đã giải thích thêm là:
“Nông Đức Mạnh
đã phủ nhận tin đồn này, song thừa nhận rằng, mẹ ông,
một thành viên dân tộc thiểu số người Tầy, đã phục
dịch ông Hồ như một là một người giúp việc, sau khi ông
này trở về Việt Nam trong những năm đầu của thập niên
1940.”(4 )
Mặt khác, ông ông Nông
Đức Mạnh đã xác nhận với ký giả Kay Johson của tờ Time,
ấn bản vùng Á Châu, phát hành ngày 21-01-2002 tại Hương Cảng
về tin đồn ông ta là con rơi của ông Hồ rằng: “Tôi
phải lập lại và xác nhận rằng điều đó không đúng sự
thật. Tôi có thể nói tên của cha mẹ tôi, nhưng họ đã
chết” và rồi sau đó ông cho biết bố ông tên là Nông
Văn Lai và mẹ là Hoàng Thị Nhị.
Việc chính thức xác
nhận mẹ mình đã phục vụ ông Hồ như là một người giúp
việc, cộng với việc chính thức xác nhận mẹ mình có tên
là Hoàng Thị Nhị, có nghĩa là ông Nông Đức Mạnh gián tiếp
xác nhận bà Hoàng Thị Nhị đã phục vụ ông Hồ như là
một người đầy tớ vào đầu những năm của thập niên
1940. Cho tới nay có rất nhiều tài liệu xác nhận bà
Ngát đã phục vụ ông Hồ như là một người giúp việc vào
những năm đầu của đầu thập niên 1940, nhưng dường như
không có tài liệu nào đề cập đến việc bà Hoàng Thị
Nhị là người giúp việc cho ông Hồ vào thời gian này cả.
Chính vì điểm mập mờ này mà người ta mới đồn là ông
Mạnh chính là con của bà Ngát với ông Hồ. Song vì một nguyên
cớ thầm kín nào đó, bà Ngát đã không thể nuôi hay không
tiện nuôi ông Mạnh, nên đã giao ông ta cho một người cùng
họ là Nông Văn Lai nuôi ngay từ hồi ông Mạnh mới lọt lòng
mẹ. Như vậy người ta có thể kết luận chắc ăn như bắp
là không hề có chứng thư hôn thú giữa ông Hồ và cô Ngát
trong thời gian ở hang Pắc Bó.
12/ Đổ Thị Lạc:
Trong MỘT CƠN GIÓ BỤI,
chương 4 RA HUẾ LẬP CHÍNH PHỦ, cụ Lệ Thần Trần Trọng
Kim có viết một đoạn như sau:
“Về khoảng cuối
năm 1944, Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội lại dời về
tỉnh Quảng Tây, và cho ông Hồ về Bách Sắc để trù liệu
kế hoạch nhập Việt. Sau đó Hội cho ông Minh cùng với 22
đảng viên, phần nhiều là người đảng Phục Quốc, về
nước để khởi sự hành động. Trong số 22 người ấy có
một nữ đảng viên tên là Đỗ thị Lạc là người sau có
đứa con gái với Hồ Chí Minh. Về sau, thấy người ta nói
khi đến địa hạt Bắc Giang, có 3 đảng viên trong 22 người
ấy bị giết vì không chịu theo cộng sản.”
Trong NĂNG ĐỘNG HỒ
CHÍ MINH, trang 143, tác giả Thép Mới viết: “Bác giới
thiệu với bản làng người nữ cán bộ hôm qua cùng về với
Bác: Đây là đồng chí Lạc thay cháu Nông Thị Trưng về đây
ở với đồng bào..”
Theo các tác giả kể
trên, thì rõ ràng là, cô Đỗ Thị Lạc đã đi qua đời ông
Hồ sau cô Nông Thị Trưng, và cô Lạc, dù đã có với ông
Hồ một đứa con gái, song vẫn chỉ là người vợ “không
bao giờ cưới” của ông Hồ”. Nói khác đi là cô Đỗ Thị
Lạc không phải là vợ chính thức của ông Hồ.
13/ Nông Thị Xuân:
Trong bài ÔNG HỒ
CÓ MẤY VỢ, tác giả Trần Gia Phụng viết: “Sau khi hiệp
định Geneva được ký kết vào ngày 20/07/1954, đất nước
bị chia hai, hòa bình được tái lập, Hồ Chí Minh về Hà
Nội làm chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc
Việt). Ban bảo vệ sức khỏe trung ương, chuyên trách về
sức khỏe các nhân vật cao cấp, đã tuyển một phụ nữ
thuộc “gia đình cách mạng” tên là Nông Thị Xuân, người
làng Hà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng,
thuộc sắc tộc Nùng. Cô Xuân được đưa về Hà Nội sống
với ông Hồ năm 1955. Lúc đó ông Hồ đã khoảng 65 tuổi,
còn cô Xuân 22 tuổi.”
Một năm sau cô Xuân
đã cho ra đời một cậu con trai và được ông Hồ đặt tên
là Nguyễn Tất Trung. Sau khi có con với ông Hồ, cô Xuân bèn
đòi ông Hồ phải công khai việc ăn ở lén lút lén giữa
hai người. Nói một cách khác là cô Xuân đã đòi ông Hồ
phải chấm dứt giai đoạn “tiền thông dâm” để bước
sang giai đoạn “hậu hôn thú”. Nhưng rất tiếc đòi hỏi
của cô Xuân đã không được ông Hồ và Bộ Chính Trị chấp
thuận, vì làm như thế là mất hết uy tín của ông Hồ và
đảng Cộng Sản nữa.
Do đó một quyết định,
không rõ xuất phát từ ông Hồ, hay là chỉ do đám đàn em
của ông ta đưa ra là phải thủ tiêu cô Xuân để bịt miệng
càng sớm càng tốt. Quyết định này được giao cho tên đương
kim Bộ Trưởng Nội Vụ lúc bấy giờ là Trần Quốc Hoàn,
tên thật là Nguyễn Cảnh, thực hiện. Trước khi làm việc
này, vì thấy cô Xuân là “gái một con, trông mòn con mắt”
hay “gái một con, thuốc ngon nửa điếu”, nếu đem giết
ngay thì uổng của Trời, nên Hoàn đã ban ơn cho cô Xuân được
sống thêm một vài ngày nữa, để hãm hiếp chán chê trước
đã, rồi mới lấy búa đập vào đỉnh đầu cô Xuân. Sau
đó Hoàn và đàn em đem thi hài cô Xuân dàn dựng và đạo
diền thành một vụ đụng xe chết người ở dốc Cổ Ngư.
Vụ dàn dựng giết cô
Xuân được nhà văn Vũ Thư Hiên mô tả trong ĐÊM GIỮA BAN
NGÀY nơi trang 606 và 607 như sau: “Ta hãy ghi nhận sự việc
này: vào một buổi sang mùa xuân năm 1957, người ta thấy có
xác một người đàn bà bị xe ô tô đụng chết ở dốc Cổ
Ngư lên Chèm, Hà Nội. Xác chết được đưa vào bệnh viện
Việt Đức, được nhận dạng. Đó chính là cô Xuân. Nhưng
xác không được mổ theo thường lệ, mà bị chôn cất vội
vã theo lệnh của Trần Quốc Hoàn..”
Tóm lại ông Hồ đã
ăn nằm với cô Xuân như vợ chồng trong một thời gian khá
dài, và đã có với ông Hồ một đứa con trai, song không hề
được lập chứng thư hôn thú, nên về mặt pháp lý không
thể coi cô Xuân là vợ chính thức của ông Hồ được.
14/ Nguyễn Thị Phương
Mai:
Trong cuốn Ho Chi Minh,
a biography, trang 181, tác giả Pierre Brocheux có viết: “It
was also in 1954 that a young and pretty cadre form Thanh Hoa was chosen
to take care of ‘the psycho-physiological equilibrium and the good health
of Uncle Ho.’ The young woman, Nguyen Thi Phuong Mai, agreed on condition
of official marriage, which was refused ...’ (5 )”
Theo ông Nguyễn Minh Cần,
nguyên Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hà Nội trong
“Thêm Vài Mẩu Chuyện Về Cuộc Đời của Hồ Chí Minh”
thì sau khi Trần Quốc Hoàn, Bộ Trưởng Nội vụ hãm hiếp
và thủ tiêu cô Nông Thị Xuân, Ban Chấp Hành đảng Lao Động
lại sắp xếp và điều động cô Nguyễn Thi Phương Mai, một
tỉnh ủy viên trẻ đẹp của tỉnh Thanh Hóa, về Hà Nội
với dự tính thay thế cô Nông Thị Xuân. Khi tới Hà Nội
cô Phương Mai bằng lòng lấy ông Hồ với điều kiện là
phải tổ chức lễ cưới công khai trước toàn dân trăm họ.
Việc đòi hỏi của cô Phương Mai đã không được ông Hồ
và Ban Chấp Hành đảng Lao Động chấp thuận. Nói khác
đi là, cô Phương Mai chỉ bằng lòng để cho ông Hồ đéo
cô ta một cách chính thức mà thôi, chứ không chịu để cho
ông Hồ đéo hoang. Ở đây người ta cũng có thể kết luận
là ông Hồ đã “đéo hoang hụt” cô Phương Mai.
15/ Một người vợ
Pháp:
Một số tài liệu khác
còn trưng ra một tấm hình, chụp ông Hồ đang khoác tay với
một bà vợ Pháp trẻ đẹp trong một lâu đài cổ kính. Trong
hình cho thấy ông Hồ mập mạp, tuy đã lớn tuổi, nhưng ăn
mặc rất chỉnh tề. Chắc chắn không phải là cậu Nguyễn
Tất Thành hay Nguyễn Ái Quốc còm cõi và ốm đói khi mới
đặt chân lên đất Pháp, sống bằng nghề chụp, và đang
quen biết với cô Bourdon hay Marie Biere, mà là chủ tịch của
nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, không phải là sau năm 1945,
mà là sau năm 1954. Nhìn kỹ tấm hình này, người ta còn nhận
ra một điều đặc biệt là, ông Hồ có vẻ vô cùng mệt
mỏi đến nỗi hai mí mắt sụp xuống không thể cất lên
được nữa, giống như một nông dân đã phải ra sức hì
hục “cày sâu cuốc bẫm” suốt đêm trên thửa đất xéo
mầu mỡ và mỹ miều mới được Đảng và Nhà Nước ban
cấp trong cuộc cách mạng ruộng đất.
16/ Em họ tướng Hoàng
Sâm (6) :
Trong bài HỒ CHÍ MINH
CÓ RẤT NHIỀU VỢ !! tác giả Ngọc Ân viết: “ Trong thời
gian HCM sống tại hang Pắc Bó trên Thái Nguyên, tướng Hoàng
Sâm có một cô em họ khoảng 20-21 tuổi, được Hoàng Sâm
‘bố trí’ đến hang Pắc Bó làm nhiệm vụ ‘cấp dưỡng’
cho Hồ chủ tịch. Hơn một năm sau, cô này mang bầu, nên họ
Hồ đã giao cho đệ tử Khuất Duy Tiến đem cô này đi thủ
tiêu vì tội ‘làm gián điệp cho Tâý! Khuất Duy Tiến (1909-1984)
ra lệnh cho Nguyễn Văn Tiến đem người dàn bà này về bến
đò Gầm, thuộc làng Thọ Đức, cách thị xã Bắc Ninh khoảng
20 cây số, xử bắn tại đây trong khi ‘người nữ gián điệp
này đang mang thai 3 tháng với HCM!”
Vụ giết người này
rất vô lý, khó tin là có thật. Khi nói ông Hồ đang sống
tại hang Pắc Bó, có nghĩa là thời gian trước tháng 8 năm
1945. Khi ấy Việt Minh chỉ có thể hoạt động âm thầm trong
một vùng rửng núi rất nhỏ hẹp quanh hang Pắc Bó. Nếu đi
xa hơn, tất sẽ bị nhà đương cuộc Pháp hay Nhật tóm cổ
bỏ vô tù. Với tình huống như thế, ông Tiến, một
người sau năm1945 làm đến chức Chủ Tịch Uỷ Ban Hành Chính
Kháng Chiến thủ đô Hà Nội, có lẽ không ngu đến nỗi,
sai một tên dần em là Nguyễn Văn Tiến “dẫn độ” một
cô gái mang bầu 3 tháng, làm gián điệp cho Tây, từ hang Pắc
Bó thuộc tỉnh Cao Bằng, băng qua trên một trăm cây số trong
vùng kiểm soát của Tây, để đến bến đò Gầm cách
thị xã Bắc Ninh khoảng 20 cây số, không phải là dìm cô
ta xuống dòng sông cho mất tang tích, mà là xử bắn rồi chôn
xác tại đây.
Nếu chỉ nói là ông
Hồ khi còn tạm trú trong hang Pắc Bó, đã ăn nằm với một
cô cấp dưỡng là cháu tướng Hoàng Sâm, và khi cô này có
bầu 3 tháng, thì ông Hồ bèn sai đệ tử mang một khu rừng
nào đó thủ tiêu, thì còn có thể tin được. Song việc bảo
ông Hồ đã đéo hoang cô cấp dưỡng là em họ của tướng
Hoàng Sâm, đến khi cô này có bầu 3 tháng, thì sai đệ tử
dẫn cô này từ hang Pắc Bó thuộc tỉnh Cao Bằng tới bến
đò Gầm thuộc tỉnh Bắc Ninh dường như không có thể tin
là có thật đươc.
17/ Vera Vasilieva:
Theo nhà báo Thành Tín,
tức đại tá cộng sản Bùi Tín, thì nhà sử học Hoa Kỳ
Sophia Quinn Judge, có cho hay là trong thời gian ông Hồ ở Mạc
Tư Khoa, “cũng có lúc có tình cảm mặn nồng với cả chính
bà Vera Vasilieva”. Nếu cụm từ “tình cảm mặn nồng”
ở đây có ý ám chỉ ông Hồ và bà Vasilieva đã đi lại và
ăn nằm với nhau như vợ chồng, thì ta cần phải xét
lại.
Theo tác gia Sophia Quinn-Judge,
trong HO CHI MINH THE MISSING YEARS, trang 199, thì vào đầu năm1935
bà Vasilieva là người điều hành bộ phận đặc trách các
vấn đề Đông Dương của Comintern (Quốc Tế Cộng Sản).
Theo tác giả William Duiker,
trong HO CHI MINH A LIFE, trang 214, thì bà Vasilieva là người đảm
trách việc giao tiếp giữa sinh viên Việt Nam ở Moscow với
các ban ngành của Comintern.
Cũng theo tác giã Sophia
Quinn-Judge, trong HO CHI MINH THE MISSING YEARS, trang 206, thì đảng
Cộng Sản Đông Dương đã có lần đề cử ông Hồ (khi ông
ta đang theo học tại Moscow) làm đại diện của đảng này
bên cạnh Comintern. Song trong một lá thư phúc đáp không đề
ngày, bà Vasilieva đã thẳng tay bác bỏ đề nghị này với
lý do là “Quốc sẽ phải học tập nghiêm túc trong vòng hai
năm tới, nên không thể đảm trách bất kỳ công việc nào
khác.” Và bà Vasilieva còn giải thích thêm rằng, “chúng
tôi đã có kế hoạch đặc biệt sử dụng ông ta, khi học
xong.”
Theo tác giả Pierre Brocheux,
trong cuốn HO CHI MINH A BIOGRAPHY, trang 61-62, thì vào năm 1938,
không rõ vì lý do nào đó, ông Hồ đã bị đưa trước hội
đồng kỷ luật (a disciplinary board) của Comintern. Đứng
đầu hội đồng này là ông Dmitri Zakharovitch Manuilsky, và hai
thành viên khác là Vera Vasilieva, và Kang Sheng. Trước hội đồng,
bà Vasilieva đã thẳng thắn bênh vực ông Hồ, bằng cách lập
luận rằng, những lỗi lầm mà ông Hồ phạm phải là do sự
thiếu kinh nghiệm mà ra. Trong khi đó, Kang Sheng, một đảng
viên QTCS người Hoa, đòi trừng phạt nghiêm khắc ông Hồ.
Còn ông Manuilsky cũng đã tỏ ra rộng lượng với ông Hồ,
nên ông Hồ được “tha bổng” trong vụ này.
Qua những dẫn giải
trên đây, ta thấy là bà Vasilieva vừa là thượng cấp,
vừa ân nhân của ông Hồ. Và bà Vasilieva người có chức
phận lớn trong ban lãnh đạo Comintern. Mặt khác bà Vasilieva
còn là một phụ nữ Nga đứng đắn, có gia đình và có chồng
con đàng hoàng. Chồng bà là Mark Jorky, và một con gái bà là
Neiya Zorkaya. Nên ông Hồ, dù là tay “chụp giật” có hạng
đi chăng nữa, dù cho ăn kẹo chắc cũng không dám “xàm xỡ”
với bà Vasilieva đâu. Nói tóm lại việc cho rằng ông Hồ
đã đéo hoang bà Vasilieva chỉ là một tin đồn hay chỉ là
một nghi vấn vì thấy bà Vasilieva nâng đỡ ông Hồ hết mình.
18/ Bốn bà vợ người
Thái Lan:
Trong bài HỒ CHÍ MINH
CÓ RẤT NHIỀU VỢ!! tác giả Ngọc Ân viết: “Theo lời
cụ Mai Ngọc Thiệu, tức cụ Cả Sâm, một người bạn thân
với HCM từ nhỏ, sau thành đồng chí của họ Hồ, người
cùng với HCM sáng lập ra Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng
Chí Hội, tiền thân của Đảng Cộng Sản Đông Dương, mà
ông là Xứ Ủy Bắc Kỳ Đầu Tiên, thì trong thời gian họ
Hồ hoạt động ở vùng Bắc Thái, Thái Lan, HCM CÓ TẤT CẢ
BỐN VỢ, đều là người Thái Lan và bà nào cũng có con với
HCM. Nhưng cụ Cả Sâm không rõ bốn bà vợ này có bao nhiêu
con với HCM. Theo cụ thì chỉ có Hoàng Văn Hoan, người đệ
tử ruột của HCM trên đất Thái là biết rõ số con của
bốn bà vợ này”.
Trong phần cước chú
tác giả giải thích thêm về nhân vật Cả Sâm: “Cụ Cả
Sâm di cư vào Nam sau năm 1954, sống tại ấp Nội Hóa xã Bình
An (suối Lồ Ồ) quận Dĩ An, tỉnh Biên Hòa…”
Theo ông Hoàng Tranh, trong
TĂNG TUYẾT MINH NGƯỜI VỢ TRUNG QUỐC CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC,
thì sau khi từ giã bà Tăng Tuyết Minh ở Quảng Châu vào tháng
5 năm 1927 ông Hồ đã trở về Nga; rồi sau đó Cộng
Sản Quốc Tế cử ông Hồ đi hoạt động ở nhiều nước
khác nhau, và đến tháng 8 năm 1929 mới tới Thái Lan. Tại
đây ông Hồ hoạt động với bí danh là Đào Cửu. Rồi
đến đầu năm 1931, ông Hồ lại trở lại Hương Cảng để
hoạt động với bí danh mới là Tống Văn Sơ.
Như vậy, theo ông Hoàng
Tranh, thì ông Hồ đến Thái Lan vào tháng 8 năm 1929, và rời
Thái để trở lại Hương Cảng vào đầu năm 1931. Nói khác
đi là thời gian ông Hồ hoạt động tại Thái Lan khoảng một
năm rưỡi. Trong thời gian ngắn ngủi này, ông Hồ đã lấy
tới 4 bà vợ, là điều mà người ta có thể tạm tin được,
vì ông ta vốn là một người đàn ông không thể thiếu đàn
bà. Song bảo rằng, tất cả các bà này đều có con với ông
Hồ, thì lại là điều rất khó tin, đồng thời việc này
cũng làm cho người ta nghi ngờ luôn cả việc ông Hồ có tới
4 bà vợ Thái trong thời gian ở Thái Lan là điều không hoàn
toàn đúng sự thật.
Tổng kết theo danh sách
tạm thời trên đây, ta thấy có thể có tất cả 23 người
đàn bà dính líu đến cuộc đời của ông Hồ. Trong số này
có 3 người Pháp, 3 người Nga, 4 người Thái, 5 người Hoa,
và 8 người Việt. Song không hẳn ông Hồ đã đéo hoang tất
cả những người đàn bà trong danh sách này. Vì nếu ta xem
xét một cách thận trọng, thì dường như có một vài trường
hợp không lấy gì làm hợp lý. Căn cứ vào danh sách này người
ta tìm thấy ông Hồ có tới 5 người vợ khác nhau trong thời
gian hơn hai năm ở Quảng Châu. lắm.
Qua sách báo và tài liệu,
ta được biết ông Hồ đến Quảng Châu vào tháng 11 năm 1924,
với tư cách là một thành viên trong đoàn cố vấn Liên Xô
bên cạnh chính phủ Tôn Trung Sơn. Khi chiến tranh Quốc Cộng
bùng nổ, ông Hồ phải theo phái đoàn Liên Xô trở về Nga
vào tháng 5 năm 1927. Thời gian ông Hồ sống ở Quảng Châu
khoảng 2 năm ½ (11/1924 tới 05/1927) mà có tới 5 bà vợ (Mao
Từ Mẫn - mẹ ca kịch sĩ Hồng Tuyển Vân - Đặng Dĩnh Siêu
- Lý Huệ Khanh - Tăng Tuyết Minh) gần như chính thức là điều
không dễ.
Theo Hoàng Tranh trong TĂNG
TUYẾT MINH NGƯỜI VỢ TRUNG QUỐC CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC, thì
trong thời gian hoạt động ở Quảng Châu, một phụ tá
đắc lực của ông Hồ là Lâm Đức Thụ và vợ của
Thụ là Lương Huệ Quần đã mai mối cho ông Hồ lấy cô Tăng
Tuyết Minh. Hôn lễ đã được tổ chức tại nhà hàng Thái
Bình vào tháng 10 năm 1926 (7 ).
Theo Trần Gia Phụng trong
LỘT TRẦN HUYỀN THOẠI HỒ CHI MINH (bài 2), thì trong thời
gian hoạt động ở Quảng Châu, ngoài bà Tăng Tuyết Minh, ông
Hồ còn lấy một phụ nữ Trung Hoa khác tên là Lý Huệ Khanh.
Bà Khanh là em gái của bà Lý Huệ Quần, vợ của Lâm Đức
Thụ, một đồng chí của ông Hồ. Vậy theo ông Phụng,
thì bà Lý Huệ Khanh có thể là bà vợ của ông Hồ trước
bà TTM.
Theo tác giả Ngọc Vân,
trong HỒ CHÍ MINH CÓ RẤT NHIỀU VỢ !! thì trong thời gian ở
Quảng Châu, ông Hồ đã lấy 2 người vợ Tầu: “Người
vợ thứ nhất tên là Mao Từ Mẫn, là em bà con với Mao Trạch
Đông. Mao Từ Mẫn có hai chị em. Nguyễn Công Viễn, tức Hoàng
Chấn Đông, tức Lâm Đức Thụ (1890-1947) lấy người chị,
ông Hồ lấy người em. Người vợ thứ hai không rõ tên là
mẹ của nữ ca kịch sĩ Hồng Tuyển Nữ (HTN). Trước khi lấy
HCM, bà này đã có một đời chồng, sinh ra HTN. Thời cách
mạng văn hóa, HTN đã bị con gái ruột của bà đấu tố,
bắt HTN bò như một con chó ở ngoài đường, vừa bò vừa
“sám hối tội” trước mặt con gái và mọi người.”
Đối chiếu những tin
tức này với nhau, người ta thấy ông Hồ, đã có 4 bà vợ,
trước khi cưới cô Tăng Tuyết Minh. Hai trong bốn bà này là
Mao Từ Mẫn và Lý Huệ Khanh đều là em vợ (khác nhau) của
Lâm Đức Thụ. Và khi lấy bà TTM lại cũng do Lâm Đức Thụ
và vợ Lý Huệ Quần mai mối. Nói khác đi là Thụ và Hồ
là anh em cột chèo, Thụ chèo lái và Hồ chèo mũi không phải
chỉ một lần, mà là 2 lần, một lần cho nhà họ Mao, và
một lần cho nhà họ Lý.
Với những tin tức chồng
chéo, luẩn quẩn và không hợp lý như thế kiến cho người
ta khó có thể tin là trong thời gian 2 năm rưỡi ở Quảng
Châu ông Hồ đã có tới 5 bà vợ.
Trong tổng số 23 bà
vợ của ông Hồ, dường như chỉ có bà Tăng Tuyết Minh là
được ông Hồ làm hôn lễ hay tiệc cưới tại một nhà hàng
sang trọng, và còn có thể lập cả hôn thú nữa.
Trong HO CHI MINH A BIOGRAPHY,
trang 63, tác giả Pierre Brocheux có đề cập đến việc ông
Hồ, trong thời làm việc cho một chi nhánh Far Eastern Bureau
(FEB) ở Hương Cảng, có làm đơn xin phép cưới cô Nguyễn
Thị Minh Khai, song không FEB chính ở Thượng Hải chấp thuận.
Do đó, Brocheux có đặt vấn đề là: “Nếu đề nghị này
có thật, thì ông Hồ đã dự tính tái hôn trong khi hôn nhân
trước vẫn còn hiệu lực pháp lý (8 ).” Nói như thế có
lẽ là tác giả muốn ám chỉ là đã có một chứng thư hôn
thú được lập ở Quảng Châu chăng? Vì không chứng minh được
sự hiện hữu của chứng thư hôn thú, nên đây cũng vẫn
chỉ là một sự phỏng đoán mà thôi.
Nói tóm lại trong số
23 người đàn bà dính líu đến ông Hồ, có tới 6 bà là:
Cô hàng cơm chợ Da-Kao, Bourdon, Biere, Vasilieva, Đặng Dĩnh Siêu,
Nguyễn Thị Phương Mai chưa phải là người, hay chưa đủ
bằng cớ để kết luận là người đã ăn nằm với ông Hồ
như vợ chồng. Trong số 17 người còn lại thì không có ai
có chứng thư hôn thú với ông Hồ. Nói một cách khác là
trong số 17 người này không ai là vợ chính thức của ông
Hồ cả. Như thế, ta có thể kết luận rằng, nhà thơ Hữu
Loan chửi ông Hồ: Ông là cái thằng đéo hoang là chí lý lắm
thay!
(1) Other sources suggest
that after his own arrival in Moscow, Nguyễn Ái Quốc had been
assigned a “temporary wife” by Commintern headquarters; it was also
rumored that he had fafhered a daughter by a lady friend in the RSSA.
(2) If there really was a
romantic liaison , one could say it ended poorly for Quốc, since Nguyen
Thi Minh Khai married Le Hong Phong in a city hall in Moscow before returning
Indochina.
(3) In April 2001, the relative
unknown government official Nong Duc Manh, widely rumored to be the illegitimate
son of Ho Chi Minh, was elected general secretary of the VCP.
(4) Nong Duc Manh has denied
these rumors, but he concedes that his mother, a member of the Tay ethnic
minority, served as Ho’s servant after the latter’s return to Vietnam
during the early 1940s
(5) Cũng vào năm 1954,
có một cán bộ trẻ đẹp của tỉnh Thanh Hóa được chọn
để cân bằng tâm sinh ly’ và chăm sóc sức khỏe cho Bác
Hồ. Người phụ nữ trẻ này, cô Nguyễn Thị Phương Mai,
bằng lòng với điều kiện là phải cưới xin chính thức,
song điều kiện này bị từ chối.
(6) Hoàng Sâm tên thật
là Trần Văn Kỳ, sinh năm 1915 tại Lệ Sơn, Tuyên Hóa, Quảng
Bình. Ông theo bố mẹ sang sinh sống ở Nakhon, rồi Chiang Mai
(Thái Lan) và là người theo ông ông Hồ lúc 12 tuổi, khi ông
Hồ hoạt động tại đây.
(7) Theo tác gia Pierre
Brocheux, trong Ho Chi Minh A Biography, trang 39, thì đám cưới của
ông Hồ được tổ chức vào ngày 18 tháng 10 năm 1926.
(8) If the request was genuine,
then Quoc planned on getting remarried while his first marriag was
still legally binding
|