Quỷ
Loạn
Lê Ðiệt, người
làng Phước Trạch, huyện Gò Dầu, lúc nhỏ học hành chăm
chỉ thông minh, đậu bằng tiểu học, bằng cấp thấp nhất
trong ngành giáo dục thời bấy giờ. Khi tuyển sinh vào trường
tỉnh, tên của Lê Ðiệt đứng đầu bảng niêm yết kết
qủa, nức tiếng học giỏi.
Một lần, Ðiệt
đi chơi với đám bạn, ngang qua miếu Thành Hoàng, vô tình,
Ðiệt quay măt vào cửa miếu mà đái. Thần quở, về nhà,
Ðiệt bệnh mấy ngày, bộ phận sinh dục đau buốt. Cha mẹ
Ðiệt biết chuyện, sắm sưœa nhang đèn, hoa quaœ mang đến
miếu tạ tội cho con. Ðiệt khỏi bệnh. Một lần khác, Ðiệt
đi ngang qua miếu, đứng lại nhìn vào và nói:
“Làm thần thụ
hưởng hương khói, không lo vun bồi công đức, phù trì dân
làng, chỉ gây nỗi sợ hã lấy sự hành tội người khác
làm điều linh hiển. Mai sau, ta thành đạt, sẽ ra lệnh phá
boœ miếu này!”
Năm hai mươi tuổi,
Ðiệt
thi tú tài bị hỏng, về nhà đóng cửa, ôn luyện bài vở,
quyết tiến thân theo đường khoa bảng. Chữ nghĩa làm Ðiệt
mờ mắt, phải mang kính cận. Người làng khen Ðiệt ý chí
săt đá. Năm nào mở khoa thi, Ðiệt cũng thi, và cũng hỏng.
Lê Ðiệt có đứa
cháu gái. Lúc Ðiệt thi tú tài lần đầu, nó còn bé, vừa
lên đệ thất. Mãi đến khi nó thành thiếu nữ, chú cháu
cùng vào trường thi tú tài, nó đậu, Ðiệt vẫn hỏng. Nổi
giận, Ðiệt quăng bút, xé sách, chửi cả quan trường giám
khảo. Ðiệt thề không bao giờ thi nữa.
Ðời Thiệu Nguyễn
năm thứ tư, giặc giả nổi lên như châu chấu, bao nhiêu sinh
mạng cung ứng cho chiến trường cũng không. Lệnh tổng động
viên ban ra, biện pháp gắt gao, đón đường bắt lính. Túng
thế, Ðiệt chui vào cưœa tu hành, núp bóng từ bi, trốn lính.
Ba năm sau, Ðiệt bỏ ra ngoài, luôn mồm chửi rủa. Có người
hỏi lý do, Ðiệt nói:
“Chỉ là những
thứ dung tục, thối ta, không ngửi nổi. Giáo chủ đã chết
mấy ngàn năm rồi, bọn đệ tử đang lao đầu về địa ngục.”
Ðiệt lất phất
lang bang, khinh đời, ngạo thế. Ðang dự định trở về làng
cũ, ẩn thân làm người sằn dã thì bị tóm cổ lôi vào quân
trường. Tập cách bắn giết sơ sơ vài tháng, Ðiệt bị đẩy
ra trận mạc. Chưa bắn được viên nào, Ðiệt đào ngũ. Xã
hội không chấp nhận con người bất mãn kinh niên. Ðiệt
lại bị bắt, và lần này không phaœi vào quân trường nữa,
người ta đưa Ðiệt vào tù.
* * *
Cuối tháng Tư
năm Ất Mão, giặc tràn lên như nước vỡ bờ, phất cờ đỏ
khắp nơi. Quan quân Thiệu Nguyễn xẻ nghé tan đàn, đạp lên
nhau mà chạy ra biển. Một số chết chìm, xác thân làm mồi
kình ngạc. Những kẻ chậm chân lần lượt bị xô xuống
hầm tai vạ. Nhà tù chế độ cũ bị phá cửa. Tù cũ thoát
ra ngoài, trong đó có Ðiệt. Cánh cửa tù mau chóng khép lại
vớ những người tù mới. Dân gian thời ấy đã khóc hết
nước mắt cho nỗi nghiệt ngã kinh thiên của tù mới.
Khí thế “cách
mạng” như dầu sôi. Cuộc đổi đời diễn ra nhanh như cướp
cạn. Nền tảng xã hội bị bứng tận gốc. Vô lại, đày
tớ, ăn mày... nhảy lên làm ông chủ . Trí phú, địa hào...
bỗng chốc hóa thành tên đầu đường xó chợ. Sấm ký rao
truyền quỷ loạn. Nhà nhà đóng cửa. Ðêm nghe tiếng ma tru
rợn tóc. Qủy đỏ hiện giữa ban ngày, quấy nhiễu. Dân tình
ta thán, ám khí xung thiên, mây mù vần vũ, mống trời vắt
ngang đỉnh núi. Ðiềm báo thiên tai, chết chóc. Ðiệt kinh
hoàng, muốn tìm chỗ ẩn thân. Trước kia, có thể lẩn trốn
tu hành. Bây giờ, tất caœ đều bị quét sạch, chui xuống
đất, trốn trong lùm bụi cũng không khỏi. Người chết còn
không yên mồ mả, nói chi người sống.
Phá
mả tìm vàng
Cạy nắp áo
quan
Huyệt sâu
chấn động hồn thiên cổ
Gỗ đá còn
đau nhức thấu xương.
Ðiện bị bắt trong
đợt truy quét tàn dư Mỹ Ngụy, phải đi học tập chính sách
mới một tuần, chủ yếu là tự giác làm tờ khai ba đời
lý lịch. Ðiệt khai: Ðời ông, không biết rõ. Ðời cha, không
theo thực dân Pháp. Và đời của Ðiệt, bị bắt đi lính
nhưng đào nguœ để tỏ rõ tinh thần phản chiến.
Thời “cách mạng”
mới vào, ban ngày lo lùng bắt tàn dư Mỹ Ngụy, việc tra hỏi
thường diễn ra vào ban đêm. Một đêm, Ðiệt được gọi
lên phòng làm việc.
“Phản chiến
nghĩa là gì?”
“Chống chiến
tranh!”
“Láo! Phản động!
Chống cách mạng hả!”
“ Không chống
cách mạng.”
“Lý luận một
cách logic, cách mạng làm đấu tranh giải phóng. Chống chiến
tranh là chống cách mạng! Chống cách mạng là bảo vệ Mỹ
Ngụy! Ngươi là ai?”
“Lê Ðiệt!”
“Lê Ðiệt là
ai?”Là ta!”
“Quân xả lá!
Hãy trả lời nghiêm túc! Ta là ai?”
“....”
“Câm hả? Là
Ngụy! Hiểu chưa?”
*****
Ðiệt được
trả về làng cũ, bắt đi làm xâu công trường thủy lợi.
Thót bụng cháo rau, khoai sắn, suốt ngày quần quật giữa
chốn đầm lầy nước đọng. Muỗi, đỉa hoành hành hút máu.
Keœ đói lao nhao. Thuốc thang không đến tay người bệnh. Thiên
tai, mất mùa, lại thêm sưu cao, thuế nặng. Dân lành kêu rên
khôn xiết. Khổng Khâu viết Hoàng Thiên hữu nhãn, mà Lão
Ðam lại nói Thiên Ðịa bất nhân. Làm người chẳng biết
tin ai, kêu trời không thấu, đau khổ nhìn nhau, không dám khóc.
Thời ấy, có ông thi sĩ tên Chu Vương Miện, làm thơ tả oán,
còn truyền lại đến sau này:
Ta đến
đó vùng đất phèn vàng xậm
Cuốc đất
cằn trên lớp cỏ tai heo
Ngày mười
tiếng khom lưng cùng nước đục
Nào bùn non
beng xeœng mũ tai bèo
Yêu quê hương
không gì hơn đào kinh
Dẫn nước
biển vào đồng bằng phá lúa
Ôi một thuở
gạo cơm thành sỏi đá
Ðời văn thơ
đi vỡ núi be bờ
Ta ở đó ba
năm dài sáu tháng
Ðến tình
cờ và ra đi chẳng tiển đưa
Quần áo rách
phơi ra lòng no ấm
Chút tự do
như cơm sấy trên lò...
Thời Tần Thủy
Hoàng, kẻ trọng tội bị khắc chữ lên mặt đày đi xây
Vạn Lý Trường Thành đến chết. Thời “cách mạng”, ai
mang tiếng Ngụy, ba đời con cháu không ngóc đầu lên được.
Ðiệt còn độc thân, quyết không lấy vợ, tuyệt đường
con cái, khỏi chịu cái di họa đời sau. Ðiệt nói với người
đồng cảnh:
“Ta hối, xưa
kia hai thế đối đầu còn đang tranh chấp, ta không chịu tiếp
tay diệt lũ vô thần. Bây giờ đã muộn. Ta không thiết sống
nữa!”
Người ấy sợ
hãi, lãng đi, không dám nghe.
Một ngày, Ðiệt
đang cầm xẻng đắp đê. Có hai đốc công đến gần. Bất
ngờ Ðiệt vung xẻng chém tét đầu một tên chết tốt. Ðiện
bị tên thứ hai bắn gục. Lôi trong túi áo Ðiệt, có một
bức thư ngắn như một lời nguyền:
“Ta chết,
thề làm ma báo oán kẻ phủ nhận thiên địa qủy thần.”
Ðiệt chết bảy
ngày, miếu Thành Hoàng bị phá bỏ. Và không lâu sau đó, những
kẻ phá miếu bỗng nằm lăn ra hộc máu tươi mà chết. Có
người nói, chúng ăn uống bị trúng độc. Cũng có người
nói, chúng bị hồn ma của Ðiệt vật chết.
|