Lê
Thơm
Lời mở:
Tôi
ra khỏi trại cải tạo, mười lăm năm rồi. Tôi vẫn nhủ
với lòng, hãy quên những ngày khốn khổ ấy đi. Quên để
mà sống. Trí nhớ của tôi bây giờ tồi lắm. Tôi quên nhiều
chuyện, nhưng chuyện trong tù tôi không sao quên được. Nó
hằn sâu trong tâm tôi, như cây đinh đóng vào cột xương sống,
làm dấu mốc thời gian. Mỗi lần trí nhớ cục cựa, là mỗi
lần đau.
Sau mỗi lần viết
về trại tù CS, tôi lại tự nhủ với lòng, đây là bài cuối
cùng, không nhắc đến nữa. Nhưng nó như cái bóng đen ám
ảnh tôi hoài. Và tôi lại viết về nó. Tôi viết như người
kể chuyện, để giải toả nỗi ám ảnh. Giải toả theo kiểu
của anh thợ hớt tóc, trong truyện Một Ngàn Lẻ Một Ðêm,
phải đào lỗ mà la lớn lên rằng, "Ông vua có lỗ tai lừa!"
Tôi không xây dựng thành một cái truyện ngắn của người
làm nghệ thuật viết văn. Tôi chỉ kể chuyện về trại tù
CS. Nói bao nhiêu cũng thấy thiếu. Còn người đọc thì cảm
thấy quá thừa. "Biết rồi. Khổ Lắm. Nói mãi."
Trong cái bị làm bằng
bao cát của Lê Thơm mang bên hông, có xác một con chó con.
Nó bị bóp cổ chết vào trưa nay. Chuyện này, chỉ hai người
biết: Lê Thơm và tôi. Giết một con chó nhỏ không khó, nhưng
mạo hiểm mang ra cổng trại là một thử thách lớn dành cho
kẻ bạo gan.
Con chó lông trắng đốm
đen, đẹp như con chó giả nhồi bông. Nó thân thiện với
tất cả mọi người. Ðưa tay, tróc lưỡi vài cái, nó chạy
đến quấn quít. Nó ngây thơ trong trắng lắm. Nó không có
tội gì cả. Vậy mà nó bị giết. Cái số nó chết yểu,
nên trời xui đất khiến nó lân la gần gũi với những con
ma đói. Người ta nuôi nó để ăn thịt. Nếu nó không chết
bây giờ, thì ngày 2 tháng 9, cũng chết bởi tay thằng chủ
của nó. Từ đây tới ngày ấy, đâu còn bao lâu? Chỉ sáu
tháng nữa thôi. Sau sáu tháng phù du, rồi cũng bị đem ra tế
thần cho mấy ông cán bộ đánh chén say sưa, mừng ngày độc
lập. Chết như thế là chết lãng nhách. Thôi thì hy sinh ngay
bây giờ, còn được ý nghĩa phục vụ nhân sinh.
Mấy hôm trước, Lê
Thơm nói: "Tao có kế hoạch ăn no, với điều kiện mày phải
hợp tác."
Tưởng gì chứ được
ăn no, tôi hợp tác liền. Miếng ăn bây giờ, là vấn đề
quan trọng hàng đầu. Khi đói, bộ nảo tuột xuống nằm trong
cái dạ dày. Mọi suy tính đều hướng về miếng ăn, phục
vụ cho cái dạ dày. Từ đó, người ta bộc lộ hết bản
năng sinh tồn. Mà bản năng sinh tồn, thì người và vật giống
nhau.
Tuy thế, tôi vẵn hỏi
lại cho rõ: "Kế hoạch thế nào?"
"Mày đấm một cú thật
mạnh vào chỗ này." Hắn nghiêng đầu qua một bên, chỉ vào
quai hàm.
"Chi vậy? Thằng khùng!"
"Tao muốn dưới mang
tai sưng lên, để khai sưng quai bị."
"Và được nghỉ lao
động?"
"Nghỉ lao động là cái
chắc. Nhưng mục đích chính là kiếm ăn."
"Nói rõ hơn coi?"
Lê Thơm xít lại gần
tôi: "Dạo này, sáng trưa chiều, đều sắn. Ngày nào cũng
sắn. Trường kỳ sắn. Nhiều thằng ăn sắn, quai hàm bạnh
ra. Có thằng ma lanh, lấy tay chà xát đỏ lên, rồi khai sưng
quai bị. Y tá tưởng thật, cho nó ra ở nhà cách ly, ngoài
hàng rào."
"Ở cách ly, vẫn đói."
"Bên hông nhà cách ly,
hàng rào bị phá một khoảng bằng cái lỗ chó chui. Nếu được
ở cách ly, ban đêm tao chui lỗ chó, đột nhập nhà kho, trộm
nếp."
"Chơi trò mạo hiểm,
dễ mất mạng. Mày nhớ vụ thằng Khánh nửa khuya chui rào,
ra nương moi khoai lang, bị bắn bể đầu gối, phải cưa chân
lên tận háng không?"
"Ðó là nó chui từ trong
ra ngoài. Còn tao chui từ ngoài vô trong."
"Ngoài hay trong cũng vậy.
Vệ binh đi tuần thấy bóng người lấp ló ban đêm, nó nổ
súng không thương tiếc."
Vụ thằng Khánh thế
này. Nó là đại uý pilot. Những thằng Không Quân thường
to con. Vào tù, càng to con càng bất lợi. Ăn uống cùng một
tiêu chuẩn, thằng to con đói nhiều hơn thằng nhỏ con. Vào
một đêm đông miền thượng du, trăng sáng lắm. Khánh chui
rào, mò vào nương moi khoai lang. Cán bộ đi tuần tra an ninh
bắt gặp con ma đói. Cán bộ bảo Khánh đứng nghiêm, rồi
chỉa họng súng vào đầu gối của Khánh, bóp cò. Khánh bị
bể khớp xương đầu gối, quỵ ngay tại chỗ. Cán bộ vào
báo động, tập họp cả trại điểm danh. Anh em tù cải tạo
không hiểu chuyện gì. Một lúc sau, vệ binh khiêng Khánh vào,
bỏ nằm giữa sân trại. Cấm, không ai được đến gần.
Trời đông lạnh buốt. Khánh nằm đau nhức rên la suốt đêm.
Sáng ra, Khánh được khiêng lên bệnh xá của đoàn 779. Bệnh
xá cũng chỉ có mấy thứ lá cây hái về từ ngoài rừng,
sao làm thuốc nam. Hai người tù phục vụ ở bệnh xá, là
bác sĩ của chế độ cũ miền Nam, cũng đành bó tay. Phải
chuyển Khánh đi nơi khác. Khánh được võng đi cả ngày đường,
qua bao nhiêu sơn khê đồi núi mới ra tới bệnh viện Yên
Bái. Tám tháng sau, Khánh về lại trại, với cái chân cụt
gần tận háng. Anh em ngồi nghe Khánh kể chuyện, đều khiếp
vía. Tại bệnh viện Yên Bái, người ta trói tay chân Khánh
vào giường, rồi cưa chân mà không có thuốc tê mê gì cả.
Danh từ chuyên môn gọi là "giải phẩu sống". Khánh đau quá,
ngất đi mấy lần. Giải phẩu sống lần đầu, vết thương
nhiễm trùng sưng tấy lên và làm mủ. Giải phẩu sống lần
thứ hai, người ta cho Khánh uống rượu đế đến say mèm,
rồi mới cưa. Khánh nói, có rượu vào, cảm thấy ít đau.
Nhắc chuyện của thằng
Khánh, cũng không làm Lê Thơm nao núng.
"Ðừng doạ tao. Ðấm
một cú đi." Lê Thơm nghiêng đầu, đưa quai hàm chờ đợi.
Tôi đẩy ra: "Cú đấm
của tao, có thể làm mày tréo bản họng. Mày tự đấm mày
đi."
"Tao làm rồi. Nhưng tự
đấm mình, tao không dám mạnh tay. Mày giúp tao hoàn thành kế
hoạch."
"Kế hoạch của thằng
khùng!"
Nói xong, tôi bỏ đi.
Lê Thơm cụt hứng, chửi thề.
Hai ngày sau nữa. Ăn
trưa xong, anh em vào lán nằm nghỉ ngơi. Lê Thơm, và tôi còn
ngồi lại ở nhà ăn. Con chó nhỏ quanh quẩn dưới chân. Nó
mới xuất hiện khoảng hơn nửa tháng nay. Từ trên khung, nó
hay chạy xuống trại trong giờ ăn.
Nhìn con chó một lúc,
Lê Thơm chợt nẫy ý lạ: "Thịt con chó này."
Tôi trợn mắt: "Ðừng
đùa. Chó cán bộ trại phó đấy."
Hắn cương quyết: "Chó
cán bộ, cũng xơi."
"Làm sao ăn?"
"Tao có cách. Mày dụ
nó ở đây. Tao lấy cái bao cát."
Tôi chưa kịp đồng
ý hay không. Hắn chạy vụt đi.
Tôi nhìn con chó. Tội
nghiệp! Nó không biết gì cả. Tôi đưa tay. Nó liếm. Tôi
vuốt đầu. Nó quíu tai lại. Tôi vỗ nhẹ trên lưng. Nó nghểnh
cổ, lim dim đôi mắt. Quỷ thần trời đất ơi! Nó dễ thương
như vậy, ai nở lòng nào giết cho đành?
Lê Thơm cầm bao cát,
hấp tấp chạy lại: "Nhanh lên!"
Tôi lắc đầu.
Hắn mở rộng miệng
bao giơ ra, giục: "Nhanh! Bóp cổ, thồn vào."
Không còn suy nghĩ nữa,
tôi chụp cổ con chó, siết mạnh. Nó giãy giụa, quào bốn
chân trong không khí. Lê Thơm túm chân, tròng vào bao cát.
Hắn nói: "Tiếp tục
bóp."
Nếu có kẻ nhìn thấy,
hậu quả khốn nạn sẽ không lường nổi.
Tôi kêu lên: "Kinh quá
mày ơi! Tha nó đi."
Tôi buông tay. Con chó
vừa kêu "ẳng" một tiếng, đã bị Lê Thơm siết cổ lại
liền.
Tới giờ xuất trại
lao động buổi chiều, cả đội xếp hàng đôi, lần lượt
ra cổng. Cán bộ trực trại, và quản giáo đứng ngay cổng
kiểm soát. Vệ binh coi tù, mang súng đi sau cùng. Lê Thơm lảnh
việc nấu nước cho đội. Hắn quảy cặp thùng, mang bị đựng
chó bên hông, thản nhiên đi ra cổng. Tôi vái thầm, cầu trời
cho hắn thoát. Và hắn thoát thật. Tôi thở phào, nhẹ cả
người.
Ra đến hiện trường
lao động, mọi người túa vào rừng chặt nứa. Rừng xanh
mênh mông. Ðồi núi chập chùng. Vệ binh mang súng đi qua đi
lại ngoài bìa rừng, canh tù làm việc. Lê Thơm chọn thế
đất tương đối bằng phẳng. Việc đầu tiên, hắn đào
một cái hố nhỏ. Ai cũng tưởng hắn đào bếp lò. Nhưng
thật nhanh, hắn cho con chó xuống, và lấp đất lại. Bên
trên, hắn đốt một đống lửa, nấu nước. Ðó là chuyện
hắn kể sau này.
Trong giờ giải lao. Tôi
tới chỗ nấu nước. Lê Thơm múc cho tôi một ca nước sôi.
Nhìn quanh, không thấy có dấu hiệu gì chứng tỏ Lê Thơm
nướng chó.
Tôi hỏi nhỏ: "Chó đâu?"
Hắn chỉ vào đống
lửa.
Tôi lấy cớ mồi lửa
đóm hút thuốc lào, dùng cái que cời than lên, vẫn không thấy
chó.
Hắn bảo: "Ði khỏi
chỗ này ngay. Ðừng làm tụi nó sinh nghi."
Tôi tin tưởng vào tài
ứng biến của Lê Thơm. Xưa kia, hắn là thiếu tá, có thời
làm quận trưởng quận Chợ Lách, tỉnh Vĩnh Long. Ngày nay
vào tù, hắn nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh mới, lanh
lợi trong mọi vấn đề. Nhất là cải thiện, hắn nhanh như
sóc. Trong đội, không thằng nào qua mặt được Lê Thơm. Thoáng
thấy đó, biến đó không ngờ. Hồi hắn còn trong tổ làm
vườn. Giờ trưa, mọi người đều nghỉ ngơi. Hắn lúi húi
moi khoai lang, đem xuống suối rửa, nhưng mắt vẫn rảo quanh
quan sát. Hắn thấy Thu Sứt từ những bụi cây đàng xa, đang
rình mò theo dõi hành động của hắn. Tay này mang quân hàm
trung uý, có người anh vào Nam làm giải phóng, và bỏ mạng
trong trận chiến mùa hè năm 72, ở Bình Long. Bao nhiêu hận
thù, Thu Sứt trút lên đầu anh em tù cải tạo. Sở dĩ Thu
Sứt có biệt danh này, là do cái môi bẩm sinh bị sứt, phải
vá lại. Vì thế cái miệng chum chúm, làm cho cái mặt luôn
luôn mang nét quạu quọ như người đang hờn giận. Có lần,
Thu Sứt bắt gặp anh Năng đang cải thiện. Thu Sứt gọi về,
bắt Năng đứng giữa bốn vệ binh vây quanh. Thu Sứt hạ lệnh
cho bốn vệ binh bề hội đồng. Năng bị đấm văng bên này,
bị đá giạt bên kia, giống như những cầu thủ giao banh.
Cuối cùng, Năng gục xuống ngất xỉu, được khiêng về trại
cho anh em tù săn sóc. Sau thành tích ấy, Thu Sứt nổi danh là
hung thần ác sát. Trong trại còn một người nữa, cũng nổi
danh không kém Thu Sứt. Ðó là chàng trung sĩ vệ binh Nương
Mặt Ngạnh. Thật ra, anh ta tên là Lương, nhưng do nói ngọng
thành Nương, và do xương quai hàm bạnh ra, nên có biệt danh
là Nương Mặt Ngạnh. Khi dẫn tù đi lao động, anh ta cầm
theo chiếc gậy bằng cây giang, trông như khúc đoản côn. Ðã
nhiều lần anh ta quất thẳng cánh vào anh em tù cải tạo.
Ai từng bị đòn của Nương Mặt Ngạnh cũng đều ẹo xương
sống. Thành tích của Nương Mặt Ngạnh ở hiện trường lao
động rất đáng gờm. Anh ta bắt tù đứng trên triền núi.
Thế núi dốc, anh ta đứng phía trên. Sau vài câu đay nghiến,
bỗng Nương Mặt Ngạnh đá thốc dép râu vào mặt người
tù. Bất ngờ không kịp chống đỡ, người tù ngả vật ra,
sặc máu mũi. Trong kỳ cả trại học tập về chính sách khoan
hồng nhân đạo của đảng và nhà nước, anh em tù phản ảnh
chuyện này lên ông trại trưởng. Ông trại trưởng bảo:
"Chính sách của đảng và nhà nước trước sau như một. Nhưng
các anh quá quắc, không trừng trị không được." Thế là
huề! Ðảng và nhà nước vẫn tiếp tục chủ trương khoan
hồng nhân đạo. Anh em tù vẫn tiếp tục bị trừng trị.
Trở lại chuyện Lê
Thơm khi bị Thu Sứt theo dõi. Hắn biết nguy tới nơi rồi.
Hắn cho tất cả khoai lang vào thùng tưới, đi lên. Ở đằng
xa, Thu Sứt nương theo những bụi cây đi tới, quyết bắt
tại trận tên tù đang cải thiện. Lê Thơm chờ cho Thu Sứt
đi khuất sau chòm cây, hắn trút thùng khoai xuống hố ủ phân
bắc. Rồi quay xuống suối như đang tiếp tục xách nước
tưới rau. Phân bắc là cứt người, ủ lại để bón rau.
Hố phân bắc đầy giòi bọ, và mùi rất khắm.
Thu Sứt xuất hiện,
khi Lê Thơm đang múc nước dưới lòng suối.
"Anh kia! Làm gì đấy?"
"Xách nước tưới rau."
"Anh rửa gì dưới suối?"
"Tôi có rửa gì đâu?"
"Láo! Anh vớt tất cả
đem lên đây."
"Có gì mà vớt?"
"Khoai lang."
"Làm gì có?"
"Hãy mò xuống, vớt
lên."
Lê Thơm mò xuống, vớt
lên những sỏi đá."
Tức quá, Thu Sứt xăn
quần lội xuống suối. Mò chỗ cạn không thấy, Thu Sứt mò
ra sâu hơn, ướt cả quần, vẫn không thấy. Thu Sứt quay lên,
mặt hầm hầm bảo Lê Thơm về ngay, trình diện trên khung.
Tại khung, Thu Sứt đưa
tờ giấy, bình mực, và cây bút cho Lê Thơm, bảo: "Viết kiểm
điểm."
Lê Thơm hỏi lại: "Chừng
nào nộp giấy?"
"Chiều nay."
"Không kịp. Tôi còn
phải đi lao động."
"Cho anh nghỉ việc buổi
chiều. Ở lại lán viết kiểm điểm."
Lê Thơm viết, đại
ý rằng từ ngày đi cải tạo, hắn luôn phấn đấu để trở
thành người tốt. Cán bộ bảo viết kiểm điểm. Nhưng hắn
không biết kiểm điểm về vụ gì? Mong cán bộ chỉ dẫn.
Buổi chiều. Lê Thơm
đem giấy lên nộp. Thu Sứt đọc xong, vỗ bàn: "Kiểm điểm
về vụ cải thiện khoai lang. Biết chưa?"
"Nhưng tôi đâu có cải
thiện khoai lang?"
"Có. Anh phải viết rằng
anh có cải thiện khoai lang. Nghe rõ chưa?"
"Vâng. Tôi rõ. Xin cho
biết chừng nào nộp giấy?"
"Cho anh nghỉ việc sáng
mai, viết kiểm điểm. Trưa hôm sau nộp."
Thu Sứt đưa Lê Thơm
tờ giấy khác. Anh ta yên chí sẽ căn cứ vào nội dung tờ
kiểm điểm, nện cho Lê Thơm một trận mập mình, và cùm
vào nhà kỷ luật.
Lần thứ hai, Lê Thơm
viết rằng: Tôi đang đứng dưới suối xách nước tưới
rau. Cán bộ nghi ngờ tôi đang rửa khoai lang. Và ra lệnh cho
tôi phải viết có cải thiện khoai lang. Tôi tuân lời cán
bộ, nhận có cải thiện khoai lang. Nhưng thật sự tôi không
dám làm chuyện vi phạm nội quy như thế."
Trưa hôm sau. Thu Sứt
đọc kiểm điểm của Lê Thơm xong, xé toạc tờ giấy, giận
dữ: "Viết láo lếu thế này, thì sao gọi là tự giác?"
Lê Thơm bình tĩnh: "Tôi
viết theo lệnh của cán bộ."
Thu Sứt gầm lên: "Câm
họng. Cút ngay! Lần sau, dù có lủi giỏi như chạch cũng không
thoát."
Trong tù, Lê Thơm dám
"giỡn mặt" cán bộ, quả là lớn gan. Tôi phục hắn. Nói
theo Thu Sứt, hắn lủi giỏi như chạch. Hắn đã thoát không
phải một lần, mà nhiều lần sau nữa. Chỉ một lần sau
cùng, hắn không thoát được. Và lần không thoát được ấy,
đưa Lê Thơm đến sự tử vong. Tôi đã nói về trường hợp
Lê Thơm bỏ mạng, trong một truyện khác.
Tối hôm thịt con chó,
trời vừa nhá nhem, Lê Thơm khều tôi ra ngoài đầu hồi. Hắn
mở cái bị, lôi ra con chó cứng đơ, dính đầy đất cát.
Hắn lột da, xé miếng thịt đưa tôi. Chưa bao giờ ăn thịt
chó, tôi nghe nhờn nhợn trong cổ khi cầm miếng thịt.
Lê Thơm bảo: "Ăn đi.
Nguồn protéin bổ dưỡng vô song."
Hắn nhai ngấu nghiến.
Tôi bắt chước ăn thử, thấy ngon. Tôi nghĩ, với sự đói
khát lâu ngày, bất cứ món gì cho vô miệng cũng thấy ngon.
Thằn lằn, rắn mối, cào cào, châu chấu, ốc sên, dế nhủi
đều ngon, và cũng là nguồn protéin cần thiết cho cơ thể.
Ðặc biệt, có con sâu màu trắng thường rúc trong gỗ mục,
toàn thân nó chứa một chất sữa rất béo. Con sâu vô danh
này, tù đặt tên là con Magarit. Có thể nói con Magarit là sâm
động vật, giá trị không thua sâm thực vật của Ðại Hàn.
Hai chúng tôi ăn đến
nửa con chó, thì đụng phần thịt sống. Bởi khi chôn con
chó xuống đất, phía trên nóng nhiều làm thịt chín, nhưng
không đủ sức chín tới phía dưới.
Lê Thơm nói: "Ăn luôn.
Người tiền sử vẫn ăn thịt sống."
Tôi đề nghị: "Cắt
ra từng miếng nhỏ, cho vào lon Guigoz nấu."
"Mang ra mang vô cổng
trại, nguy lắm."
"Tới phiên tao mạo hiểm.
Tao sẽ nấu ngay đêm nay."
Ðêm ấy, tôi lần mò
trong bóng tối, vào nhà bếp cời than đặt vào hai chiếc lon
Guigoz. Xong, lại quay về lán ngồi đợi thịt chín. Khi lấy
lon về, cũng phải ra vào hai bận. Công việc chỉ có thế,
nhưng vô cùng nguy hiểm. Vệ binh rình rập đâu đó, thấy
bóng người ra khỏi lán mà không cầm theo cây đèn dầu, chúng
sẽ bắn, nếu không chết cũng bị thương. Tôi tin con người
có số mạng. Dù ở tù, nhưng ngôi sao chiếu mạng của tôi
còn sáng lắm. Quỷ thần che chở cho tôi trong mọi trường
hợp bất trắc hiểm nguy.
Ngay trong đêm, Lê Thơm
và tôi thanh toán sạch luôn hai gon Guigoz thịt. Con chó nhỏ
được chôn kín vào nơi không trời không đất. Hoàn toàn
mất dấu.
Khi ăn, tôi nói: "Nghĩ
tội con chó quá, mày ơi!"
Lê Thơm nói: "Cũng bởi
tình cảm tiểu tư sản như thế, mà hôm nay mới vào tù."
Tôi lại nói: "Miếng
ăn tưởng chừng rất nhỏ nhoi. Nhưng có lúc người ta dám
đem cả sinh mạng mình ra thử thách. Xem thế, đủ biết cái
ăn là quan trọng vô cùng."
Lê Thơm gạt ngang: "Ðừng
triết lý vặt, ăn mất ngon, con ạ!"
Vài hôm sau, ông đại
uý cán bộ trại phó cầm sợi dây cột chó, xuống trại vào
giờ ăn trưa. Ông đi quanh quẩn tìm kiếm.
Ông hỏi: "Các anh có
thấy con chó của tôi chạy xuống đây không?"
Mọi người im lặng.
Lê Thơm lên tiếng: "Con
chó nào, cán bộ?"
"Con chó trắng đốm
đen."
"Có phải con chó nhỏ
không?"
"Ðúng rồi."
"Ồ... Lúc trước, nó
vẫn thường chạy lại đây. Hai ngày nay không thấy."
"Hôm qua, tôi còn cho
nó ăn. Mới mất hôm nay thôi."
Lê Thơm sốt sắng: "Tôi
sẽ để ý. Nếu thấy, tôi giữ nó lại, báo cho cán bộ."
Ông trại phó lắc đầu
thất vọng: "Chắc bị cáo vồ rồi."
Nói xong, ông quay đi.
Lê Thơm thầm thì với
tôi: "Mình thịt con chó đã hai ngày. Nó nói hôm qua còn cho
chó ăn. Bọn này hễ mở miệng ra là nói láo. Chuyện lớn
chuyện nhỏ đều láo."
|