Cơ
ngơi ngày cũ
Phía trước nhà ngoại tôi, có
hàng cây duối. Thân cây sần sùi già cỗi, to cỡ người ôm.
Cây
không cao, tàn không lớn, mà chi
chít lá rậm. Trong ấy thường lẩn khuất những con rắn lục
màu lá non. Chung quanh gốc cây,
người ta chất những nồi đất nứt vỡ, và ông táo cũ bằng
gạch nung. Trong xóm có người đau
bệnh, thân nhân thường đến đây đốt nhang khấn vái, còn
lại những chân nhang tàn qua bao năm tháng. Ngoại tôi nói,
có thần linh trú ngụ nơi cây duối. Và những con rắn lục
là binh gia của ngài, không ai dám sát hại. Bọn trẻ nhỏ
cũng kiêng dè, tránh tới gần chơi giỡn làm ồn, sợ thần
linh quở phạt.
Bên kia hàng duối là gò đất
cao. Ðất khô cằn chai cứng. Ngoài những cỏ gấu, cỏ may
và những bụi chùm hôi chịu được
nắng hạn, không có cây gì mọc nổi trên khu đất gò. Vì
địa
thế cao, không úng nước, nên được
chọn làm đồng mả riêng cho dòng họ ngoại tôi. Người
trong thân tộc, tha phương bất
cứ nơi nào, khi chết cũng đem về chôn ở đây. Có những
cái mả xây bằng đá ong, lâu đời đến nỗi không ai biết
nắm xương tàn của ông bà cố tổ dưới mộ tên gì, liên
hệ huyết thống ra sao.
Hồi nhỏ, nghe đồn khu gò
đồng mả có ma. Nhất là sau khi dì Út tôi chết trong tuổi
còn
thanh xuân, tiếng đồn càng dễ
sợ hơn. Chỉ tưởng tượng đến những đêm trăng lạnh mù
sương,
dì hiện hồn về, xoã tóc ngồi
trên mộ mà khóc, cũng đủ làm đám trẻ nhỏ rợn mình. Gợi
trí tò
mò, năm ba đứa chúng tôi, núp
dưới chân khu đất gò, rình coi ma. Ma đâu không thấy, nhưng
đôi khi thấy những cục lửa màu xanh lân tinh từ trên gò,
không biết nơi cái mộ nào, lảo đảo bay lên đọt tre. Tôi
kể cho ngoại nghe hiện tượng này. Ngoại bảo, đó là hồn
người chết bay lên trời. không nên nhìn, e hồn ma sẽ theo
về nhà. Dù thương dì Út, nhưng không bao giờ tôi muốn dì
trở về dưới hình bóng một con ma.
Lúc còn sống, dì Út
là người thanh tú hơn hết trong các chị em của má tôi. Da
dẽ trắng
trẻo mịn màng, và mỗi khi dì
tháo búi tóc ra, tóc đen mướt, buông dài xuống quá lưng.
Tôi hay nâng mái tóc của dì, đưa lên mũi hít thở.
Dì cười, hỏi: - Ngửi thấy
thế nào?
Tôi nói: -Nghe mùi của dì.
-Mùi dì ra sao?
-Mùi vú, và mùi dầu dừa.
Dì nhéo tai tôi: -Ðừng nói
mùi vú. Người ta cười chết.
Thuở còn bé tí teo, tôi thường
hay khóc đêm. Má tôi cho mằn vú để tôi dễ ngủ, đã
thành thói quen. Khi ở nhà ngoại,
tôi ngủ với ngoại hoặc dì Út, cũng không bỏ được tật
mằn
vú. Vú của ngoại thì teo tóp nhùng
nhằng như cái túi da nhão nhẹt. Tôi thích vú dì Út hơn. Xoè
bàn tay nhỏ của tôi mà xoa cặp vú căng phồng tròn trịa
của dì, thật đã. Bóp mềm mềm như cái bong bóng. Nhưng lần
nào tôi bóp, dì cũng hất tay tôi ra.
-Ðừng!
Tôi hỏi: -Ðau hả?
Dì nói: -Mày cứ sờ
mò nắn bóp hoài, làm sao dì ngủ được? Hãy nằm nghiêng
qua bên
kia, quay lưng lại phía dì!
Nằm như thế, tôi lại
trằn trọc hoài, khó ngủ. Một lúc sau, độ chừng dì đã
ngủ, tôi quay
qua mằn vú.
Dì thức giấc: -Lại
nữa! Mày muốn dì đuổi qua giường ngoại không?
Tôi nín thinh. Ðể im
bàn tay trên vú. Cái đầu vú nhỏ xíu của dì kẹp giữa hai
ngón tay tôi.
Và tôi êm đềm đi vào chiêm bao.
Năm hai mươi mốt tuổi,
dì soi gương đối bóng mỉm cười, hay chải chuốt và chưng
diện áo
quần. Dì trở chứng bất thường.
Không thích ánh sáng, hay rúc vào buồng, nói chuyện nho nhỏ,
cười khúc khích một mình. Mọi người cho rằng, dì mắc
bệnh "cõi âm". Dân gian thời bấy giờ giải thích, dì bị
một vong linh đàn ông nào đó, theo quyến rũ tư tình. Nghĩa
là bị ma ám. Sắc diện dì vàng võ khô héo dần. Năm sau,
dì chết đi trong niềm đau xót của gia đình ngoại tôi. Tôi
thương dì Út hết sức. Nhìn lên bàn thờ, di ảnh của dì
ngó tôi không chớp mắt. Ban ngày tôi không sợ. Nhưng ban đêm
mường tượng lại đôi mắt ấy, tôi sợ đến khủng hoảng
tinh thần. Tôi cầu mong dì đừng hiện về nhát tôi, tội
nghiệp.
Ðương nhiên, dì Út tôi
được chôn trên khu đất gò đồng mả. Mộ xây bằng đá
ong. Ngôi
mộ nào cũng thế. Sao những cọng
cỏ may phất phơ theo gió trên mộ dì Út lại mang màu ảm
đạm thê lương, làm tôi muốn
khóc?
Năm xưa. Có hai thầy
trò địa lý người Tàu, đi ngang qua xóm, dừng chân nhìn thế
đất gò
đồng mả, tấm tắc khen là nơi
linh địa. Nghe thế, ông ngoại tôi mời về nhà, cơm nước
đãi đằng
tử tế, hỏi chuyện tương lai.
Thầy Tàu cho biết, tổ tiên được chôn trên gò đất này,
thì đời sau
con cháu sẽ phát về hướng quan
trường, phúc lộc. Ông lại nói thêm, phải chi cái gò nằm
dựa
lưng vào con sông thì tuyệt.
Ông ngoại tôi hỏi: -Tuyệt
ra làm sao?
Thầy Tàu bảo: -Gò đất dựa
lưng con sông. dù không được như hàm rồng long mạch,
nhưng cũng tựa như kình ngư quẫy
sóng. Con cháu dù không phát vương, cũng có thể cầm
gươm vạch đất, chia cắt giang
sơn, cát cứ một vùng, ngước mặt mà làm minh chủ, sứ quân.
Ông ngoại tôi chắc lưỡi,
tiếc sức người không dời được con sông Vàm Cỏ Ðông
về bên
gò đất, cho con cháu mai sau được
nhờ. Nhưng trời đã khiến vậy. Chịu thôi. Con cháu chỉ
được làm quan lớn, hưởng nhiều phúc lộc, thoát được
số phận hẩm hiu của bao đời cha ông còng lưng cày bừa
trên những ruộng đồng rẫy bái, cũng an ủi lắm rồi.
Ðể đáp lại tấm lòng người
đã tha thiết gọi mời, ân cần chiều đãi, ông thầy Tàu
ở lại mấy ngày, giúp ngoại tôi đo đạc đất đai, định
hướng mồ mả, đóng cọc yểm bùa trấn yêu chung quanh gò
đất. Ông bảo, muốn đời sau hưng thịnh, thì đời này phải
khai thông nguồn mạch ẩn tàng trong lòng đất. Xong việc,
ông khăn gói ra đi, để lại tên học trò. Ngoại tôi mừng.
Không nắm được thầy, thì cột chân học trò. Cũng là một
cách giữ ông thần độ mạng nho nhỏ trong nhà. Và người
con gái của gia đình làm sợi dây thân ái, nối với tên học
trò Tàu, biến hắn thành
con rễ.
Thời gian thấm thoát.
Cặp vợ chồng Tàu Việt cho ra đời đến sáu đứa con đầu
gà đít vịt.
Tôi là một trong sáu đứa này.
Mấy chục năm qua, dòng họ ngoại tôi chưa có ai khá nổi.
Ðừng nói chi đến chuyện ngóc đầu lên để làm quan triều
đình.
Sự kiên nhẫn đợi
chờ nào cũng có giới hạn. Ngoại tôi hỏi chàng rễ Tàu:
-Sao người
trong dòng họ nhà ta chưa khá?
Ba tôi, tức
chàng rễ Tàu, nói: -Ngộ lâu piết.
-Thế sao thầy của
mày bảo cái khu gò mả nhà ta là linh địa?
-Nó lâu phải thầy của
ngộ.
-Vậy nó là ai?
-Là người cùng một
làng với ngộ, ở pên Tàu.
-Sao mày đi chung với
nó?
-Ở pên Tàu, nó nghèo,
ngộ cũng nghèo. Nó rủ ngộ qua Việt Nam làm giàu. Nhưng xứ
Việt Nam cũng nghèo quá. Nó dẫn
ngộ li chỗ này chỗ kia hoài. Ngộ than mỏi cẳng. Nó muốn
pỏ ngộ, nên pảo ngộ ở lại
nhà nị. Có cơm ăn, có vợ ngủ.
Ngoại tôi trợn mắt:
-Trời đất! Sao lúc đó, mày không nói?
Ba tôi trả lời tỉnh
bơ: -Nị không hỏi. Ngộ nói làm chi.
-Bây giờ nó ở đâu?
-Ngộ lâu piết.
-Nó có phải là thầy
phong thủy địa lý không?
-Nó cũng như ngộ thôi.
Piết chi mà làm thầy.
-Khốn nạn! Vậy mà nó
bảo khu gò mả nhà ta là linh địa.
-Nó gạt nị, pảo lất của
nị linh thiêng. Nị tin nó làm chi. Lất chỉ có tốt hay xấu
thôi. Làm gì
có lất linh hay không linh? Ruộng
vườn nhà nị, gò cao lất cứng. Trồng trọt vừa lủ ăn
là may
rồi.
Ngoại tôi tức khí, chửi
đổng: -Tổ cha thằng Chệt tha phương cầu thực, dám gạt
ta!
Dù có tức, thì chuyện
cũng đã đâu vào đấy, như một tiền định. Ông ngoại tôi
tuổi già sức
yếu. Không còn cơ hội trở mình.
Ðành bỏ hết những vọng động lo toan. Làm người sằn dã.
Sống theo tinh thần Lão Trang. Hoà
mình cùng trời đất. Yên phận với những nương xanh, bờ
cỏ, vườn cây.
Ba tôi nói: -Nị là người
trường thọ.
Ngoại tôi nạt: -Lại
nữa. Mày muốn bắt chước thằng Chệt tha phương cầu thực,
gạt ta
sao?
-Ngộ là con rể của
nị. Lâu dám gạt nị. Năm nay nị gần pảy mươi, nhưng sức
còn dẻo,
lòng dạ thảnh thơi. Không làm
thầy pói cũng piết, nếu không gặp tai nạn pất lắc kỳ
tử, thì nị
còn sống được nhiều năm nữa.
Như thế không gọi là trường thọ sao?
-Ừ! Mày cũng có lý.
Nhưng từ nay, ta cấm mày không được dùng hai tiếng nị ngộ
với ta.
Phải gọi ta là cha, và xưng là
con.
-Lược! Nị làm cha, ngộ
làm con.
Tám mươi ba tuổi, ông
ngoại tôi thanh thản từ giả cõi đời. Nhiều năm sau, má
tôi kể lại
cho đám con đầu gà đít vịt nghe
chuyện tình duyên của má. Anh em chúng tôi cười nôn ruột.
Tôi hỏi: -Tình duyên
của má, nghe có vẻ quái đản. Vậy má có yêu ba không?
Má nói: -Má không biết
tình yêu là gì. Nhưng sống với nhau lâu năm, má cũng thương
vì
ổng có trách nhiệm gia đình, và
biết lo cho các con.
-Lần đầu ngủ chung,
ba có tâm tình gì với má không?
-Ngôn ngữ bất đồng.
Ổng thủ thỉ thù thì xí xô xí xào bằng tiếng Tàu. Má không
hiểu. Ổng xáp lại gần vuốt ve. Má cự tuyệt, hất ổng
ra.
Anh tôi nheo một con mắt,
chọc quê: -Má hất ổng ra, mà có sáu đứa con lai giống.
Nếu
không hất, chắc tụi con phải
có đến hàng tá anh em.
Chúng tôi lại cười
nghiêng ngửa.
Một lần khác. Nhân lúc
ba tôi nhắc lại quãng đời tuổi trẻ, tôi hỏi: -Ba ơi! Ở
bên Tàu,
dòng họ mình có ai nổi tiếng
trong lịch sử không?
Ông nói: -Có chứ. Lâm
Xung là một trong một trăm lẻ tám vị anh hùng Lương Sơn
Pạt.
Thời kỳ chiến tranh nha phiến,
tổng trấn lưỡng Quảng, Lâm Tắc Từ, lổ nha phiến của
pọn Anh xuống piển. Và trong cuộc trường chinh của Mao Trạch
Lông, có Lâm Pưu làm lến chức thống tướng.
-Còn ở Việt Nam, họ Lâm
có ai nổi tiếng không?
-Mày học chữ Việt mà
không piết ông Lông Hồ làm thơ nổi tiếng sao? Tên thật
của ổng
là Lâm Tấn Phát.
-Còn ai nữa không?
-Trong quân lội pây giờ,
cũng có họ Lâm làm chức lớn. Bên Lục Quân có Lâm Quang
Thơ, Lâm Quang Thi. Bên Hải Quân
có Lâm Nguơn Tánh.
-Mấy ông ấy đâu có
bà con gì với mình?
-Gốc gác cùng một ông
tổ họ Lâm ở pên Tàu. Sao lại không pà con?
-Nhưng mấy ông ấy làm tướng.
Còn nhà mình nghèo quá.
-Mới qua Việt Nam, thằng
Chệt nào cũng chỉ có hai cái hòn dái treo tòn ten dưới háng.
Xây dựng sự nghiệp pan đầu,
pằng cách quảy cặp gánh li mua ve chai, pán đồ cũ. Khá hơn,
thì mở tiệm pán pánh pao, hủ
tiếu. Piết chút ít chữ Tàu, thì mở tiệm pán thuốc Pắc
cho pà con
Việt Nam. Lâu dần, mới khá lên
lược. Cũng như tụi pây lang li lính, piết lâu vài chục năm
sau,
lược làm quan lớn. Quân lội Việt
Nam sẽ có thêm vài ông tướng họ Lâm.
-Ấy là chuyện tương
lai xa vời, còn mù mịt lắm. Hiện tại, tụi con đang làm
lính tác chiến, lúc nào cũng có thể phủi chân lên ngồi
trên bàn thờ.
-Sống ở lất nước này,
phải hy sinh cho lất nước này, lền ơn tổ quốc.
-Ba nói nghe dễ sợ quá!
-Sao lại sợ? Tao ở pên
Tàu qua lây, tin có ông Trời sắp lặt mọi chuyện. Như chuyện
tao
với má tụi pây, cũng do ông Trời
lịnh.
Anh tôi cải: -Phải nói
là do ông ngoại định.
Ba tôi lý luận: -Ông
Trời khiến ông ngoại. Ông ngoại ép má tụi pây phải chịu
tao.
-Như vậy là má bị ép
duyên!
Chúng tôi la lên. Lại
được một trận cười nữa
Ai cũng có hai nơi, quê
nội và quê ngoại. Anh em tôi chỉ có một quê ngoại làm chỗ
đi về. Ba tôi bảo, nên học chữ Tàu, để ngày nào đó,
sẽ về thăm quê nội. Chẳng đứa nào có được ý niệm,
hoặc hình ảnh thân yêu gì về một quê nội xa xôi. Và cũng
không bao giờ tha thiết sẽ đặt chân lên một nơi chốn,
mà tất cả anh em tôi đều cảm thấy bơ vơ lạc lõng. Vì
thế, chúng tôi không chịu học chữ Tàu. Ba tôi lại bảo,
phải tập nói tiếng Tàu. Cái loại ngôn ngữ líu lo như tiếng
chim, khó nghe khó nói. Anh em tôi không nghe không nói được.
Rốt cuộc, ba tôi phảI tập nói tiếng Việt, nếu không muốn
trở thành một người câm suốt ngày trong gia đình. Lý do
cũng dễ hiểu. Mỗi lần ông la rầy bằng tiếng Tàu, chúng
tôi giương mắt ngó cái miệng của ông, và cứ trơ ra, chẳng
có phản ứng gì cả. Tức quá, ông học tiếng Việt để
chửi chúng tôi cho hả dạ.
Vì thiếu quê nội, nên
bao nhiêu tình cảm, tôi dồn về một quê ngoại mà thôi. Từ
ngày ông ngoại tôi mất, gia đình nhà ngoại càng sa sút thêm.
Chính sự sa sút này, làm tôi nặng lòng vớI bà ngoại nhiều
hơn. Miệng đời thường nói, không ai giàu ba họ, chẳng ai
khó ba đời. Không biết các đời trước ra sao, chứ đến
đời ngoại thì tàn mạt. Nhiều người cho rằng, nhà hướng
ra hàng cây duối, nên phong quang bị quỷ thần che ám. Cửa
nhìn về đồng mả, nên vận mạng bị âm khí người chết
phong tỏa. Vì hai điều khắc kỵ ấy, mà ngoại tôi không
mong gì ngóc đầu lên nổi. Nhưng nhà cửa đất đai đã có
sẵn như thế từ đời trước rồi, còn biết đổi dời đi
đâu nữa?
Những năm chiến tranh
ác liệt, xóm làng nhà ngoại cũng tan hoang. Ðầu tiên là khu
đồng mả. Quân du kích lợi dụng địa hình gò đống lô
nhô, chiếm lấy cao điểm, biến nơi đây thành bãi chiến
trường, tấn công phe địch. Phía Quốc Gia phản công bằng
cách dùng phi pháo cày nát khu đồng mả, đánh bật quân du
kích ra ngoài. Khi chiến trường im tiếng súng, thì mả mồ
cũng tanh banh, quan tài bật nắp. Xác chết của người đời
nay, nằm lẫn với xương trắng của người đời xưa. Nhưng
xác chết được mau chóng thu dọn, người ta mang đi đâu không
biết. Rải rác còn lại những đầu lâu xương trắng người
đời xưa.
Dưới cơn mưa mùa tháng
bảy, ngoại tôi dầm mưa, gom lại từng khúc xương, chôn về
huyệt cũ. Rồi ngoại thắp đèn
đốt nhang trên bàn thờ khấn vái, và khóc còn hơn trời sầu
đất thảm. Ðám con cháu ái ngại nhìn ngoại, nhưng chẳng
đứa nào chạnh lòng khóc theo.
Tôi cầm tay ngoại: -Thôi
đi ngoại ơi, tổ tiên ngày xưa lúc mới chết, đã được
khóc một lần rồi. Bây giờ chỉ còn xương cốt. Lẽ nào
mỗi lần nhìn thấy nắm xương là mỗi khóc?
Ngoại mếu máo: -Thời
mạt pháp, quỷ dữ lộng hành. Người chết không yên mồ
mả. Người sống làm sao sống được?
-Ngoại đừng lo chi cho
hao tổn tinh thần. Người sống cứ ăn cơm vào, là tiếp tục
sống
thôi.
Ngoại tôi đang khóc,
bổng ngừng lại, giận dữ điểm ngón tay vào mặt tôi: -Tổ
cha thằng
Tàu lai đầu gà đít vịt. Nói
vậy mà nghe được sao? Làm người phải có nguồn cội. Ðừng
nói theo kiểu bội nghĩa vong ân. Mày chỉ nghĩ đến ông bà
cố tổ nội của mày nằm ở bên Tàu, chứ có thương xót
chi người ở đây!
Bà con anh em bên ngoại tôi,
đang cố tạo vẻ mặt rầu rầu cho phù hợp với nỗi sầu
ai oán của ngoại, bỗng cười rộ lên. Ngoại cũng gạt nước
mắt, cười theo.
Nhiều lần, sau những
cuộc đụng độ giữa hai phe lâm chiến, xóm làng nhà ngoại
tiêu điều thê thảm. Người ta dùng xe ủi, khai quang cây cối
chung quanh khu đất gò. Những hàng tre, lùm bụi trong xóm cũng
bị san bằng trống trải. Hàng cây duối, mà ngày nào đó,
ngoại tôi nói có thần linh trú ngụ, cũng không còn nữa.
Chẳng biết thần linh di tản nơi nào? Có dẫn đám binh gia
rắn lục của ngài theo? Bây giờ, nhà ngoại đứng trơ vơ
giữa đồng không mông quạnh. Ngó lên khu đất gò, mộ bia
xiêu lệch, như những nấm mồ hoang.
Quân du kích không còn
nơi ẩn núp, lui sâu hơn vào những vùng hẻo lánh. Ban đêm.
Thỉnh thoảng, họ về làng kiếm
ăn, và rỉ tai ngoại tôi: -Quân ngụy ác ôn. Cày mồ phá mả.
Hủy diệt màu xanh. Triệt tiêu mầm sống. Phá hoại làng mạc.
Ðem bom đạn giết hại dân lành...
Ngoại nói: -Nếu các
ông không núp ló trên khu đất gò, không rình mò bắn lén,
thì bom
đạn đâu có động đến mồ mả
nhà tôi.
-Mẹ chiến sĩ đừng
nói thế. Luận điệu mất lập trường của mẹ, dễ bị
phê bình chỉ trích là
phản cách mạng.
-Tôi có nhập bè kết
đảng với ai đâu, mà bảo là phản?
-Mẹ nói thế là có ý
gì?
-Tôi không có ý gì hết.
Chỉ yêu cầu các ông, kéo nhau vô rừng mà đánh nhau. Ðừng
lảng vảng chung quanh đây. Tôi sợ bị vạ lây. Tôi già rồi,
chỉ mong được yên thân cho đến ngày nhắm mắt.
-Công cuộc giải phóng
đất nước còn nhiều khó khăn, đòi hỏi nhiều hy sinh gian
khổ. Mẹ ích kỷ, chỉ muốn được yên phần mẹ. Tư tưởng
như thế, nhân dân không thể chấp nhận.
Ngoại tôi không dám nói
tiếp. Khi người ta đã viện lý do giải phóng, thì không từ
nan bất cứ biện pháp sắt máu nào. Khi đã lạm dụng đến
hai tiếng nhân dân, thì mọi cá thể đều không nghĩa lý gì
Mãi lâu sau, có người
hỏi ngoại: -Già rồi, còn sợ chết hay sao?
Ngoại ngước mặt, nhìn
trời: ãThân phận hèn mọn như con trùn con dế, còn ham sống
thay. Huống chi ta!
Nếu đứng bên ngoài
mà trông, nhà ngoại rất bề thế. Nhà rộng ba gian, nền cao
lót
gạch, mái ngói âm dương. Dù tường
vôi loang lở nhưng còn thể hiện được cái quá khứ sung
mãn một thời. Vào bên trong rỗng tuếch, mới thấy hết được
sự suy sụp của thời gian, phơi bày ra nỗi nghèo nàn cơ cực.
Ðồ đạc cũ kỹ, lâu ngày mối mọt hư hao. Cối xay lúa,
và cối giã gạo chiếm gần hết gian nhà giữa. Hồi nhỏ,
mỗi lần nghe tiếng xay lúa rồ rồ, tiếng giã gạo cùm cụp,
thế nào tôi cũng ngủ gục. Có khi còn nằm lăn ra bên cạnh
cối xay, thiếp đi một giấc ngon lành. Cái âm thanh và hình
ảnh nghèo nàn thân thuộc ấy, tiềm tàng ăn sâu vào tâm thức,
đeo đẳng theo tôi suốt đời. Nhiều khi bồi hồi nhớ lại,
tôi tưởng chừng còn nghe tiếng cối xay đang rền rĩ trong
đầu, và mềm lòng đến ứa nước mắt. Gian nhà trên, có
bộ ván gõ. Mỗi tấm ván dày cỡ gang tay. Qua bao thế hệ
thấm đẫm mồ hôi, mặt ván lên nước bóng ngời. Những
trưa mùa hè, nằm trên bộ ván, nghe mát lạnh tấm lưng. Sát
vách, có ba cái tủ thờ bằng cẩm lai khảm xa cừ, chạm hình
cảnh và người. Tôi ngắm hoài không chán. Lớn lên, mới
biết những hình ấy lấy sự tích từ truyện Tàu. Ðặc
biệt hơn nữa, nhà ngoại có cái rương bằng gỗ, rất to.
Tôi chưa từng thấy nhà ai có cái rương to đến thế. Cái
rương to như chiếc xe bò. Phía dưới có gắn bốn bánh xe,
cũng bằng gỗ. Ngoại tôi nói, vào thời trước, mỗi lần
chạy giặc Tây, người trong gia đình phải đẩy cái rương
chạy theo. Có lần ngoại mở nắp rương, tôi thấy bên trong
toàn là chén dĩa
bằng sứ, và những nồi đồng,
mâm thau cất giấu lâu ngày không dùng, nên bị rỉ một lớp
ten xanh.
Tôi hỏi:
-Chạy giặc, sao còn đẩy cái rương
theo?
Ngoại nói:
-Bỏ lại, Tây sẽ lấy hết.
-Ở bên Tây không có những thứ
này sao?
-Xứ nó nghèo, làm sao có được
của quý? Nó qua xứ mình để ăn cướp.
Tôi tin lời ngoại, nhưng
vẫn thắc mắc. Tây qua xứ mình chỉ để cướp đi những
chán dĩa,
nồi đồng, mâm thau thôi sao?
Ngày còn thơ ấu. Những
buổi trưa, tôi thường nằm ngủ trên bộ ván gõ nhà ngoại.
Khi
thức dậy, thấy những tia nắng
xuyên qua những lỗ hở trên mái nhà, dọi xuống. Trong tia
nắng, có vô số hạt bụi bay vơ vẩn, như những sinh vật
li ti đang bơi trong không khí. Không biết tại sao, cảnh tượng
này, lại gây cho tôi một nỗi buồn khôn tả. Ðang buồn,
nhìn vào phía trong lại thấy cái rương quá to. Ðiều kỳ
lạ, là càng nhìn cái rương càng to ra, và tôi có cảm tưởng
mình càng bé lại. Thế là tôi khóc.
Ngoại tôi cằn nhằn:
-Thằng nhỏ này có cái thói không chừa được. Lần nào ngủ
trưa dậy, cũng khóc.
Cậu tôi là người rất
dữ dằn, doạ nạt cỡ nào, tôi cũng không nín. Cậu bỏ tôi
trong cái
thúng. Ðặt cái thúng vào chiếc
gióng. Cột dây thòng tôi xuống giếng.
-Nếu mày không nín. Tao
thả rớt xuống luôn.
Tôi vừa khóc vừa nói:
-Thả rớt luôn đi.
Cậu từ từ thòng tôi
xuống chạm mặt nước. Nước làm ướt đít tôi.
Cậu hỏi vọng xuống:
-Mày chịu nín không?
Tôi khóc, không trả lời.
Cậu hạ thêm. Nửa người tôi ngập trong nước.
Giếng quá sâu, không
đủ ánh sáng. Nước lại lạnh. Thành giếng cũng toát ra hơi
lạnh. Tôi quơ tay ra ngoài, đụng phải thành giếng rong rêu
trơn nhớt. Cảm giác rờn rợn luồn vào da thịt, làm tôi
khiếp vía. Hình như tôi bị ngộp. Không biết vì giếng sâu
thiếu dưỡng khí, hay sự sợ hãi làm tôi khó thở. Tôi nhắm
mắt lại, và muốn được chết ngay, để thoát cái cảnh
bị hành hạ khốn nạn này.
Có tiếng ai la nheo nhéo
trên miệng giếng. Và cậu kéo tôi lên. Tôi thấy ngoại đang
khóc.
Ngoại nhấc tôi ra khỏi
cái thúng, mắng cậu: -Mày độc ác. Doạ kiểu này, nó hoảng
hồn
chết luôn làm sao?
Cậu chống chế: -Nó
mà hoảng hồn? Thằng này lì lắm. Thiên lôi tầm sét, chưa
chắc đã
làm nó sợ.
Ngoại dẫn tôi vào nhà,
ôm tôi và khóc. Trong khi ngoại khóc, tôi lại nín khe. Thương
ngoại bao nhiêu, tôi oán cậu bấy
nhiêu. Từ đó trở đi, nơi nào có cậu, tôi đều tránh mặt.
Nghe tiếng nói tiếng cười của cậu, tôi cũng ghét. Ấn tượng
một lần bị thả xuống giếng, tôi không bao giờ quên.
Sau này, cậu bỏ nhà
theo Việt Minh. Trong gia đình ai cũng nhắc nhở, nhớ thương.
Riêng tôi lại mong, cậu đi đâu thì đi luôn cho rồi. Ðừng
về nữa. Thế nhưng, thỉnh thoảng cậu vẫn ghé về thăm
nhà. Tôi chỉ chào hỏi qua loa, rồi lẩn mất. Những chuyến
đi về của cậu, càng về sau, càng thưa dần. Rồi cậu đi
biền biệt, bặt tin luôn. Ðến khi nghe tin cậu mất, mọi
người trong thân tộc bàng hoàng. Má tôi chảy nước mắt
như mưa. Ngoại xót xa rên xiết từng đêm. Tôi không hề xúc
động, dửng dưng như người chưa từng quen biết. Cậu là
người duy nhất trong dòng họ ngoại tôi, khi chết không đem
được xác về chôn trên khu đất gò đồng mả.
Cái chết của cậu, một
kẻ trở về kể lại, nghe cũng rất ly kỳ. Cậu đặc trách
công tác nội
thành. Lâu lâu, về mật khu để
báo cáo tình hình. Một buổi chiều. Cậu cùng vài ba đồng
chí về gần tới mật khu.
Bỗng nghe bên đường,
trong cây rậm, có tiếng hô lớn: -Tất cả đứng lại. Giơ
tay lên!
Cậu nói: -Ðường sá
xa xôi, mệt lắm rồi. Ðừng đùa, đồng chí ơi!
-Tao bắn bể đầu. Chứ đùa
với mầy hả?
Những người cùng đi
với cậu dừng lại, sửng sốt. Ðây là địa phận an toàn
của Việt Minh, sao bị phục kích?
Từ trong cây rậm, ra
lệnh: -Thằng cha quấn khăn rằn trên cổ, đứng lại. Những
người khác tiếp tục đi.
Cậu ở lại. Người
ta dẫn cậu đến một cái chòi của rẫy bắp, trong rừng.
Nơi đây, cậu được ăn một bữa cơm chiều với khô trâu.
Sau đó, cậu bị chính những người đồng chí của mình kết
tội, lợi dụng công tác nội nội thành, làm gián điệp cho
Tây. Người ta trói, và dẫn cậu đến một cái giếng lạn,
loại giếng bỏ hoang lâu ngày, khô nước. Cậu bị đập đầu,
xô xuống giếng. Giữa rừng già mênh mông, tìm cái giếng
để đem xác cậu về, không là chuyện dễ.
Vợ cậu, người tôi
gọi bằng mợ, nhan sắc mặn mà, sắc sảo khôn ngoan. Mợ
quyết chí trả
thù chồng, làm đơn khiếu nại,
tố cáo kẻ giết chồng mợ. Ðể tránh con mắt dò xét của
người lạ, mợ giấu đơn từ vào trong chiếc nón lá, và
chằm kín lại, trông như chiếc nón bình thường.
Một ngày mưa, mợ đội
nón lá ra đi. Tôi đứng trước thềm hiên, trông theo người
đàn bà
khốn khổ. Thấy mưa rả rích trên
hàng dừa trước ngõ. Mưa mù tận ngoài bưng. Mưa khuất rặng
cây xanh ở phía chân trời.
Ngoại tôi chạy theo,
níu áo: -Con ơi, người chết không sống lại được. Con khiếu
nại, tố
cáo cho ra lẽ, thì chuyện cũng
đã rồi.
Mợ nói: -Người ta giết
oan chồng con. Lẽ nào con cắn răng im lặng?
-Nếu không im lặng, con
làm gì được ai?
Mợ nghẹn lời, rồi
bật khóc. Cương quyết dứt áo ra đi.
Ngoại tôi lủi thủi
quay vào. Ðầu tóc ướt mem. Ngồi rũ trong bếp.
Những ngày sau. Ngoại
bồn chồn không yên, trông mợ trở về. Không phải để nghe
mợ
báo tin, trả được thù chồng.
Ngoại chỉ sợ người ta sẽ thủ tiêu luôn cả mợ.
Rồi mợ cũng về trong
bơ phờ thất vọng. Những đồng chí cũ của cậu đều làm
ngơ, không ai nhận trách nhiệm về cái chết của cậu.
Cái gan của mợ, chẳng
biết lớn tới cỡ nào. Mợ nhất định rời khỏi nhà ngoại.
Rời khỏi cái nôi của đại gia đình dòng họ nhà chồng,
dẫn mấy đứa con nheo nhóc về vùng kiểm soát của Lực Lượng
Liên Minh giáo phái Cao Ðài. Không lâu sau, mợ lấy một sĩ
quan của Lực Lượng Liên Minh. Dựa thế lực chồng mới,
báo thù cho người chồng cũ. Máu oan cừu của cả hai phe lại
âm thầm đổ xuống. Không phải qua những đụng độ trên
chiến trường, mà bằng những thủ đoạn rình rập chặt
đầu, bắn giết thủ tiêu nhau. Và đó cũng là một trong những
nguyên nhân đưa đến sự tàn mạt cho gia đình ngoại tôi.
Bởi các đồng chí cũ của cậu, coi gia đình nhà ngoại là
thù địch, luôn luôn theo dõi, gây ra nhiều nỗi khó khăn.
Theo thời gian, nhà ngoại
đổ xiêu rách nát. Bà ngoại tôi bỏ nhà, lên khu đất gò,
nằm kế
bên mả ông ngoại. Má tôi rầu
rĩ ho lao, cũng vội vàng lên chiếm một chỗ trên khu đất
gò. Ba tôi từ bên Tàu, theo ông thầy phong thủy địa lý giả
mạo sang đây, bị bỏ rơi ở nhà ngoại. Ngoài người vợ
Việt Nam, và mấy đứa con lai Tàu, ông không còn liên hệ
họ hàng với ai. Khi má tôi từ giả cõi đời, ông buồn tình,
không thiết sống nữa. Thế là ông tự động đứt mạch
máu não, hôn mê mấy ngày trước khi bơi qua sông Nại Hà,
theo cho kịp má tôi. Ðối với bên vợ, ba tôi là người ngoại
tộc, nhưng cũng được đặc ân chôn trên khu đất gò đồng
mả dòng họ ngoại tôi.
Thời thế xoay nhanh đến
chóng mặt. Mặt đất cũng biến đổi dị thường sau những
thăng
trầm dâu bể. Mồ mả tiên tổ
bao đời của ngoại tôi, được lệnh bốc đi nơi khác. Trên
quê hương xứ sở, còn có nơi nào được nằm yên vĩnh viễn?
Thôi thì hốt cốt, dồn chung lại, hoả táng một lần cho
xong. Khu đất gò, bây giờ là văn phòng Ủy Ban Nhân Dân Xã.
Từ trên văn phòng Ủy Ban nhìn xuống, cái nền nhà cũ của
ngoại, mọc lên hai dãy nhà kho, dùng chứa nông phẩm Hợp
Tác Xã. Và vườn cây ăn trái phía sau nhà ngoại cũng bị
san bằng, biến thành sân đá banh.
Dòng đời, và tất cả
cơ ngơi của ngoại tôi, chỉ còn trong hồi tưởng.
Lâm Chương
Sept 8/1999
|