Về!
Sống gửi thác về là quan niẹâm
của người Á Ðông về lần đi cuối, đó cũng là quan niẹâm
của Phạât giáo theo hiểu biết đơn sơ của tiểu muội.
Chuyến đi như một chuyến về nguồn để từ đóbắt đầu
những chuyến viễn du mới không cùng trong cái vô tận của
vũ trụ.
Người Tây Phương với nền văn
minh cơ khí non trẻ quan niẹâm chuyến đi cuối cùng là chuyến
tầu suốt, đi một lần, đi không trở lại. Chính vì thế,
họ ít lưu luyến nơi chôn nhau, cắt rốn.
Người Việt chúng ta vì hoàn cảnh
đất nước nên phải rời xa nơi sinh, chốn đẻ nhiều lần
do những chia cắt đất nước: Thời Trịnh Nguyễn phân tranh,
thời sông Gianh ngăn hai đất nước, thời Bến Hải chia cách
sơn hà. Mỗi thời đều là những niềm đau không nguôi của
người dân Việt.
Năm 1975, cái mốc cay đắng nhất,
xót xa nhất cho những người yêu nước, chúng ta không chỉ
chịu chia cắt sơn hà, chúng ta bỏ luôn cả đất nước, cha
mẹ, con cái, anh em, nhà cửa, cuống cuồng ra đi, mong thoát
khỏi mọât chế độ bị con người ghê tởm: Chế độ độc
tài Cộng Sản.
***
Chuyến đi vừa khởi hành, lòng
yêu thương đất nước, gia đình đã làm nhiều người quay
quắt muốn trở về! Nhắm mắt mà trở về và tự an ủi,
tự dối lòng, tự lừa gạt mình như con đà điểu khi gặp
nguy hiểm thì chúi đầu vào trong cát để khỏi sợ hãi.
Chuyến về sớm nhất, ngây thơ
nhất xẩy ra khi vừa rời xa đất nước: Tầu Viẹât Nam Thương
Tín đã trở về!
Có bao nhiêu người trở về vì
có ý đồ đem tối? nhưng đa số muốn trở về vì gia đình
còn kẹt lại.
Dưới những bưng bít bịt bùng
của chế độ Cộng Sản, người ta chỉ thấy sự đón tiếp
ồn ào những người trở về nhưng thạât rakết cục bi thảm
cho ngay những người có ý về để tâng công, làm "ngọn cỏ
gió đùa", uốn mình theo những cơn gió xu thời cũng đều
được "ân sủng đi học tạâp cải tạo của nhà nước"
vì đã có "ý đồ theo đế quốc Mỹ"!
Trong khi một chiếc tầu Viẹât
Nam Thương Tín trở về thì hàng bao nhiêu tầu lũ lượt ra
đi? Không ai biết chính xác về số phận những con thuyền,
những con người vượt biên từ đất nước Viẹât Nam khốn
khổ mong tìm được chút tự do căn bản tối thiểu của con
người. Người ta chỉ ước tính số người mà "đường đi
không tới", bỏ thây dọc đường bộ, bỏ thây trên biển
cả là phân nửa và số người Việt Nam hiện diện trên thế
giới đâu trên nửa triẹâu người ngay sau những ngày đầu
mất nước!
Cuộc đời là một vòng tròn, có
hợp có tan, có đi thì có về. Sau khi lũ lượt ra đi, sau khi
vất vả hội nhập nơi xứ người, sau khi cuộc sống đã
ổn định thì người tha hương lại nghĩ ngay về quê mẹ.
Cái ăn là cái không thể bỏ: Gạo,
nước mắm, bánh tráng, rồi phở, rồi mắm tôm bắt đầu
được sưu tầm. Tiếp tới là vấn đề tinh thần: Báo chí,
sách vở tiếng Viẹât là mọât nhu cầu. Chùa chiền, nhà
thờ Việt Nam với giáo xứ có cha giảng đạo bằng tiếng
Viẹât cũng được xây cất.
Vật chất đầy đủ, tinh thần
tương đối cũng êm êm nhưng sao lòng vẫn chưa yên?
Vẫn thổn thức một chút quê hương
vời vợi nhớ.
Vẫn một chút nhớ nhung những kỷ
niẹâm ngây thơ thuở ấu thời
Vẫn mọât chút lãng mạn yêu đương
ngày mới lớn.
Vẫn một mối tình hẹn hò chưa
trọn.
Chưa kể những tình cảm gia đình
thiết thực: Một gia đình với cha mẹ gìa còn bỏ lại. Một
người vợ với những đứa con còn đợi chờ những lần
chuyển tiền.
Chuyển tiền là một "sinh tử
phù" cấy vào mỗi người xa xứ, là chính sách "thuế thân"
thời Pháp thuọâc, một chính sách đòi viện trợ vô điều
kiện, một chính sách cướp ngày cao cường của Viẹât Cộng
mà ta không đường chống đỡ.
Cứ người nhà kêu là đau khổ móc hầu bao ra... gửi về,
dù tím ruọât bầm gan.
Tóm lại, chúng ta, những người
còn có người thân tại Viẹât Nam, những "Viẹât kiều, khúc
ruột xa ngàn dạêm" dù "yêu nước nhưng nhất định
không yêu Xã hội chủ nghĩa" cứ tiếp tục thua dài
dài. Chưa thấy ai có chính sách chi hoá giải được quái chiêu
này cuả "nhà nước ta" nếu chúng ta còn một trái tim!
Thế là bắt đầu những cuọâc
trở về!
***
Thủ tục đầu tiên!
Xa xôi bên kia bờ đại dương bắt
đầu vang vọng những lời mơn trớn, mời gọi của những
tay phù thủy chuyên nghiệp sai bảo được cả âm binh bằng
những câu mát dạ, đẹp lòng:
Về thăm lại quê hương cho thỏa
tấm lòng yêu nước non, tổ quốc.
Về xây dựng quê hương nghèo đùói.
Về thăm cha mẹ, ông bà cho đúng
chữ hiếu, đúng quan niẹâm thần hôn cao qúy.
Về tìm lại người yêu năm cũ
nối lại khúc đàn xưa.
Về thăm lại bạn bè chia xẻ một
thời tuổi trẻ.
Và những người trở về, ít nhất
cũng trở thành "Khúc ruọât xa ngàn dặm", thành "Việt Kiều
yêu nước"...
Toàn những lời ngọt ngào mê hoạêc,
những chào mừng hào nhoáng, những lý do chính đáng đầy
dẫy tình người và tràn trề "tình tự quê hương "!
Nhưng ngoài những người có lý
do chính đáng thạât sự, có bổn phận phải hoàn thành,
có tình cảm cần thanh toán, còn những lý do tưởng tượng
nào đó, mà nấp đằng sau là những ham muốn rất tầm thường:
Tự mãn với "áo gấm về làng". Làm ra tiền bạc qua những
viẹâc chuyển tiền, buôn bán đô-la và những cuộc tình...
dục, nhất dạ đế vương.
Về để thoả mãn những nhu cầu
tự ái: Về để làm ăn, về khoe sự thành công, sang giầu,
sự rộng rãi, lòng từ bi của mình trước mắt những người
kém may mắn hơn mình! Về để hưởng thụ những gì mình
không cách chi hưởng được bên xứ tự do bằng lợi tức
của mình: Aên chơi, hưởng thụ với những cô trinh nữ (?)
còn tuổi ngây thơ mười ba, mười bốn. Về để lấy một
cô vợ trẻ mà nếu mình không phải...Viẹât Kiều thì chưa
chắc gì với tới. Tóm lại chẳng có chút chi yêu nước thương
nòi cả!
Những chuyến trở về, những viêïc
giao thương đầu tiên còn mang tính cách lén lút vì bị kết
án rầm rộ. Con đường trở về tương đối xa xôi vì phải
xin giấy đi vòng một nước nào đấy trước khi về Viẹât
Nam.
Nhiệt tình con người nguội dần
khi con số hăng hái đi về quá nhiều, sức nào biểu tình
chống đối hoài cho nổi?
Hơn nữa, chính sách Mỹ thay đổi,
bình thường hoá quan hẹâ ngoại giao với Việt Nam rồi, máy
bay bán vé trực tiếp tại Mỹ, có dịch vụ làm giấy tờ
khỏi phải nhìn mạêt kẻ thù ngày nào đã lôi cổ, còng
tay mình vào tù, đã thu tiền đẩy mình ra biển rồi bắn
theo những chiếc thuyền mong manh, đã đẩy vợ con mình vào
lòng biển cả hay lênh đênh đâu đó trong tay bọn hải tạêc.
Ông bà thuyền nhân chặc lưỡi:
- Tôi là người có lương tâm mà,
nhìn thấy mặt "nó" lương tâm tôi nổi dạây cuồn cuộn,
mất vui! Không được, thà chịu mất tí tiền cho dịch vụ
mà lương tâm yên ổn, về chơi thoải mái hơn.
***
Trong khi phe ta thua te tua thì một
số phe ta lại hớn hở hay ấm ức "về nguồn"!
Hãy nghe một chút kinh nghiệm của
người trở về thăm lại quê hương, ông Trở-về:
- Ðiều tôi nhạân ra đầu tiên
là nóng! Nóng điên người! Nóng như mở cửa lò nướng bánh
vậy. Bước xuống phi cơ, trời như đổ lửa, mồ hôi chảy
ròng ròng. Chạy vội vào trong phòng khách phi trường, trong
này có máy lạnh nên đỡ hơn nhưng người đông như nêm trước
những quầy hải quan. Ðây mới bắt đầu đoạn đường gian
khổ!
- "Nó" đón tiếp Việt Kiều nồng
nàn lắm mới phải chứ? Toàn những "khúc ruột xa ngàn dặm
trở về thăm quê hương là chùm khế ngọt" mà.
- Bà chỉ hay móc họng người ta.
- Xin lỗi ông nhưng quả tình tôi
hơi "dị ứng" với chuyện trở về.
- Bà ạ. Tùy hoàn cảnh. Như tôi
thì bố mẹ tôi đã 90, không về các cụ kêu réo rằng "Mày
bất hiếu, chỉ nại lý do chứ người ta về khối". Với
lại thăm các cụ lần này, biết cụ còn sống được bao
lâu, nhỡ cụ ra đi mình lại ân hận.
Ông thở dài:
- Ai thì tôi không biết chứ tôi
về, tôi hồi hộp lắm chỉ sợ bị chụp mũ thì phiền. Tôi
chỉ còn ít bà con, bạn bè đi hết, chả còn mấy nên cũng
chẳng có gì vui.
- Thế còn mục "nhất dạ đế vương"
của các ông? Còn những cô "em" 13,14?
Ông gắt:
- Bà làm như ai cũng lòng dạ như
nhau. Xin bỏ qua mục này đi.
- Thì bỏ qua. Vậy ông kể từ lúc
vào nọâp giấy thông hành đi.
- Tôi xếp hàng nộp giấy. Thằng
cán bộ xét giấy mặt lạnh như tiền ngồi sau cái bàn giấy
cao, trên bàn giấy che kín như kiểu chỗ quầy phát tiền ở
nhà băng bên Mỹ, thật kín đáo. Bà đưa giấy cho nó, nó
tha hồ "phù phép" bên trong, chẳng ai trông thấy.
- Phù phép gì?
- Bà chưa về bao giờ à?
- Chưa, thế mới cần hỏi ông để
viết bài cho vui vì thấy ai về xong cũng nín khe, chẳng "báo
cáo, báo chồn" gì cả.
- Ai dại gì mà "báo cáo", mất công
bị chụp mũ.
- Thế ông có bị "nó" đòi tiền
không?
- Thoát sao được!
Bà Trở-về:
- Tôi thấy người ta công khai móc
tiền ra nhét vào giấy thông hành (passport) rồi đưa cho nó.
Cái thằng xét giấy đã ăn tiền mà mặt mũi còn câng câng
nom dễ ghét.
- Nó đòi tiền ông bà trắng trợ
à?
Ông Trở-về hạâm hực:
- Không, tôi nhất định không cho
chúng nó ăn. Tôi có đem tiền nhiều, có mua bán gì mà sợ
chứ? Nó lạât giấy ra, thấy không có tiền, mặt nhăn lại
như khỉ ăn gừng, nó vẫy tay xua tôi như xua ruồi:
"- Anh sang bên kia xếp hàng chờ
xét giấy lại. Giấy "bát bo" này có "vấn đề".
"- Vấn đề gì?
"- Không phải hỏi. Anh sang bên kia
chờ giải quyết sau."
"- Chờ bao lâu?"
"- Không biết, bao giờ xong "khâu"
này, tôi giải quyết sau.
Rồi nó giả vờ hờ hững rất
đểu giả:
"- Ðộ... hai, ba giờ sáng thì xong.
- Tôi tức mình cầm giấy xăm xăm
đi ra chỗ nó chỉ. Cái hàng ấy chỉ có lèo tèo vài người
cũng ngang ngang như tôi. Tôi nhìn đồng hồ, bây giờ là 12
giờ trưa. Tôi chờ gần hai tiếng, bụng đói meo. Mấy thằng
cán bộ thì cứ đủng đỉnh vừa làm vừa giỡn với mấy
con cán bộ, lâu lâu lại nhìn về phiá mình xì xầm rồi phá
lên cười, trông muốn điên lên, tôi định chửi toáng lên
rồi ra sao thì ra nhưng với bà vợ tôi kéo tay tôi lại.
- Rồi ông có phải cho tiền nó
không?
- Bà vợ tôi chịu không nổi nên
lén đi "thông cảm, làm thủ tục đầu tiên" (1) với nó! Thế
có chán không cơ chứ?
Bà chen vào:
- Cô tính, gia đình thuê xe ra đón,
bắt bao nhiêu người chờ đợi à? Thôi thí cô hồn (2) cho
nó cho xong đi.
- Rồi nó cho ông về ngay à?
- Làm gì giản dị thế ? Màn hấp
dẫn nhất là màn xét hành lý để thu tiền "mãi lộ" (3),
đời nào chúng nó bỏ qua?
- Mình không đem gì chắc đỡ hơn?
Bà thở dài:
- Nhiều ít gì nó cũng ăn tiền
mình cả. Cũng cái ông này. Ông ấy nhất định không chịu
cho tiền nó nên nó ghét, lại bắt chờ thêm mấy tiếng nữa
rồi lục tung cả quần áo, đồ đạc ra.
Ông thêm vào:
- Cũng tại cái máy sấy tóc cuả
bà...
Bà Trở-về cãi:
- Tại gì mà tại? Va-li đồ đi
qua máy thấy rõ ràng cái máy sấy tóc mà nó kiếm chuyện
đòi khám cho bõ ghét để mình lòi tiền ra thôi nên tôi cũng
tức mình, để cho nó khám, không cho ăn tiền nữa.
Ông cười khà khà:
- Bà này mà tức là chuyẹân không
vừa, cô ạ. Tính bà ấy mát lắm, chẳng như tôi đâu.
- Thế, cô ạ. Nó lục tung hết
mọi thùng ra, từ cái... quần lót nó cũng phanh ra xét, khả
ố, lạc hậu, vô tư cách lắm. Nó xét đến mấy tiếng đồng
hồ, tôi ngồi như trên ổ kiến lửa rồi tôi điên lên, tôi
cứ lôi "bác cuả nó" ra tôi chửi.
- Chị ngon vậy?
Bà cười xòa:
- Tôi chửi chứ sợ gì không chửi?
- Nó không nói gì à?
Ông phá lên cười:
- Trông mạêt bà ấy đỏ lên như
gà chọi, biết bà ấy tức, tôi tội nghiệp quá chỉ sợ
bả lên máu bất tử, may mà không sao cả.
- Mà chị dám chửi thật?
- Chửi chứ sao không nhưng tôi chửi...
thầm cho bõ tức vạây mà.
Tiểu muội bật cười:
- Ra thế! Rồi mấy giờ thì xong?
- Nó càng lục, tôi càng chửi nhưng
tới khi nó đòi rọc mấy thùng chứa đồ ra để khám giữa
hai lớp giấy thì tôi chịu thua, tôi phải thí cho nó 20 bạc
cho xong. Ðến sáu giờ hon chúng tôi mới ra khỏi phi trường.
Mặt mũi phờ phạc, te tua.
Bà triết lý:
- Thật ra mình ngu thì ráng chịu.
Ðã về là phải chấp nhận cái tệ đoan đó thôi. Tức cũng
chẳng làm gì được. Ðồng tiền đi trước là đồng tiền
khôn!
Ông gắt:
- Nói như các bà, nó thấy dễ ăn
nên làm mãi, càng ngày càng trắng trợn.
Tiểu muội thắc mắc:
- Với du khách ngoại quốc, nó có
dám làm vậy không?
- Cũng tùy mặt. Nghèo thì khỏi,
giầu thì nó "xin đểu tiền cà-phê".
- Thế nào là xin đểu?
- Thí dụ nó bảo cho nó tiền cà-phê
thì khỏi phải chờ đợi. Thí dụ xách hành lý nó cứ đẩy
đi vù vù, có khi mất cả đồ đạc, cho nó tí tiền thì xong
ngay.
- Nhục quốc thể nhỉ?
Ông Trở-về rên rỉ:
- Cô ơi, từ năm 75 đến giờ, nào
có phải là "Quốc" nữa đâu mà "thể" với không "thể"? Ra
ngoài xưng mình là người Viẹât Nam cứ thấy mắc cở, đau
xót trong lòng.
- Còn chuyẹân gì hấp dẫn hơn
không? Nói chuyện hối lộ tiền bạc hoài chán quá.
- Thiếu gì! Hôm nào rảnh tôi kể
cô nghe chuyện giá "nhân dân", giá "Viẹât Kiều" và giá "Ngoại
kiều". Vui lắm.
Tiểu muội kêu lên:
- Sao mà lắm giá thế?
Ông cười hì hì:
- Thì dưới "ánh sáng Xã họâi
chủ nghiã" và sự lãnh đạo cuả những "đỉnh cao trí tuệ"
mà. Cái gì mà nhà nưóc ta chẳng "phát huy" và khắc phục
được? Huống gì ba cái giá cả cho ... nhân dân!
Ghi chú:
1. Thủ tục đầu tiên: tiền đâu,
chỉ việc ăn hối lộ
2. Thí cô hồn: cúng cô hồn không
có người cúng vào ngày rằm tháng 7, coi như của bố thí.
3. Mãi lộ: Tiền bọn ăn cướp
chặn đường thu tiền người qua đường ngày xưa.
* * *
Những tác phẩm của Kathy Trần.
12 - 2001 Ngọc Hân. Truyện ngắn
(những thiên tình sử Việt). 330 trang, $12
2000 Không cần đàn bà? Phiếm
luận 350 trang, $14
1999 Ðược Vay Nụ Cười. Truyện
dài 330 trang, $12 (Gần hết)
1998 Nửa Sơn Hà.
Truyện dài
350 trang, $14 (Sắp hết)
1997 Ðàn ông đàn bà. Phiếm,
(Ðã hết)
liên lạc: (408) 281-4077 hay 337 Oakberry
way, San Jose, CA 95123
E-mail: KathyTran337@hotmail.com
|