Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone+Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Người Quan Sát  - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Phượng Hoàng - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Hoa Sơn Kiếm - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Ngàn Giọt Lệ Rơi
Nguyễn Thanh Hoàng
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài Mới Nhất

CON VỊT




.
Nhóm những nhà văn quân đội
Gía 25US$


Tác giả Trần Gia Phụng.
In lần thứ 2 - 28CAN$/22US$


Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh - Tái bản lần 2.
35CAN$/25US$ *


Tự truyện - Nguyễn Thị Hải
14CAN$/10US$ *


Tác giả Bùi Ngọc Tấn.
25CAN$/20US$
(Ở Mỹ bán 35US$).

* Giá bán kể cả cước phí.
Liên lạc: NS Việt-Nam.


 Nguyệt-San Việt-Nam Số 66
Tháng 5&6/2003

"Tri ngã giả kỳ thiên hồ!"
Bắc Phong Sài Gòn

Sáng nay thức dậy mở cửa, ánh nắng chan hòa, cơn gió xuân phả mát vào mặt. Tôi chợt buồn buồn nói nhỏ với vợ: "Hôm nay là ngày 30 tháng Tư!" Nàng trầm ngâm lặng thinh, rồi buông tiếng thở dài: " Mới đó mà đã 28 năm!" Trời mây Bắc Mỹ bao la này vẫn không choán hết nỗi trống vắng quê hương. Tôi ray rức, dựa cửa nhìn trời. Ký ức chập chờn những kỷ niệm. Tôi chia ký ức ra từng phần, phần cho những mùa xuân trong tù, phần cho mùa xuân đen tối trùm xuống quê hương năm nào, phần cho những ngày tháng lưu vong. Một mớ ký ức hỗn độn, tiếc nuối, đớn đau, muộn phiền cứ ra vào trong tiềm thức. 
Ngày 30 tháng Tư như một vết đen mang tính ba động mỗi khi bị đánh thức, nó không chết hay tàn phai với thời gian và không gian. Tôi vẫn nuối một ngày về tự do trên những con đường yêu dấu cũ...

Vancouver không biết ngày 30 tháng Tư như tôi vẫn nhớ và biết với nỗi đau còn vương vấn, nó như sợi tơ cứ giăng dài theo năm tháng. Thành phố tôi sống tạm dung, thành phố đẹp nhất Bắc Mỹ, được thiên hạ xếp vào hàng đầu trên thế giới 5 năm liền, đang chìm ngập trong mầu hoa anh đào nở rộ, thơ mộng, thần tiên. Mỗi khi xuân đến, hoa nở một lần, khắp nẻo đường rực nắng rực hoa. Tôi thả tầm mắt lang thang trên từng nhánh hoa anh đào trước cửa và bỗng nhớ những mùa xuân xưa nơi quê nhà. Tôi thấy dường như khung trời mùa xuân Vancouver thiếu một cái gì... À! Tôi nhớ ra rồi! Một cánh én. 

Tôi nhớ lại. Xuân trên quê hương Việt Nam dập dìu những cánh én lượn. Những con chim nhỏ dễ thương này thường đậu dài trên những dây điện. Những ngày xuân trong tù, tôi lại thấy én chùm nhum đậu từng đàn trên những dây kẽm gai. Nhìn chim mà tủi thân tù ngục. Thỉnh thoảng tôi vẫn nói với vài bạn tù " chim là cõi phúc, tù là dây oan". Ừ! "Phải chi mình hóa thành chim được. Ðể bốn phương trời tung cánh bay!". Người ta không thể giăng kẽm gai, xây nhà tù giữa bầu trời xanh... Và đó chính là niềm hạnh phúc của loài chim. Người và chim, ai hạnh phúc hơn ai? Rồi bỗng một hôm, một con chim én báo hiệu mùa xuân đó lọt vào tay tôi trong một tình huống khá éo le, oan nghiệt.

Kể từ ngày "trình diện học tập" tại sân nhà thờ Lạc Ðạo Phan Thiết ngày 19/5/1975, bị đưa lên trại Kà Tót gần 6 tháng, rồi chuyển về Tổng trại 8 Tù Tàn Binh Sông Mao, chúng tôi bị ném vào lò tù lao động tẩy não gần 2 năm. Trong giai đoạn đầu, 6 tháng mới cho thăm nuôi một lần, tù lao động nặng nhưng cộng sản cho nuôi ăn theo tiêu chẩm cầm hơi toàn khoai sắn và bí bánh xe, nên tên nào cũng tong teo, bơ phờ ghẻ chốc. Cóc nhái, rắn chuột, thằn lằn cắt ké gì lọt vô trại là bị tù chộp cho vô giàn hỏa ngay. Cái đói nó hành con người còn ác hơn những ngày lao động cong ba sườn, hay những buổi học tập phờ người. Một buổi trưa, có một tên tù nẩy ra sáng kiến làm bẫy bắt chim én. Hắn tước mấy cọng nylon trong vạt chiếu, thắt một vòng tròn nhỏ, bắt con ruồi cắm vào một que nhọn rồi cắm xuống vòng lang trụi lá. Con ruồi nằm giữa vòng tròn. Ðàn én lượn qua lại... và rồi một con dính bẫy. Tên tù mừng húm phóng ra vòng lang chộp con chim, nhổ lông cho vào lò than. Mùi thịt chim đánh thức đám tù đói, nhìn người bạn tù chấm con chim thơm phức vô gói muối nhai ngon lành, cả đám bỗng tìm ra cách giải quyết cho vấn đề bao tử trống. Thế là mấy chiếc chiếu được lôi ra tước giây nylon, và mấy cái vòng lang mọc đầy bẫy én, tua tủa chong lên như những giàn hỏa tiễn chống máy bay. Trên vỉa hè trại buổi trưa Chúa Nhật nghĩ lao động, đám tù ngồi từng hàng chăm chú theo dõi bẫy én của mình. Những cái đầu chăm chú xoay qua xoay lại theo chiều bay của én. Tôi là một trong những tên tù đói đó. Trời xanh vô nghĩa. Én xuân vô nghĩa. Mùa xuân vô nghĩa. "Với tôi, tất cả đều vô nghĩa. Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau"... vì đói.

Tôi có bốn cái bẫy én trên vòng lang của tổ tôi. Tôi chờ từ sáng đến trưa, lai rai các chú én dính bẫy bên cạnh và kết thúc cuộc đời bay liệng trên mấy cục than hồng, nhưng không con nào vô bẫy của tôi. Tôi ngồi buồn chống cầm theo dõi mấy con én lướt nhanh qua vòng lang mình. Một cán bộ quản giáo Việt cộng đi ngang, thắc mắc ném một câu hỏi vào đám tù:

- Ngày nghĩ các anh không ngủ trưa, ngồi cả đám sau hè làm cái gì?

- Canh bẫy bắt chim én bồi dưỡng, cán bộ!

Một tên tù vội trả lời. Tên quản giáo đứng lại nhìn mấy cái bẫy thô sơ cắm dọc trên mấy vòng lang rồi buột miệng:

- Mấy anh ngụy các anh có sáng kiến khắc phục giỏi nhỉ! Bắt én trong trại thì được! Nhưng phơi khoai sắn, dấu muối để trốn trại thì không thoát đâu nha! Liệu hồn!

Tên quản giáo khuất bóng cuối sân trại. Ðám tù vẫn còn chăm chú vào mấy con én. Tôi vừa buồn ngủ, vừa nản, định bụng nhổ bẫy vô sạp nằm ngủ, bỗng một con én dính vào bẫy tôi. Nó cố bay lên, rồi bị giựt xuống vì sợi dây nylon tròng siết vào cổ. Tôi phóng cái ào ra vòng lang, tóm cổ con chim én. Ðúng là con én tới số chết. Không có con én nào làm nỗi mùa xuân trong bụng những tên tù. Và cũng không có mùa xuân nào trong vòng kẽm gai với những tên tù bị nuôi và hành hạ như súc vật. 

Trước mắt tôi, trong hai bàn tay là con chim bẫy được, là miếng thịt nhỏ nhoi ngon lành trong cơn đói. Nhưng chẳng hiểu sao tôi không nhổ lông con chim ngay, mà lại mang nó vào bóng mát, tưng tiu trong bàn tay. Lông nó đen nhánh mượt mà. Nó nằm in, không mở mắt, không cục cựa trong lòng bà tay trái của tôi. Tôi vuốt lưng chim bằng bàn tay phải chai cứng, sần sùi vì những tháng năm lao động mà không có chút vinh quang. Lớp lông vũ mịn màng chuyền vào tôi một thứ cảm giác dễ chịu chưa bao giờ tôi có được trong những ngày tù. Chim vẫn nằm yên bất động. Nó chết? Không! Tôi thấy nó còn ấm và thở, thật nhẹ và đều. Tôi thử đưa tay trái giơ ra giữa trời. Nó không bay. Tôi coi lại cánh chim. Cánh nó còn nguyên không gẫy lặt lìa. Tôi thu bàn tay lại. Chợt chim mở mắt. Ôi! Ðôi mắt đen diệu kỳ, tuyệt đẹp và dễ thương. Dường như nó nhìn tôi. Dường như nó cam chịu số kiếp. Nó vẫn không bay, dù nó bay tôi cũng không chộp bắt nó lại. Cơn đói trong tôi đã biến đi đâu mất tự lúc nào trước đôi mắt đen láy thần tiên của con chim. Lòng tôi chùng lại. Tôi thấy thương và tội nghiệp con chim...

Tôi nghĩ đến thân phận mình. Tôi nghĩ đến thân phận chim. Tôi nghĩ mình vô thường, và chim cũng vô thường. Vạn vật gặp nhau cũng bởi cái duyên. Tôi gặp chim trong hoàn cảnh éo le này cũng bởi cái duyên. Làm sao tôi có thể kết thúc đời chim trong lửa đỏ chỉ vì một cơn đói nhỏ nhen trần tục trong cõi trầm luân đầy hệ lụy này. Tôi sẵn sàng trả chim trở lại khung trời xanh, còn ai chịu thả tôi ra khỏi những vòng kẽm gai oan nghiệt? Ai hiểu được lòng tôi? Ai hiểu được lòng chim?

Tôi mang chim vào sạp nằm, xé một vạt vải trắng nhỏ từ chiếc áo sơ mi rách, cột một chéo vải vào cổ chim, phần còn lại, tôi viết một dòng chữ Hán "tri ngã giả kỳ thiên hồ" rồi mang chim ra giữa sân trại. Tâm sự "tri ngã giả kỳ thiên hồ" này dường như là lời trăn trối cuối cùng của Ðức Khổng Tử trước khi ngài nhắm mắt. Chim vẫn nằm im, tội nghiệp. Tôi nói với chim: Bay đi! Nhân danh tự do, ta thả chim trở lại trời xanh. Biết được lòng ta chỉ có Trời. Ta thân phận tù đày nhưng chưa chết, thì hà cớ gì chỉ vì một chút đói mà ta lại sát sinh, ta lại giết chim. Ta mơ tự do. Ta trả tự do cho chim! Bay lên đi!

Tôi lại vỗ nhẹ lưng con chim én. Nó cựa mình, mở mắt và vụt tung cánh bay, mang theo tiếng than " tri ngã giả kỳ thiên hồ" lên trời xanh. Én vút lên cao. Dường như mảnh vải nhỏ làm nó lảo đảo, và rồi cánh én bình phi mang theo một vệt trắng biến mất giữa trời bao la.

Hai mươi tám năm sau, ngày 30 tháng Tư 2003, tôi đắm mình trong nắng xuân đầm ấm đầy hoa anh đào dưới trời Vancouver, tôi đưa mắt trông tìm không ra một cánh én. Tôi thấy mùa xuân xứ người thiếu vắng một cái gì. Tổ quốc? Quê hương? Mùa xuân? Cánh én? Dường như tất cả! Tôi vẫn tiếc nhớ cái nồng nàn của mùa xuân Việt Nam. Và tôi bỗng nhớ con chim én ngày nào giữa trại tù, nơi tôi trả nó lại trời xanh với dòng tâm sự "tri ngã giả kỳ thiên hồ!" như nhờ nó mang đến cho cao xanh ở một phương trời vô định nào đó mà tôi không có địa chỉ...

Ngày nay tôi vẫn sống. Tôi tưởng đã chết trong khói lửa chiến tranh. Tôi tưởng đã bỏ thân trong những tháng ngày tù ngục. Ra tù, vượt đại dương sóng gió trên chiếc thuyền con đi sông rạch, tôi tưởng đã bỏ thân phận mong manh của đời mình trong lòng biển trên đường trôi giạt đến Pulau Bidong... Phải chăng nhờ chút từ tâm, nhờ chút Phật tính chìm đọng dưới đáy lòng mà tôi đã không sát sinh, tôi đã tha cho én và Trời đã thương tôi. "Tri ngã giả kỳ thiên hồ!" Lòng trời linh diệu, bao la. Tạ ơn Ðức Khổng Tử! Tạ ơn Trời! Tạ ơn én! Tạ ơn mùa xuân Bắc Mỹ đầy hoa anh đào...


Bắc Phong Sài Gòn


 
Trang Bìa 
Ðầu trang