Ngày 30 tháng
Tư như một vết đen mang tính ba động
mỗi khi bị đánh thức, nó
không chết hay tàn phai với thời
gian và không gian. Tôi vẫn nuối
một ngày về tự do trên những
con đường yêu dấu cũ...
Vancouver không biết
ngày 30 tháng Tư như tôi vẫn nhớ
và biết với nỗi đau còn
vương vấn, nó như sợi tơ
cứ giăng dài theo năm tháng.
Thành phố tôi sống tạm dung, thành
phố đẹp nhất Bắc Mỹ, được
thiên hạ xếp vào hàng đầu
trên thế giới 5 năm liền, đang
chìm ngập trong mầu hoa anh đào nở
rộ, thơ mộng, thần tiên. Mỗi khi
xuân đến, hoa nở một lần,
khắp nẻo đường rực
nắng rực hoa. Tôi thả tầm mắt
lang thang trên từng nhánh hoa anh đào
trước cửa và bỗng nhớ
những mùa xuân xưa nơi quê
nhà. Tôi thấy dường như
khung trời mùa xuân Vancouver thiếu
một cái gì... À! Tôi nhớ
ra rồi! Một cánh én.
Tôi nhớ lại.
Xuân trên quê hương Việt Nam dập
dìu những cánh én lượn.
Những con chim nhỏ dễ thương này
thường đậu dài trên những
dây điện. Những ngày xuân
trong tù, tôi lại thấy én chùm
nhum đậu từng đàn trên
những dây kẽm gai. Nhìn chim mà
tủi thân tù ngục. Thỉnh thoảng
tôi vẫn nói với vài bạn
tù " chim là cõi phúc, tù là
dây oan". Ừ! "Phải chi mình hóa
thành chim được. Ðể bốn
phương trời tung cánh bay!". Người
ta không thể giăng kẽm gai, xây nhà
tù giữa bầu trời xanh... Và
đó chính là niềm hạnh phúc
của loài chim. Người và chim,
ai hạnh phúc hơn ai? Rồi bỗng một
hôm, một con chim én báo hiệu mùa
xuân đó lọt vào tay tôi trong
một tình huống khá éo le, oan nghiệt.
Kể từ ngày
"trình diện học tập" tại sân nhà
thờ Lạc Ðạo Phan Thiết ngày
19/5/1975, bị đưa lên trại Kà Tót
gần 6 tháng, rồi chuyển về Tổng
trại 8 Tù Tàn Binh Sông Mao, chúng
tôi bị ném vào lò tù lao
động tẩy não gần 2 năm. Trong
giai đoạn đầu, 6 tháng mới
cho thăm nuôi một lần, tù lao động
nặng nhưng cộng sản cho nuôi ăn theo
tiêu chẩm cầm hơi toàn khoai sắn
và bí bánh xe, nên tên nào
cũng tong teo, bơ phờ ghẻ chốc.
Cóc nhái, rắn chuột, thằn lằn
cắt ké gì lọt vô trại là
bị tù chộp cho vô giàn hỏa ngay.
Cái đói nó hành con người
còn ác hơn những ngày lao động
cong ba sườn, hay những buổi học
tập phờ người. Một buổi
trưa, có một tên tù nẩy ra sáng
kiến làm bẫy bắt chim én. Hắn
tước mấy cọng nylon trong vạt chiếu,
thắt một vòng tròn nhỏ, bắt
con ruồi cắm vào một que nhọn rồi
cắm xuống vòng lang trụi lá. Con
ruồi nằm giữa vòng tròn. Ðàn
én lượn qua lại... và rồi
một con dính bẫy. Tên tù mừng
húm phóng ra vòng lang chộp con chim, nhổ
lông cho vào lò than. Mùi thịt chim
đánh thức đám tù đói,
nhìn người bạn tù chấm
con chim thơm phức vô gói muối
nhai ngon lành, cả đám bỗng tìm
ra cách giải quyết cho vấn đề
bao tử trống. Thế là mấy chiếc
chiếu được lôi ra tước
giây nylon, và mấy cái vòng lang
mọc đầy bẫy én, tua tủa chong
lên như những giàn hỏa tiễn
chống máy bay. Trên vỉa hè trại
buổi trưa Chúa Nhật nghĩ lao động,
đám tù ngồi từng hàng
chăm chú theo dõi bẫy én của
mình. Những cái đầu chăm
chú xoay qua xoay lại theo chiều bay của én.
Tôi là một trong những tên tù
đói đó. Trời xanh vô
nghĩa. Én xuân vô nghĩa. Mùa
xuân vô nghĩa. "Với tôi, tất
cả đều vô nghĩa. Tất cả
không ngoài nghĩa khổ đau"... vì
đói.
Tôi có bốn
cái bẫy én trên vòng lang của
tổ tôi. Tôi chờ từ sáng
đến trưa, lai rai các chú én
dính bẫy bên cạnh và kết thúc
cuộc đời bay liệng trên mấy
cục than hồng, nhưng không con nào vô
bẫy của tôi. Tôi ngồi buồn
chống cầm theo dõi mấy con én lướt
nhanh qua vòng lang mình. Một cán bộ
quản giáo Việt cộng đi ngang, thắc
mắc ném một câu hỏi vào đám
tù:
- Ngày nghĩ các
anh không ngủ trưa, ngồi cả đám
sau hè làm cái gì?
- Canh bẫy bắt
chim én bồi dưỡng, cán bộ!
Một tên tù
vội trả lời. Tên quản giáo
đứng lại nhìn mấy cái
bẫy thô sơ cắm dọc trên mấy
vòng lang rồi buột miệng:
- Mấy anh ngụy các
anh có sáng kiến khắc phục giỏi
nhỉ! Bắt én trong trại thì được!
Nhưng phơi khoai sắn, dấu muối để
trốn trại thì không thoát đâu
nha! Liệu hồn!
Tên quản giáo
khuất bóng cuối sân trại. Ðám
tù vẫn còn chăm chú vào
mấy con én. Tôi vừa buồn ngủ,
vừa nản, định bụng nhổ bẫy
vô sạp nằm ngủ, bỗng một con
én dính vào bẫy tôi. Nó cố
bay lên, rồi bị giựt xuống vì
sợi dây nylon tròng siết vào
cổ. Tôi phóng cái ào ra vòng
lang, tóm cổ con chim én. Ðúng là
con én tới số chết. Không
có con én nào làm nỗi mùa
xuân trong bụng những tên tù.
Và cũng không có mùa xuân
nào trong vòng kẽm gai với những
tên tù bị nuôi và hành hạ
như súc vật.
Trước mắt
tôi, trong hai bàn tay là con chim bẫy được,
là miếng thịt nhỏ nhoi ngon lành
trong cơn đói. Nhưng chẳng hiểu
sao tôi không nhổ lông con chim ngay, mà
lại mang nó vào bóng mát, tưng
tiu trong bàn tay. Lông nó đen nhánh
mượt mà. Nó nằm in, không
mở mắt, không cục cựa trong
lòng bà tay trái của tôi. Tôi
vuốt lưng chim bằng bàn tay phải chai
cứng, sần sùi vì những
tháng năm lao động mà không
có chút vinh quang. Lớp lông vũ
mịn màng chuyền vào tôi một
thứ cảm giác dễ chịu chưa
bao giờ tôi có được
trong những ngày tù. Chim vẫn nằm
yên bất động. Nó chết? Không!
Tôi thấy nó còn ấm và thở,
thật nhẹ và đều. Tôi thử
đưa tay trái giơ ra giữa trời.
Nó không bay. Tôi coi lại cánh chim.
Cánh nó còn nguyên không gẫy
lặt lìa. Tôi thu bàn tay lại. Chợt
chim mở mắt. Ôi! Ðôi mắt
đen diệu kỳ, tuyệt đẹp và
dễ thương. Dường như nó
nhìn tôi. Dường như nó cam
chịu số kiếp. Nó vẫn không
bay, dù nó bay tôi cũng không chộp
bắt nó lại. Cơn đói trong tôi
đã biến đi đâu mất
tự lúc nào trước đôi
mắt đen láy thần tiên của
con chim. Lòng tôi chùng lại. Tôi thấy
thương và tội nghiệp con chim...
Tôi nghĩ đến
thân phận mình. Tôi nghĩ đến
thân phận chim. Tôi nghĩ mình vô
thường, và chim cũng vô thường.
Vạn vật gặp nhau cũng bởi cái
duyên. Tôi gặp chim trong hoàn cảnh
éo le này cũng bởi cái duyên.
Làm sao tôi có thể kết thúc
đời chim trong lửa đỏ chỉ
vì một cơn đói nhỏ nhen trần
tục trong cõi trầm luân đầy
hệ lụy này. Tôi sẵn sàng trả
chim trở lại khung trời xanh, còn
ai chịu thả tôi ra khỏi những
vòng kẽm gai oan nghiệt? Ai hiểu được
lòng tôi? Ai hiểu được lòng
chim?
Tôi mang chim vào
sạp nằm, xé một vạt vải trắng
nhỏ từ chiếc áo sơ mi rách,
cột một chéo vải vào cổ chim,
phần còn lại, tôi viết một dòng
chữ Hán "tri ngã giả kỳ thiên
hồ" rồi mang chim ra giữa sân trại.
Tâm sự "tri ngã giả kỳ thiên
hồ" này dường như là lời
trăn trối cuối cùng của Ðức
Khổng Tử trước khi ngài nhắm
mắt. Chim vẫn nằm im, tội nghiệp. Tôi
nói với chim: Bay đi! Nhân danh tự
do, ta thả chim trở lại trời xanh.
Biết được lòng ta chỉ có
Trời. Ta thân phận tù đày
nhưng chưa chết, thì hà cớ
gì chỉ vì một chút đói
mà ta lại sát sinh, ta lại giết chim.
Ta mơ tự do. Ta trả tự do cho chim!
Bay lên đi!
Tôi lại vỗ
nhẹ lưng con chim én. Nó cựa mình,
mở mắt và vụt tung cánh bay,
mang theo tiếng than " tri ngã giả kỳ thiên
hồ" lên trời xanh. Én vút
lên cao. Dường như mảnh vải
nhỏ làm nó lảo đảo, và
rồi cánh én bình phi mang theo một
vệt trắng biến mất giữa trời
bao la.
Hai mươi tám
năm sau, ngày 30 tháng Tư 2003, tôi
đắm mình trong nắng xuân đầm
ấm đầy hoa anh đào dưới
trời Vancouver, tôi đưa mắt trông
tìm không ra một cánh én. Tôi
thấy mùa xuân xứ người
thiếu vắng một cái gì. Tổ quốc?
Quê hương? Mùa xuân? Cánh én?
Dường như tất cả! Tôi vẫn
tiếc nhớ cái nồng nàn của
mùa xuân Việt Nam. Và tôi bỗng
nhớ con chim én ngày nào giữa
trại tù, nơi tôi trả nó lại
trời xanh với dòng tâm sự
"tri ngã giả kỳ thiên hồ!" như
nhờ nó mang đến cho cao xanh ở
một phương trời vô định
nào đó mà tôi không có
địa chỉ...
Ngày nay tôi vẫn
sống. Tôi tưởng đã chết
trong khói lửa chiến tranh. Tôi tưởng
đã bỏ thân trong những tháng
ngày tù ngục. Ra tù, vượt
đại dương sóng gió trên
chiếc thuyền con đi sông rạch, tôi
tưởng đã bỏ thân phận
mong manh của đời mình trong lòng
biển trên đường trôi giạt
đến Pulau Bidong... Phải chăng nhờ
chút từ tâm, nhờ chút
Phật tính chìm đọng dưới
đáy lòng mà tôi đã
không sát sinh, tôi đã tha cho én
và Trời đã thương tôi.
"Tri ngã giả kỳ thiên hồ!" Lòng
trời linh diệu, bao la. Tạ ơn Ðức
Khổng Tử! Tạ ơn Trời! Tạ
ơn én! Tạ ơn mùa xuân Bắc
Mỹ đầy hoa anh đào...