Ðưa người,
ta không đưa sang sông
Sao có tiếng sóng
ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm,
không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn
trong mắt trong?
(Thâm Tâm – Tống biệt
hành)
Trên đà Liên Xô
cải tổ, khi Ðảng Cộng sản không
còn kiểm soát và quyết định
mọi thứ từ A đến Z thì
tôi được xuất ngoại lần
đầu sau hơn 20 năm làm việc ở
Ðài phát thanh. Việt Nam, năm 1988.
Ði một lần rồi thì tôi kiếm
cớ để đi hoài. Hết chuyên
đề này đến chuyên đề
khác. Lúùc thì Ðài phát
thanh, khi thì Hội Ký giả đài
thọ kinh phí. Chân vừa đặt
xuống sân bay Tân Sơn Nhất thì
đầu đã nghĩ đến chuyến
đi sau. Tôi nghiện Việt Nam như xì
ke, ma túy. Ðến năm 1991 thì đã
đi hơn 20 lần. Trong ba năm mà chừng
ấy chuyến công tác! Nhưng nếu
tính cho toàn thời gian 20 năm công
vụ thì có nhiều nhặn gì đâu!
Lần đó tôi hỏi
một nhà báo trẻ về những
người có tư tưởng đối
lập ở Sài Gòn. Anh kể vài
tên tuổi trong giới tôn giáo
đang trong tù và "một người
vừa được thả, có quan
hệ với tổ chức Ân xá
Quốc tế". Tôi muốn gặp nhân
sĩ ấy nên anh bạn chở tôi
đến nhà người quen để
hỏi địa chỉ. Người này
biết địa chỉ mà lại không
quen. Ðiều đó có nghĩa là
tôi phải tự tìm đến. Có
sao đâu! Tên anh là Nguyễn đan
Quế. Số nhà là 120/7 đường
Nguyễn Trãi, quận 5.
Tôi biết ở VN mọi
việc nên tiến hành vào sáng
sớm, lúc đầu giờ. Nhưng
thức dậy thì phải mặc quần
áo, xuống bar ăn điểm tâm,
trở lên phòng uống cà-phê,
vẽ mắt, lập kế hoạch cho ngày,
gọi điện thoại vô số chỗ
nên khi đẩy cửa khách sạn
bước ra ngoài thì đã quá
Ngọ.
Sài Gòn trưa đón
tôi bằng một chiếc hôn dài
nóng bỏng, thơm mùi lá dứa.
Tôi nhắm mắt, ngất ngây. Mở
mắt ra thì xung quanh cơ man nào là
vé số, báo chí , kẹo bánh,
hoa quả, gà sống của nhiều người
bán bu lại. Hàng được gánh
trên vai, đặt trong xe đẩy, cầm
trong tay hoặc ôm vào bụng. Tôi đưa
mắt tìm xích-lô. Có hai người
đã quen trong mấy ngày ở khách
sạn này. Họ neo xe chỉ vì tôi.
Khách nước ngoài khác thì
có xe hơi đưa đón, chẳng
ai có chương trình tự do.
"Cái đuôi" đã
theo tôi ra ngoài. Ðó là một
thanh niên mặc sơ-mi trắng ngắn tay
hồi nãy còn ngồi ở khu tiếp
tân. Anh Krisevsky, phóng viên thường
trú ở Hà Nội nói không
sai. Người ngoại quốc được
quan tâm theo dõi chu đáo, nhất là
giới truyền thông. Tôi nói
lớn với anh Sơn xích-lô:
Ði chợ Bến Thành
bao nhiêu?
Mười ngàn, thưa
cô.
Nhân viên an ninh kia đã
nghe và không có vẻ muốân đi
theo vì không phóng vào sân để
lấy Honda. Chiếc xích-lô được
nghiêng xuống để tôi bước
lên. Tiện chân hơn lên xe hơi nhiều
lắm. Xích-lô Sài Gòn thiệt
là quá đã! Ngồi cao, gió
mát. Tha hồ nhìn ngắm. Và thiên
hạ cũng ngắm mình.
Tôi có tật không
nhớ tên đường dù
đã đi lại nhiều lần. Nhưng
muốn biết thì không khó. Tên
đường và số được
treo biển trên mỗi nhà. Không như
ở Mạc-tư-khoa tên chỉ được
ghi ở hai đầu đường
dài mút chỉ.
Chợ Bến Thành đây
rồi! Anh Sơn nhất mực đòi
đợi để đưa về nên
tôi hẹn anh dưới một bóng
râm rồi bương bả đi vào
cửa chợ. Hai giờ trưa, chợ
vắng
người mua. Bắt gặp cặp mắt
tôi thì ai cũng tươi cười
mời mua hàng. Tôi chợt nhớ
phải kềm bước lại, đi cho
thong thả. Người Việt thường
đi chậm. Sánh bước với
họ bên Mạc-tư-khoa tôi rất bực
mình, đi gì mà chậm rì như
cua lột. Nhưng nhập gia tùy tục. Ở
đây mà bước nhanh thì không
giống con giáp nào.
Tôi cũng nhớ để
nặn ra nụ cười đáp lại
các lời chào hàng. Người
Việt rất hay cười. Dân Liên
Xô thì lúc nào mặt mày cũng
bí xị như bị mất phiếu mua đường.
Còn chào mời khách mua hàng
thì làm gì có ở nước
tôi. Người bán chỉ mong khách
đi luôn cho khuất mắt, không mắng
cho mấy tiếng đã là may!
Tôi ghé mua chai rượu
chát. Trả tiền hơi mỏi tay vì
nhiều quá. Nhưng đúng thôi,
của Pháp chánh hiệu con nai vàng.
Ra khỏi chợ bên đường
Lê Thánh Tôn thì mua thêm bó
hoa.
Nóng quá! Mồ hôi
ra ướt áo. Chúng tôi dường
như làm bằng sáp ong hay sao ấy? Thèm
một ly nước ngọt có ga. Ướp
lạnh thôi chứ đừng cho nước
đá. Mấy cây nước đá
đang nằm chình ình trước
cửa quán đợi chủ kéo
vô. Tôi không ngại mất vệ sinh
đâu. Nhưng đá cục làm loãng
nước, mất ngon.
Một nhóm trẻ bụi đời
vây lấy tôi, tíu tít như bầy
chim sẻ. Nghe tôi hỏi "muốn gì?" thì
cả bọn trợn mắt, á khẩu.
Ðứa nhanh nhẹn nhất liền chạy
đi đâu đó lôi về một
bé gái đi chân đất, bảo
rằng ngủ trưa dưới gốc cây
bị chôm mất dép. Hỏi cần bao
nhiêu? Nói năm ngàn. Cho tiền cháu
bé rồi thì tôi đón xích-lô,
đưa mảnh giấy ghi địa chỉ
ở đường Nguyễn Trãi.
Ðường này trải
dài trên hai quận 3 và 5, có đến
hai chỗ mang số 120 nhưng bên cạnh không
có hẽm. Anh xích-lô không chịu
thua cứ đạp lòng vòng. Bảo
hỏi khách trên đường thì
anh không muốn nên tôi xuống xe tự
đi tìm.
Tôi ghé vào hàng
cà-phê lề đường để
hỏi địa chỉ sau khi đã làm
xong thủ tục bằng hai ly cà-phê đá
và đen trên bộ bàn ghế nhỏ
xíu như của người Chim Chích.
Chủ hàng không biết số nhà
ở đâu nhưng cho hay trong một hẽm
không xa có nhà bác sĩ. Chi tiết
anh Quế là bác sĩ không ngờ
lại đắc dụng. Vậy mà lúc
nghe người quen của bạn nói thì
tôi cho là thừa, lẩm cẩm.
Ôm bó hoa và chai rượu
đứng lên mới thấy đói
làm sao! Quán phở ở gần
đó nên tôi bước vào
gọi một tô. Thấy tôi đưa
mảnh giấy cho bồi bàn thì bà
chủ chạy đến. Bồi và chủ
đều há miệng nghe bà đầm
nói tiếng Việt.
Bà chủ cho biết có
hẽm 102 chứ không phải 120, trong đó
có nhà của bác sĩ Nguyễn
Ðan Quế, ăn xong thì bà sẽ
dẫn tôi đến. Hóa ra tôi hãy
còn khờ. Cứ chú mục vào
cái số nhà mà không chịu
nói đi tìm ai. Ở VN thì con người
được biết rõ hơn con số,
ngược lại với bên Âu-Mỹ.
Không phải bà chủ
mà ông chủ quán tranh làm hướng
dẫn viên. Ði bộ thì chắc là
gần vì nếu không thì ông đã
điều ra chiếc Honda hoặc xe đạp.
Bó hoa tôi để lại trong quán
vì không còn tươi nữa. Chỉ
còn chai rượu nên đỡ
cồng kềnh. Tôi lót tót theo sau
ông chủ quán, lòng mừng khấp
khểnh. Ông ta cũng vui, thỉnh thoảng
ngoái nhìn tôi mỉm cười,
không biết rằng đây là trường
hợp ngoại lệ nên tôi mới
chịu đi sau. Chớ ở bên
nước tôi thì đừng
hòng, phụ nữ đi trước
đàn ông mới là đúng
điệu!
Một đám rước
nhỏ diễn ra từ đầu hẽm
đến tận nhà anh Quế. Lũ trẻ
con chạy theo tôi hò reo tỡ mỡ:
Liên-Xô, Liên-Xô ! Còn chi là
bí mật, bật mí rồi !
Ông chủ quán chỉ
căn nhà có tấm biển đồng
trên trụ cửa: Phòng mạch bác
sĩ Nguyễn Ðan Quế. Tôi cảm
tạ bằng một bao thuốc lá ba số
năm móc ra từ xắc tay nhưng ông
ta từ chối, tần ngần như cũng
muốn gặp chủ nhà. Nhưng tôi kiên
quyết đợi ông đi rồi mới
bấm chuông.
Mới đó mà
đã tối. Vào tối tháng 5
- 1990 này tôi được làm
quen với anh Quế. Anh không tỏ vẻ
gì ngạc nhiên trước nữ
ký giả Liên Xô từ trên
trời rơi xuống. Như đã
biết nhau từ lâu. Nghe tôi muốn
giới thiệu cho nước Nga các
xu thế chính trị đối lập của
trí thức VN thì anh rất hoan nghênh
và bảo rằng: Tôi sẽ gây nên
một cao trào...
Chị Quế rất đẹp
và duyên dáng, là ca sĩ Tâm
Vấn một thời vang bóng. Hoa trên
bàn tuyệt sắc. Rượu mơ tự
ướp cực kỳ ngon.
Tôi hẹn ngày lấy
tài liệu. Và đến sớm
vì lên cơn đau gan, e rằng không
đi nổi. Anh Quế chẩn bệnh, cho ba viên
thuốc, một uống liền, hai để
cho ngày hôm sau. Anh đã soạn tài
liệu và đang mong tôi đến sớm.
Ðó là hai tập giấy quay ronéo,
một bản tôi sẽ gửi cho bạn
anh ở Canada; nội dung bàn về tình
hình quốc tế, quốc nội và
đòi hỏi Ðảng CS VN trả lại
quyền tự quyết cho toàn dân.
Bài tiểu luận về
"Cao trào Nhân bản" vừa được
dịch và đăng trên báo "Moscow
News" thì anh Quế bị bắt. Những
lần đi Sài Gòn sau đó tôi
đều đến căn nhà số
102/7. Vẫn hoa tươi và rượu
mơ nhưng chỉ còn hai phụ nữ
chúng tôi ngồi bên nhau im lặng.
Tháng 11 – 1991 vào ngày
xử anh Quế và một thành viên
của Cao trào Nhân bản, tôi tìm
đến Toà án ở đường
Nam Kỳ khởi nghĩa vốn là đường
Công Lý. Tôi đến sớm
nên ngồi chờ trong căng-tin ở
sân Toà án. Một xứ sở
lạ lùng! Hàng quán đâu cũng
có. Và thi ca tràn ngập, xuất khẩu
thành thơ.
"Nam Kỳ Khởi
Nghĩa tiêu Công Lý
Ðồng Khởi vùng
lên mất Tự Do"
Ðó là dư luận
của dân Sài Gòn về việc đổi
tên đường. Còn đây
là lời than của một nữ
giáo viên trên Sông Bé:
"Dép râu dẫm
nát đời con trẻ
Nón tai bèo che khuất
nẻo tương lai"
Thân nhân của hai gia đình
đã đến. Chị Quế cùng
đi với ba người con riêng
đã trưởng thành là các
cháu Hương, Huy, Hoàng mà tôi
cũng biết. Mười hai giờ
trưa thì một chiếc com-măng-ca chạy
vào sân, nhả ra hai người mặc
đồ sọc, tay bị còng. Tôi xông
vào ôm anh Quế. Anh nói khẽ: Rất
tốt!
Khi hai bị cáo được
dẫn vào phòng xử thì tôi
bị mời ra ngoài ngồi đợi
kết quả trong một phòng nhỏ với
chiếc ly, ấm trà và một người
giám sát ngoài cửa. Một nhóm
nhà báo đi ngang qua phòng định
tạt vào uống trà nhưng bị đuổi
thẳng cánh. Tôi như con bệnh truyền
nhiễm cần phải cách ly. Trong nhóm
này có Kiêm, từng công tác
chung với tôi ở Ban tiếng Việt
Ðài phát thanh MTK, đang phụ trách
mục Pháp luật trên Ðài truyền
hình thành phố. Thấy tôi ngồi
trơ trọi trong phòng, Kiêm không hiểu
gì cả, tưởng gặp ma, nhưng cũng
kịp nói lớn một câu để
tỏ rõ lập trường, không
biết với ai?
Vụ án này chẳng có
gì hay, một kẻ âm mưu phá hoại
chế độ đấy mà!
Rồi anh Quế vào tù.
Tôi không đi VN nữa. Khi anh về,
bị quản thúc tại gia thì tôi
có gọi điện thoại hàn huyên
một lần, trước khi đường
dây bị cắt.
Nay được tin anh lại
bị bắt vì định ra Internet cà-phê
để gửi tài liệu ra nước
ngoài. Ôi, rõ khổ cho anh!
Không phải vì gặp
tôi mà anh Quế mới nảy ra ý
định lập Cao trào Nhân bản. Nhưng
sao tôi cứ mãi ray rứt về
điều này. Chỉ tạm yên lòng
khi nhớ anh đã nói rằng: Rất
tốt.
Thắm thoát đã12
năm trôi qua kể từ ngày ấy.
Tôi cũng tin rằng sẽ rất tốt
cho 80 triệu con dân Việt Nam, nhưng không
phải bây giờ.
Irina Zisman
Viết cho ngày 11 tháng
5, 2003
|