Chị về
đất nước Nam ta
Ghé thăm Vân
Ðộ, hỏi nhà bà Duyên
Nhắn giùm với
mẹ già em
Rằng: Mai đã
chết ở trên đất Tàu!
(Trích đoạn mở
đầu tờ chương trình tuồng
cải lương: Gái Việt Trên Ðất
Tàu của đoàn Kim Chung Hà Nội,
trước năm 1954)
* * *
Tôi đã thấy
thiếu phụ có dáng dấp một người
đàn bà Việt Nam ấy, ngay từ
khi đến bãi Tiểu Thổ Chu nàỵ
Thiếu phụ hình như cũng nhận ra
tôi tương tự và đã
mỉm cười với tôi. Tôi
đi theo đoàn Công Thương Kỹ
Nghệ Gia Hồng Kông trong chương trình
tham quan miền Nam Phúc Kiến. Khu vực
này là trạm chót, trước
khi chúng tôi trở lại Hồng Kông
và buổi chiều hôm ấy mọi người
trong phái đoàn được tự
do ngoạn cảnh, dĩ nhiên trong địa
hạt do công an sở tại giới
hạn.
Tôi men theo con đường
mòn dẫn tới một bờ suối,
định bụng ngồi bên suối để
ngắm cảnh nước chảy về
xuôi. Nhưng trước mắt tôi
là một thiếu phụ đang giặt khá
nhiều quần áo. Trong chiếc "mủng"
đặt trên ghềnh đá, đã
có chăn mền giặt xong. Với khung
cảnh và công việc trước
mắt chứng tỏ tình trạng nghèo
nàn của đương sự. Khi tôi
đến gần, người đàn
bà mừng rỡ, nhưng tôi thất
vọng vì bà ta hỏi tôi bằng tiếng
Quảng Ðông?
- Nỵ hảo ma?
Chỉ một giây
thoáng qua, tôi chợt hiểu rằng
hẳn nhiên bà ta phải dùng ngôn
từ đó để nói chuyện.
Tôi vui vẻ gật đầu, nhưng tự
nhiên lại nói tiếng Việt:
- Tôi hy vọng chị
là người Việt Nam!
Thiếu phụ mừng
rỡ:
- Trời đất!
Rất hoan hỉ được gặp bà!
Tôi xua tay:
- Cứ xưng hô
như chị em! Ðồng bào mà. Chị
ở gần đây?
Nét mặt người
đàn bà vụt biến đổi.
Tôi nhận ngay ra dáng u buồn như đã
tích tụ tự lâu ngày:
- Dạ.
Tôi ngần ngại:
- Tôi không làm
phiền chị chứ?
- Thưa không, tôi
còn cả buổi chiều với công
việc này.
Vui vẻ đến
bên người đàn bà, tôi
tự giới thiệu:
- Tôi là Miêng,
từ Hồng Kông qua.
Thiếu phụ vui vẻ:
- Tôi tên Ngân,
hai năm trước còn ở Lạng
Sơn!
rồi chỉ chiếc
ghế mây bên cạnh:
- Chị ngồi tạm,
tiếc rằng không có trà...
Tôi lắc đầu:
- Không cần đâu.
Tôi là biên tập viên một tuần
báo. Do thói quen nghề nghiệp, lại
bất ngờ gặp chị cũng là
người Việt trên miền đất
này, tôi muốn tìm hiểu đôi
điều về sinh hoạt địa phương
này, nếu chị vui lòng...
Ngân thở dài:
- Tôi không thể
giúp chị, vì thật ra, tôi không
biết một chút nào về địa
phương này!
Thấy tôi tỏ
vẻ ngạc nhiên, Ngân dịu dàng:
- Cùng là phụ
nữ, tôi chẳng ngại tiết lộ
với chị về hoàn cảnh của
tôi: Tôi tự bán mình qua đây!
Hai năm nay, tôi không đi quá căn
nhà ven biển trên kia trong chu vi chưa tới
một cây số. Tôi chỉ biết vài
tiếng Quảng chào hỏi thông thường.
Ngoài lão Lâm và hai người
đàn bà - tôi đoán chừng
cũng là vợ của lão -, tôi
không được tiếp xúc với
bất cứ ai qua lại ở đây!
- Chị có thể
cho tôi biết, vì sao chị lại có
mặt trên miền đất này?
Thoáng thấy Ngân
ngần ngại, tôi nói tiếp:
- Nếu không tiện,
xin bỏ qua.
Ngân lắc đầu:
- Chẳng có gì
không tiện. Tôi còn muốn trút
hết nỗi lòng với chị. Có
điều câu chuyện dài dòng, tôi
chẳng biết phải bắt đầu từ
đâu.
- Chị cứ thủng
thẳng nói.
Bằng một giọng
nghẹn ngào, Ngân kể:
- Chúng tôi - hầu
hết phụ nữ Miền Bắc Việt
Nam sau chiến tranh đều lâm vào cảnh
góa bụa hoặc ở vậy, vì không
còn nam giới.
Tôi ngắt lời
chị:
- Chị nói saỏ
Không còn nam giớỉ Lẽ nào?
- Ðúng ra, là
không còn người đàn ông
nào chưa có vợ ở địa
phương! Thanh niên thì sau những
năm vượt Trường Sơn Ðánh
Mỹ, hoặc đi dân công phục vụ
chiến trường, hay đi... tù, chẳng
thấy ai trở lại. Bản tôi chỉ
còn một thanh niên duy nhất, nhưng anh
này đã có bốn bà vợ,
đâu còn hy vọng gì...
Thấy tôi tỏ
vẻ chưa hiểu, Ngân tiếp lời:
- Cô đơn về
già là một thảm cảnh mà chúng
tôi muốn tránh. Do vậy mà ai nấy
đều tìm mọi cách để có
được một đứa con, dù
phải ăn nằm với một tên
vô lại. Nhưng cả những gã
không ra gì cũng chẳng tìm ra. Có
những chị, sau "giải phóng" phải
lần mò vô Miền Nam hay Cao Nguyên
Miền Trung để hy vọng có một
đứa con, bất chấp mọi điều
cay đắng! Mấy năm trước
đây, tôi đã có ý định
theo gót các chị ấy, nhưng bố
tôi bị một tai nạn! Cần phải có
số tiền lớn để ông thoát
cảnh tập trung cải tạo mà người
dân Miền Bắc hiểu rất rõ
đó là cái án chung thân,
nếu không có "thuốc". Chẳng cần
phạm pháp, chỉ làm mếch lòng
một "ông lớn" trong "chính quyền
cách mạng, thậm chí bị một bà
"uỷ ban" không ưa, là có thể
bị gửi vào một trại "cải
tạo" không có ngày về.
Tôi xen vào:
- Cải tạo hay đi
tù thì cũng phải có thởi
hạn chớ?
Ngân lắc đầu:
- Chị không ở
Miền Bắc Việt Nam Xã Hội Chủ
Nghĩa, làm sao chị biết là dân
chúng bị kềm kẹp như thế nào!
Tôi nói không có ngày về,
là dù cho có đi tù hết một
"lệnh" là 3 năm, dù có được
"xét tha" ra khỏi "Trại", nhưng nếu chính
quyền địa phương từ chối,
không chịu nhận cho đương sự
về sinh sống tại địa phương
thì vẫn không được tha ra
khỏi trại. Bởi trong xã hội "ưu
việt", con người chịu sự quản
lý của.... Nhà Nước!
Tôi ngẩn người:
- Như vậy là
tù chung thân sao?
- Chắc chắn là
như vậy đó.
Ngân bùi ngùi
tiếp lời:
- Vì muốn cứu
bố, đồng thời muốn có
đứa con để nương tựa
khi già yếu, tôi bằng lòng bán
mình cho lão Lâm! Do mối lái qua
lại hai bên cửa "hữu nghị",
tôi nhận đủ số tiền cho bố
tôi thoát nạn, trước khi nhắm
mắt đi theo bọn buôn người!
Vào một đêm tối trời,
bọn chúng đã thành công trong
chuyến "hàng" chở 10 phụ nữ
Việt Nam xâm nhập Miền Nam Trung Quốc
và an toàn cập bến Tiểu Thổ
Chu này. Tôi thuộc quyền sở hữu
của lão Lâm, 9 người kia được
"mối" đem đi đâu không rõ.
Ngay đêm đầu
tiên, lão Lâm đã hành xử
với tôi như một kẻ nô lệ
dục vọng của lão. Tôi không hiểu
lão nói gì. Chỉ phải làm theo
những dấu hiệu lão phác ra mà
tôi hiểu được. Ban ngày,
tôi phải làm tất cả những
công việc của một người đầy
tớ. Ban đêm, lão hành hạ
tôi đủ điều. Tôi chịu
đựng tất cả với hy vọng
sẽ có một đứa con. Chỉ
cần cảm nhận triệu chứng mang thai,
tôi sẽ tìm cách vượt thoát
về Việt Nam, dù lão không cho phép
tôi bước chân ra ngoài khu vực
ấn định. Nhưng điều khốn
nạn nhất trong những bất hạnh
của đời tôi, là lão
Lâm không cho tôi cơ hội mang thai. Ðầu
năm nay, khi tôi chưa nhận ra triệu chứng
mang thai, thì lão Lâm đã biết
trước. Cùng với hai người
đàn bà Tầu, lão trói tay
chân tôi, ép tôi phải uống
thuốc phá thai. Chừng nghe lượng
thuốc đủ công dụng, một người
đàn bà lấy khăn bịt miệng
tôi, không cho tôi nôn ra.
Sau tai nạn đó,
tôi phải tiếp tục cuộc sống tôi
mọi cho đến ngày hôm nay. Nếu
không có một cơ may, tôi sẽ phải
chết già trên đất Tầu này.
Hy vọng vượt thoát sẽ rất
mong manh. Nhưng tôi vẫn ngày đêm
khẩn cầu Trời Phật ban cho tôi
một cơ may. Khi bằng lòng bán mình,
mặc nhiên tôi đã chấp nhận
mọi
hậu quả, để
đạt hai nguyện vọng: cứu bố
tôi và có một đứa con.
Ðến nay thì việc có con hầu
như vô vọng. Còn cứu bố?
Tôi đã nộp đủ yêu cầu
cho "cách mạng". Ủy ban hứa là
trong đợt ân xá tới, thế
nào họ cũng nhận cho bố tôi
trở lại sống ở địa
phương. Tôi đi rồi, chẳng hiểu
là bố tôi đã được
tha chưa? Nếu bọn họ nuốt lời,
tôi chết sẽ không được
nhắm mắt!....
Tôi cầm tay người
đàn bà bất hạnh. Ngoài những
lời an ủi, tôi đâu còn
cách gì giúp được chị?
Lúc tôi bùi ngùi từ giã
chị, tôi thấy hai dòng nước
mắt chị trào ra. Tôi nghẹn ngào,
vội vã quay trở ra xe. Hồng Kông
bữa nay đang sửa soạn đổi
chủ. Dĩ nhiên tôi sẽ đi Anh
Quốc. Còn người đàn bà
bất hạnh mà tôi đã gặp,
sẽ còn phải chịu thêm bao nhiêu
cay đắng của cuộc đời
một con người không bao giờ
được sống xứng đáng
với quyền sống của con người?
Hoàng Ngọc
Liên
(Trích tập truyện
Viên Ðạn Cuối Cùng)
Ghi chú của nhóm
NSVN: Thảm cảnh trong bài viết có
thật ngoài đời, hàng trăm,
hàng hàng người đàn bà
Việt nam bất hạnh dưới chế
đô cộng sản gọi là XHCN. Ðọc
xong bài viết, tất cả chúng ta chắc
không ai không có cùng một kết
luận: Phải chấm dứt chế đô
VC tại Việt Nam!/HT.
|