Thư cho con
Cờ
quốc gia Việt Nam bước khởi
đầu quyết định
Giáo già
TMX
San Jose, 9-5-2003
H.,
Tại tiền đình
quận hạt Santa Clara, Bắc California, sáng
ngày Chúa Nhựt 4-5-2003, một buổi
lễ Thượng kỳ Quốc gia Việt
Nam đã được Ban Ðại
Diện Cộng Ðồng Bắc California, phối
họp cùng các đoàn thể quốc
gia, tổ chức trọng thể, với
sự tham dự đông đảo của
quan khách Việt-Mỹ và đồng
bào địa phương, có một số
không nhỏ đến từ Nam California
và các thành phố khác ở
Bắc California.
Ðây là buổi
lễ thượng kỳ Quốc gia Việt
Nam nền vàng ba sọc đỏ đầu
tiên được thành phố San
Jose ban hành Tuyên ngôn (Proclamation) cho treo
hợp pháp, sau khi nhiều thành phố
khác ở Nam California đã ban hành
Quyết nghị (Resolution) nhìn nhận việc
treo hợp pháp lá cờ nầy
tại các địa phương đó.
Ðiều đặc
biệt cần ghi nhớ trong buổi lễ
nầy là sự hiện diện của các
đại diện dân cử Mỹ gốc
Việt gồm có Nghị viên trẻ Andy
Quách, Luật sư Trần Thái Văn,
Luật sư Nguyễn Quốc Lân, những
người chủ động thành công
trong việc cho ra đời các Quyết
nghị công nhận lá cờ Quốc
gia Việt Nam tại các thành phố Westminster
và Garden Grove ở Nam California, bên cạnh
các vị dân cử chánh gốc
Mỹ lên tiếng hứa hẹn sẽ
tiến hành việc ban hành các Quyết
nghị tương tự ở địa
phương Milpitas và San Jose trong thời
gian gần.
Lời hứa
nầy đã được thực
hiện hai ngày sau đó, tức ngày
Thứ Ba 6-5-2003, tại thành phố Milpitas,
Quyết Nghị mang số 7300 đã được
thông qua với đa số tuyệt đối
5/5, trước sự nồng nhiệt hoan
hô của hơn 500 người lưu dân
Việt, tham dự chật ních sảnh đường
và từng lầu của Tòa Thị
Chánh.
Những Quyết
nghị và Tuyên ngôn công nhận
lá cờ Quốc gia Việt Nam được
ban hành, ngoài việc cho cờ được
phép treo hợp pháp, nó còn
có thêm một ý nghĩa trọng đại
nữa là minh định sự phủ
nhận lá cờ đỏ sao vàng
của bạo quyền Việt cộng trong cộng
đồng người Việt lưu cư
hải ngoại.
Ðồng thời,
nó cũng phủ nhận ảnh hưởng
của Việt cộng trên tập thể hơn
3 triệu người dân Việt lưu cư
hải ngoại. Nó minh bạch phơi bày
cho dư luận thấy và biết rằng
người Việt lưu cư hải ngoại
là những nạn nhơn cộng sản,
những người tỵ nạn cộng
sản, chớ không phải là công
dân của bạo quyền Việt cộng. Họ
là người Việt Nam chớ không
phải là Việt cộng. Họ không là
Việt kiều như Việt cộng vẫn
nói và đã có nhiều người
lầm lạc. Họ càng không phải là
‘khúc ruột ngàn dặm xa’ như lời
tuyên truyền lừa mị của Việt
cộng, nhằm lôi kéo những người
xa xứ lọt vào vòng tròn đỏ
cho chúng lợi dụng và bòn rút
mồ hôi, tiền của..., cho chúng củng
cố chế độ độc đảng
độc tài, tiếp tục áp chế
80 triệu dân ở quốc nội, lừa
đảo hơn 3 triệu người lưu
cư tỵ nạn ở hải ngoại và
dư luận quốc tế nông cạn, thiếu
suy xét và dễ tin.
Ðiều nầy
sẽ góp phần không nhỏ cho vụ
án ông Nguyễn Hữu Luyện và
các thành viên trong vụ kiện tập
thể [class action] chống lại University of Massachusetts
Boston, vì William Joiner Center của Ðại học
nổi tiếng khuynh tả và thân cộng
nầy đã thuê mướn các
văn nô Việt cộng viết các luận
văn tập chú vào chủ đề
"Tái Xây Dựng Diện Mạo Và
Quê Hương Người Việt Ở
Nước Ngoài," ["(Re)constructing Identity and
Place in the Vietnamese Diaspora"] với ý đồ
kéo lê ngòi viết của hai văn
nô Việt cộng Hoàng Ngọc Hiến &
Nguyễn Huệ Chi trên những trang thảm
sử của người lưu dân
Việt tỵ nạn cộng sản, bóp méo
sự thật về lịch sử hình
thành Cộng đồng Người Việt
Quốc gia tại hải ngoại, để biến
chúng thành những tài liệu lừa
bịp các sinh viên ngành sử và
các nhà nghiên cứu lịch sử
Việt Nam mai sau chẳng may lọt vào University
of Massachusetts Boston, như Việt cộng đã
từng lừa bịp cả thế giới
bằng quá nhiều sử liệu ngụy
tạo, khiến dư luận lầm lạc ngưỡng
mộ tội phạm Hồ Chí Minh, và đồng
bọn gian ác lãnh đạo hàng đầu
Việt cộng, trong hơn nửa thế kỷ
qua.
Các Quyết nghị
công nhận cờ Quốc gia Việt Nam
đã giúp cho dư luận Hoa Kỳ và
thế giới thấy rằng lập luận
từ lâu của Việt cộng và
tay cho rằng 'việc chống cộng chỉ do
một nhóm nhỏ những người
già nua, thiếu khả năng hội nhập
chủ xướng, không được
sự ủng hộ và quan tâm của
giới trẻ' chỉ là ngụy biện,
vì Quyết nghị đầu tiên được
ban thành ở thành phố Westminster
không do 'nhóm nhỏ những người
già nua, thiếu khả năng hội nhập'
vận động hình thành mà do Nghị
viên trẻ Andy Quách chủ động
làm ra và được rất nhiều
người trẻ như anh ủng hộ.
Họ dứt khoát
không là những người chống
cộng già nua, thiếu khả năng hội
nhập như Việt cộng và tay sai vẫn
cố gắng lái tầm nhìn của
một số người ngu ngơ hướng
về phía một thiểu số cá
biệt nào đó, để gian
trá rêu rao đánh lừa dư
luận. Trái lại, họ đã hiên
ngang minh thị mình là những con
dân Việt Nam hội nhập vào xã hội
mới, ở vùng đất họ
lưu cư, hãnh diện nhận mình là
con dân Việt Nam, nhưng không bao giờ
chấp nhận sự cai trị của bạo
quyền Việt cộng ở quê nhà,
đồng thời cũng không chấp
nhận bất cứ mọi liên hệ công
dân nào với các sứ quán
của Việt cộng ở hải ngoại.
Sau đó, các
Quyết nghị nối tiếp được
ban hành ở các thành phố khác
cũng được chủ động
và ủng hộ bởi những người
trẻ khắp nơi, đã thêm một
lần nữa mạnh tay vạch rõ
đường ranh Quốc-Cộng, cho
thấy Việt cộng ở hải ngoại
chỉ hiện diện ở các sứ
quán của chúng như các ốc
đảo lẻ loi. Nếu có ai được
nhận diện ở bên ngoài ốc
đảo thì đó chỉ là những
tên tay sai, hoặc các con buôn đỏ,
mà sự hiện diện của chúng
chưa hề có một lần dám minh
danh, cũng bởi Việt cộng không
dám công khai cho chúng lộ diện, mặc
dầu mọi người hầu hết
đều biết cả tên lẫn việc
làm của chúng.
Cũng từ đó,
những ai tự nhận mình là Việt
kiều là họ mặc nhiên tự nhận
họ là Việt cộng, bởi họ đã
chọn nhận danh xưng do Việt cộng đặt
cho, chọn đứng về phía Việt
cộng, chọn nhận các dịch vụ do sứ
quán Việt cộng cung cấp như cung cấp
cho một người Việt theo Việt cộng.
Vấn đề tế nhị cần lưu
ý ở đây là có một
số người đến các sứ
quán Việt cộng để xin visa đi
Việt Nam, với nhiều lý do khác
nhau, nếu họ nhận mình là Việt
kiều theo cách gọi của Việt cộng,
thì đương nhiên họ là Việt
cộng; trái lại, nếu họ đến
đó để xin visa nhập cảnh Việt
Nam [cho dầu có quốc tịch bản xứ
hay chưa] như bao nhiêu người cư
ngụ ở các quốc gia ngoài lãnh
thổ Việt Nam [cho dầu mang bất cứ
quốc tịch nào] thì họ không
là Việt cộng, bởi họ không
chọn danh xưng Việt kiều do Việt cộng
ban, không chọn đứng dưới
lá cờ đỏ sao vàng; mà
họ chọn đứng dưới lá
cờ Quốc gia Việt Nam nền vàng
ba sọc đỏ.
Như vậy, đứng
dưới lá cờ Quốc gia là
đứng bên nây lằn ranh Quốc-Cộng.
Hay nói cách khác, chỉ có những
người Việt lưu cư tỵ nạn
cộng sản [cho dầu có quốc tịch
ở nước tạm dung hay còn là
cư dân tạm trú] mới đứng
dưới lá cờ nền vàng
ba sọc đỏ được luật pháp
bản xứ công nhận.
Nghị viên Andy Quách,
từ Quyết nghị được
ban hành ở Westminster, đã khởi
đầu cho nhiều Quyết nghị và
Tuyên ngôn khác tuần tự ban hành
trên lãnh thổ Hoa Kỳ [nó cũng
đang tiến đến lãnh vực
Tiểu bang, khởi đầu là Virginia
rồi California...] đã giúp người
Việt lưu cư hải ngoại thấy rõ
hơn thế đứng của hơn 3 triệu
người không chấp nhận cộng
sản, thấy rõ hai chữ Việt kiều
và 'khúc ruột ngàn dặm xa' chỉ
là trò lừa của Việt cộng.
Ðây là bước khởi
đầu quyết định.
Mới đây,
ngày 25-4-2003, Việt cộng cho ra mắt 'Quỹ
Hỗ trợ Cộng đồng' (Fund for Overseas
Vietnamese Community) với ngân khoản 7 tỷ
tiền Việt cộng để làm chuyện
gây rối và moi tiền người
Việt lưu cư hải ngoại. Chính Bộ
trưởng Ngoại giao Việt cộng Nguyễn
Dy Niên đã tuyên bố trong ngày
ra mắt rằng: "Quyết định thành
lập Quỹ Hỗ trợ Cộng đồng
chứng tỏ sự quan tâm to lớn
của Ðảng và Nhà nước
đối với cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài cũng
như tình cảm của đồng bào
trong nước với đồng bào
sống xa Tổ quốc".
Khi có dịp Ba sẽ
trở lại phân tích những lời
nói của các cán bộ hàng đầu
Việt cộng với chủ tâm của
chúng [điển hình như Nguyễn Ðình
Bin, Thứ trưởng thường
trực Bộ Ngoại giao Việt cộng, kiêm
chủ nhiệm Ủy ban đối phó với
Việt kiều] trong buổi lễ ra mắt này,
cùng với dư luận đồn đoán
chung quanh ngân khoản 7 tỷ tiền Việt
cộng sẽ được bọn tham nhũng
chia chác ra sao khi điều hành quỹ
nầy.
Vấn đề Ba
muốn đặt ra để con thấy rõ
sự quan tâm của Việt cộng
đối với người tỵ
nạn cộng sản lưu cư hải ngoại
là quan tâm gán cho họ hai chữ
Việt kiều để tìm cách lũng
đoạn các cộng đồng đang
quyết liệt chống cộng, quan tâm moi
tiền họ một cách hợp pháp,
mà không sợ vi phạm luật pháp
sở tại, có thể khiến chúng
bị truy tố, quan tâm lập tờ căn
cước đỏ cho người
lưu dân Việt tỵ nạn cộng sản...;
so với thứ quan tâm mà chúng
dành đối xử với người
dân bất hạnh bị chúng cho đi
làm 'lao nô' ở nước ngoài,
mà chuyện dã man mới được
phô bày thêm một lần nữa,
từ Hà Nội đến Malaysia.
Theo tin mới nhứt
được loan đi từ Hà
Nội thì chiều ngày 7-5-2003, 41 nạn
nhơn bị cán bộ đảng viên
Việt cộng lừa đảo mất nhiều
ngàn đô la để được
đi Malaysia lao động bất hợp pháp,
khiến họ bị trục xuất [lại bị
Tòa Ðại sứ Việt cộng tại
Malaysia buộc mỗi người phải nộp
$400 đô la tiền vé máy bay 'hồi
gia'] đã về đến Hà Nội
với 'thân tàn ma dại' [gia đình
mỗi người còn phải nộp
thêm $20.000 cho người đại diện
lên đón họ về quê].
Căn cứ trên
lời thuật lại của nạn nhơn
tên Ðào Văn Thao [SN 1977, ở
xã Ðại Hưng] thì vào tháng
7/2002, qua hệ thống phát thanh của nhà
nước Việt cộng xã thông báo
tuyển lao động sang làm việc tại
Malaysia, anh và 41 người khác đã
nộp 25-27 triệu đồng cho ông Ðào
Sĩ Trung, Phó Chủ tịch kiêm trưởng
công an xã, và ông Ðào Ngọc
Thạch, đảng ủy viên kiêm thường
trực ủy ban xã, để lo thủ
tục. Ðến tháng 9/2002 anh và mọi
người lần lượt được
ông Ðào Phong Nhã là người
môi giới đưa qua Malaysia bằng
visa du lịch. Khi đến nơi, anh và hàng
trăm người mới biết bị
lừa vì chẳng có hợp
đồng làm việc như đã
thông báo trước khi đi. Ở
xứ người, tất cả phải
sống chui lủi trốn cảnh sát vì
không có giấy tờ tùy thân,
bởi họ đã bị Ðào
Phong Nhã đưa vào các điểm
tập trung, thu hết giấy tờ tùy
thân, ngày nào có việc thì
anh ta cho đi làm, không có thì thôi.
Một vài người được
Nhã cấp giấy tờ thì sau nầy
bị cảnh sát Malaysia bắt mới
biết là giấy tờ giả...
Nạn nhơn Thao cũng
cho biết thêm là 17 người của
xã Ðại Hưng và gần 60 người
ở các tỉnh khác đã bị
cảnh sát nước sở tại
bắt giam và phạt tù 3-6 tháng vì
tội lao động bất hợp pháp
và sử dụng giấy tờ giả
do Ðào Phong Nhã đưa cho.
Mãi đến
ngày 23-4-2003 các nạn nhơn mới
tìm đến được Tòa
Ðại sứ Việt cộng để
nằm vạ ở đó nhiều ngày
đòi được đưa về
nước. Hiện vẫn còn 100 người
lao động đang tá túc tại đây
. Ngoài ra, còn nhiều lao động khác
sống vất vưởng trên hè
phố Malaysia.
Trong lúc đó,
theo tiết lộ của Bộ Lao động Việt
cộng thì chúng dự trù xuất
cảng khoảng 50.000 nhân công ra nước
ngoài để làm việc lao động,
để hằng năm số người
nầy gởi về nước khoảng
1.4 tỷ đô la.
Xem đó, con hẳn
thấy cái quan tâm của Việt cộng
đối với Việt kiều trong
tầm tay chúng, bị chúng lừa
gạt lấy tiền cho đi nước
ngoài lao động bất hợp pháp,
bị trục xuất, bị luật pháp nước
ngoài xử đánh đòn...
không biết nhục, không được
mau lẹ giải quyết, còn bị moi thêm
tiền vé máy bay 'hồi gia'; so với
Việt kiều bị chúng gán cho tên
để lợi dụng quấy phá cộng
đồng, cấu kết với bọn
con buôn đỏ moi tiền những kẻ
du lịch Việt Nam, moi tiền những kẻ
ham được áo gấm về làng,
moi tiền những kẻ hư thân mất
nết, ăn chơi, trụy lạc, vô liêm
sỉ, moi tiền những kẻ ngu ngơ muốn
về quê làm giàu trên mồ hôi
và nước mắt của đồng
bào... và để giao lưu củng
cố độc đảng độc tài...
Con thấy nó như thế nào?!
Cả hai cùng là
Việt kiều, cùng là nạn nhơn
cộng sản! Ôi, hai tiếng Việt kiều
đều xuất phát từ sự
quan tâm của Ðảng và Nhà
nước Việt cộng!
Hẹn con thư sau,
Giáo Già
|