Ai
giết Hồ Chí Minh
Minh Võ
Sáng
ngày 2-9-1969, trời miền Bắc Việt
Nam u ám, nhiều mây, có mưa nhẹ
lác đác nhiều nơi. Người
dân nôn nao đón chờ "thông
điệp Quốc Khánh" của Hồ Chí
Minh. Không khí chính trị ngột ngạt
do sự leo thang chiến tranh của tân tổng
thống Mỹ Nixon càng làm cho cán
bộ đảng viên và thường
dân miền Bắc hoang mang khi nghe bài diễn
văn vắn tắt, tầm thường-nếu
không muốn nói là nặng mùi
tử khí-của Phạm Văn Ðồng
báo hiệu một biến cố bất thường
đã xảy ra. Người ta sầm
xì: "Hồ Chí Minh đã bị giết?"Sau
đó ít lâu, nhà cầm quyền
mới thông báo "Hồ Chủ Tịch
đã mất ngày mồng 3 tháng
9."Mãi hàng chục năm sau người
ta mới dám nói thực là
ông Hồ đã chết vào đúng
ngày "Quốc Khánh 1969". Hai năm cuối
đời ông Hồ thường
đau yếu luôn và hay sang Trung Quốc
để cho các danh y của Cộng Ðảng
xứ này chữa trị. Ông ta
cũng mừng sinh nhật cuối cùng
(19-5-1969) ở đây luôn, có người
cho rằng ông ta muốn qua những tháng
ngày cuối đời tại miền
đất mà ông đã có những
kỷ niệm "tình cảm đầy tính
con người" vào những năm
20 và 30 khi ông hoạt động gián
điệp cho quốc tế cộng sản và
cho việc thành lập và đào tạo
đảng cộng sản VN sau này. Nói
trắng ra là ông muốn sống lại
những giờ phút ái ân
với những người đẹp
trong dĩ vãng.
Sử gia Mỹ William
Duiker thuật lại rằng nhân chuyến đi
chữa bệnh này, ông Hồ còn
ngỏ lời với một cán bộ
cao cấp địa phương muốn ông
này tìm cho một phụ nữ Trung Hoa
thật trẻ và đẹp, có lẽ
để ông dùng làm thuốc trì
hoãn sự lão hóa và đẩy
lùi thần chết. Ðồng chí nước
bạn và cũng là chỗ tâm giao
của ông hỏi "sao đồng chí không
lấy một cô Việt Nam có phải dễ
dàng không" thì ông bảo: thiếu
nữ Việt đều coi ông là
Bác cả, khó lắm. Thế là
bạn ông đem trình sự việc với
thủ tướng Chu Ân Lai. Ông này
phán rằng việc hôn nhân của
lãnh tụ V.N. phải hỏi ý kiến
bộ chính trị Việt Nam. Có lẽ
nhóm Lê Duẫn không tán thành,
nên chuyện đó chưa đi đến
đâu thì ông Hồ đã chết
trong sự ngờ vực của người
dân miền Bắc. Nhưng rồi chiến
cuộc với hàng trăm biến cố
khác đã làm cho những chuyện
đó rơi vào quên lãng. Cho đến
nay không ai còn đặt lại câu hỏi
ai giết ông Hồ nữa. Tuy nhiên
kẻ viết bài này có thể khẳng
định: ông Hồ, -- như một số
người thường mô tả
là một "nhà ái quốc", một "anh
hùng dân tộc", thậm chí "một nhà
văn hóa lớn" (1) -- đã bị
giết rồi.Và người thủ
tiêu họ Hồ không ai khác hơn
là "nhà văn hóa" Trần Dân
Tiên, tác giả "Những mẩu chuyện
về đời hoạt động của
Hồ Chủ tịch", hoàn tất vào
mùa xuân năm 1948 (2). Hơn hai chục năm
không ai biết tác giả Trần Dân
Tiên là ai. Cho đến khi chiến tranh
kết thúc "đảng ta" mới xác
nhận đó là "Bác".
Ðây là một
chuyện hy hữu trong lịch sử văn
học và chính trị thế giới:
Một lãnh tụ chính trị, chủ tịch
một nước viết hồi ký để
tự ca tụng chính mình. Vũ Thư
Hiên, trong cuốn "Ðêm Giữa Ban
Ngày" cho rằng đây là một việc
"thừa và ngớ ngẩn". Riêng
người viết không nghĩ thế.
Ðặt sự việc vào bối cảnh
chính trị nước nhà trong thời
gian ông Hồ cặm cụi nắn nót
cho ra đời cuốn sách vô tiền
khoáng hậu này thì sẽ thấy
ông ta có lý do để làm việc
đó. Ông biết rõ đàn
em của ông và những tay văn nô
dù có khả năng đến mấy
cũng không thể làm việc này
thay ông được. Là bởi
vì trong số các cán bộ cộng
sản Việt nam lúc ấy chỉ có ông
là người đã được
học đến nơi đến chốn
và có kinh nghiệm thực hành nhuần
nhuyễn nghệ thuật tuyên truyền và
khuấy động quần chúng. Ông
muốn đem ngón nghề chuyên môn
của mình ra làm những công việc
sau đây trong kiệt tác tuyên truyền
này.
1. Tạo cho quần chúng
Việt Nam một thần tượng để
ông có thể nhân danh thần tượng
này đẩy toàn dân vào chỗ
đạn lửa hòng ông đạt
được mục tiêu cuối cùng
là nắm trọn quyền bính trong tay
2. Loại trừ
tận gốc rễ những phần tử
đối nghịch dám chống lại ông
và đảng của ông như các
đảng Ðại Việt, Việt Cách,
Việt Quốc.
3.Che giấu bộ mặt
thật của ông là một gián điệp
quốc tế, tay sai của Quốc Tế Cộng
Sản, tức Liên Xô và Trung Cộng.
Nhưng ông khôn
mà không ngoan. Gian xảo quỷ quyệt quá
thành ra để lòi đuôi cáo,
khiến cho tiếng tăm về lòng ái
quốc giả đối của ông bị
tiêu ma từ đây. Chúng ta thử
xem về chi tiết từng điểm vừa
nêu. Trong một nước Á Ðông
mà dân trí còn thấp như Việt
Nam, vai trò của lãnh tụ, của "minh
chủ" rất quan trọng. Nhất là trong
chiến tranh thì nó càng quan trọng
hơn nữa. Ông Hồ biết rõ
nhu cầu đó. Ở Trung Quốc ông
đã thấy thần tượng Mao
Trạch Ðông làm nên đại
sự. Ngay ở Liên Xô, một nước
thấm nhuần văn minh phương Tây
từ lâu mà vai trò của thần
tượng Lênin rồi Stalin cũng còn
quyết định sự thành bại
của cuộc "cách mạng xã hội chủ
nghĩa". Huống chi ở Việt Nam.
Ông cũng hiểu
hơn ai hết rằng lịch sử đã
chứng minh mỗi lần có biến,
dân nước phải đối đầu
với cuộc xâm lăng từ phương
Bắc, luôn có một anh hùng trở
thành thần tượng cho quân sĩ
và nhân dân tôn thờ hòng
tuân lệnh xông vào lửa đạn
để cứu nước. Ðinh
Bộ Lĩnh, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Trần
Hưng Ðạo, Lê Lợi, Quang Trung v.v....Ông
cũng biết ông không có được
những đức tính của những
anh hùng dân tộc đích thực
như các vị trên vì ông chỉ
là một cán bộ của quốc tế
cộng sản, có sứ mạng truyền
bá chủ nghĩa cộng sản, tranh đấu
cho một cuộc cách mạng vô sản trên
khắp thế giới, chứ không
phải cho nền độc lập quốc gia
thực sự. Lênin đã dậy
ông, Stalin cũng luôn nhắc lại cho
ông rằng cách mạng vô sản thế
giới mới là cứu cánh,
kháng chiến chống thực dân, dành
độc lập quốc gia chỉ là sách
lược giai đoạn, do nhu cầu của
"thoái trào hay tiến trào cách
mạng". Và cũng nhờ đã
tiếp xúc với những nhà
ái quốc như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,
Phan Văn Trường...ông đã
biết cách tuyên truyền thế nào
để kích động lòng yêu
nước của toàn dân hòng
chiến thắng.
Khi gặp sự chống
đối của quốc tế (thế giới
tự do) và các phần tử, đảng
phái quốc gia, vì ông trót để
lộ tung tích làm gián điệp cho
quốc tế 3 (cộng sản), ngày 5-11-1945
ông đã cho lệnh giải tán đảng
cộng sản mà ông đã theo lệnh
Liên xô thành lập và thống
nhất vào ngày 3-2-1930. Ông biến
nó thành hội nghiên cứu Mác
Xít. Ðồng thời ông cũng
thay đổi hẳn thái độ, cốt
tạo cho mình một bộ mặt quốc gia.
Mặc dầu vậy, các đảng phái
quốc gia, được sự ủng
hộ của Pháp và thế giới
tự do, vẫn viện dẫn lý do
ông là cộng
sản để chống đối. Mục
đích chính của tập sách ông
viết dưới bút hiệu Trần
Dân Tiên là làm cho đại chúng,
quần chúng, nhân dân Việt Nam thấy
được "lòng yêu nước,
thương dân phi phàm" của ông, thấy
được những cử chỉ
thái độ bình dân, giản dị,
thấy được những đức
tính đáng yêu của một nhà
cách mạng, biết sống như thường
dân, biết chia sẻ những nỗi
khổ cực của dân nghèo, để
rồi mến yêu ông, tôn thờ
ông, sẵn sàng nghe theo lời ông
"Vì đảng, vì "Bác" tiến lên"
xông vào chỗ chết, hết lớp
này đến lớp khác.
Lúc ấy ông
bắt đàn em không được
hô "Vì đảng", mà phải hô
"vì tổ quốc", để đánh
lừa một số người.
Quá trình đấu
tranh gian khổ của ông, vào tù ra
khám nhiều lần, thoát chết nhiều
lần, có lần đã bị loan báo
chết mà không chết, càng làm
cho những lời lẽ ông viết
ra trong sách có tính thuyết phục.
Mấy người biết được
rằng những cực khổ hy sinh đó
là vì một lý tưởng khác,
- -cách mạng vô sản thế giới,
theo lệnh quốc tế 3 (cộng sản)--, chứ
không phải vì lý tưởng quốc
gia dân tộc thuần túy.
Những ví dụ
đầy rẫy trong cuốn sách 167 trang
này. Ở đây chúng tôi
chỉ xin trích một vài đoạn nhỏ
để thấy rõ tác giả đã
khéo léo tô điểm cho hình ảnh
một lãnh tụ, một thần tượng
Hồ Chí Minh như thế nào: (Trang 129):
Ngày 2-9-1945. Ngày
chính phủ Hồ Chí Minh ra mắt nhân
dân. Hồ chủ tịch sửa soạn
đi dự lễ. Cụ Hồ chợt
thấy mình không có quần áo.
Về việc quần áo có hai việc
đáng kể: (chỉ kể 1. MV) Vừa
mới ở rừng về đến
Hà Nội, một võ quan ngoại quốc
đến chào Hồ Chủ tịch, võ
quan này bận quần ka-ki và áo bằng
vải dù. Võ quan thú thật là
không có áo nào khác. Lập
tức chủ tịch cởi áo khoác
ngoài và biếu người võ
quan ấy (....) Và người võ quan
đi ra với bộ quần áo đầy
đủ, còn chủ tịch thì suốt
ngày mặc áo sơ mi. (....) Trong rừng,
Hồ chủ tịch cũng như các chiến
sĩ du kích, ai cũng quen bận quần đùi
và ở trần. Về Hà Nội
Hồ chủ tịch cũng giữ nguyên
bộ quần áo khi ở trong rừng.
(2 câu này khiến người đọc
hiểu rằng ông Hồ về Hà Nội
vẫn mặc quần đùi và ở
trần!) Người ta đến các
hàng tìm kiếm. Cuối cùng người
ta tìm thấy một bộ quần áo ka-ki
và đôi dép cao su cho Hồ chủ
tịch. Ăn mặc như thế, chủ tịch
ra mắt đồng bào. (...) một vị
chủ tịch khác thường. (Trang 131):
"Nhưng cảm động
hơn cả, là khi nhân dân thấy
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến, người
mà nhân dân hằng mến yêu,
khâm phục và kính trọng, và lần
đầu tiên nhân dân mới
được thấy." (Thực ra lúc
ấy chẳng mấy người biết
Hồ Chí Minh là ai, chứ đừng
nói "hằng mến yêu, khâm phục
và kính trọng" MV) (Trang 132): "Trông thấy
Chủ tịch đến, nhân dân nhận
thấy Hồ chủ tịch giản dị thân
mật như một người cha hiền
về với đám con. (...)...Chủ
tịch trở thành "Cha Hồ" của
dân tộc Việt Nam.(Trang 143):
"99% cử tri ở
Hà Nội đã đi bỏ phiếu.
Toàn thể bỏ phiếu cho danh sách ứng
cử do Hồ chủ tịch đứng
đầu. Và gồm có: một kỹ
sư thuộc đảng Dân Chủ, một
vị học giả, một bác sĩ và
một bà, đều không có đảng
phái." Câu cuối cho thấy ông Hồ
cố hết sức mình chứng
minh ông là người vì chủ
nghĩa dân tộc, nên được
đảng Dân Chủ (phi cộng sản) các
nhà trí thức, học giả uyên
thâm, và nữ giới, toàn
những người không đảng
phái ủng hộ đứng chung danh sách
với ông. Nhưng sẽ thấy ngay đó
chỉ là lời nói xạo, nếu
biết được rằng đảng
Dân Chủ (của Dương Ðức
Hiền, cử nhân luật mới ra
trường, Nghiêm Xuân Yêm, kỹ
sư), cũng như đảng Xã Hội
(của Nguyễn Xiển, kỹ sư khí tượng)
lúc ấy chỉ là bình phong của
đảng cộng sản. Những người
đứng đầu đảng như
các ông Dương Ðức Hiền,
Trần Ðăng Khoa, hay Nghiêm Xuân Yêm,
đều chỉ biết tuân lệnh của
những cán bộ cộng sản nòng
cốt, tuy bề ngoài chỉ nắm vai phụ,
nhưng bên trong lại giữ vai chủ đo!
Á.ng, như Phạm Hồng rồi Nguyễn
Việt Nam, Phạm Tuấn Khanh...Những lời
tuyên bố hay bài nói bài viết
của họ đều bị những tên
này duyệt trước.(Trang 162):
"Nhân dân VN muôn
người như một nghe theo lời
Hồ chủ tịch, vì họ hoàn toàn
tin tưởng ở Hồ chủ tịch.
Không có gì so sánh được
với lòng dân VN kính mến tin
tưởng lãnh tụ Hồ Chí Minh"
(Trang 164): "Chủ tịch không bao giờ
nghĩ đến mình. Người chỉ
nghĩ tới người khác, nghĩ
đến nhân dân."
Tất cả 2 trang 163
và 164 ông chỉ dành để viết
những lời tự ca tụng tương
tự như thế, rồi đến cuối
trang 166 là trang áp chót ông hạ
một câu xanh rờn: "Nhân dân gọi
chủ tịch là Cha già của dân
tộc," Nếu để ý thời điểm
mà cuốn sách được viết
xong là mùa xuân năm 1948, thì thấy
lúc đó chưa có những tác
phẩm ca tụng họ Hồ, như những
cuốn của Trường Chinh (3), Phạm
Văn Ðồng (4), Võ Nguyên Giáp
(5), Văn Tiến Dũng (6), Hồng Hà
(7), để chỉ nêu mấy tên tuổi
quan trọng trong số đàn em của ông
Hồ. Về các tác giả ngoại quốc,
cũng chưa có những cuốn hồi
ký hay tiểu sử do các nhà báo
hay sử gia tên tuổi viết, chẳng
hạn Jean Lacouture, Jean Sainteny, Devillers, Shaplen, Stanley Karnow,
David Halberstam, Neil Sheehan, W. Duiker v.v.... Ðiều đó
cho thấy gì? Nó chứng tỏ Trần
Dân Tiên tức Hồ Chí Minh là
người mở đầu cho việc
sùng bái cá nhân ông, và
những kẻ viết sau về đề
tài này đã lấy hứng
và theo tài liệu của ông mà
viết. Kể cả những tác giả
ngoại quốc nổi tiếng sau này.
Về các đoàn
thể tổ chức và đảng phái
chống Việt Minh lúc đầu (1945-46)
tác giả có nói qua đến chính
phủ Trần Trọng Kim mà ông bảo
được Nhật "sai tổ chức
chính phủ và quân đội bù
nhìn để đi với quân đội
Nhật đánh Việt Minh." (trang 116) và
"cùng với phát xít Nhật tuyên
truyền kịch liệt chống Việt Minh" (tr.
117). Riêng đối với các tổ
chức Việt Cách của Nguyễn Hải
Thần và Ðại Việt hay Việt Nam
Quốc Dân Ðảng của Nguyễn Tường
Tam thì Trần Dân Tiên đã dùng
những lời lẽ nặng nề thô
bỉ nhất. Có lẽ vì các tổ
chức chính trị này đã
lên án Việt Minh là cộng sản
và đã có những hành
động chống đối quyết liệt
nhất. Và cũng vì họ tố cáo
một cách hữu hiệu nhất tính
chất lệ thuộc của Việt Minh vào
hệ thống quốc tế 3 (cộng sản).
Vì vậy ông ta cố hạ uy tín và
làm nhục đích danh hai lãnh tụ
Nguyễn Hải Thần và Nguyễn Tường
Tam với những lời lẽ như
sau: (trang 116):
"Lúc đó
bọn Nguyễn Tường Tam theo Nhật,
ngược đãi người Pháp
(8) sát hại Việt Minh và bắt cóc,
đi tống tiền" (Trang 160):
"Bô-la-e tìm những
tên thân Nhật: Nguyễn Hải Thần,
Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Văn
Sâm, giúp bọn này tổ chức
"mặt trận quốc gia" để chống
chính phủ Hồ Chí Minh". Nhưng âm
mưu của Bô-la-e đã thất bại
vì ba "ngài" này đã nổi tiếng
là thành tích bất hảo" (Ở
hai đoạn vừa nêu xin lưu ý
mấy tiếng tống tiền và thành
tích bất hảo. Có chỗ tác
giả còn tố cáo Nguyễn Tường
Tam bỏ trốn mang theo quỹ của bộ (ngoại
giao) MV) (Trang 141, đặc biệt chú ý
trang này):
"Hồ chủ tịch
đã tìm ra một giải pháp: nhường
cho Nguyễn Hải Thần và Nguyễn Tường
Tam bảy mươi (70) ghế mà chúng
sẽ chia nhau hoặc bán cho người
nào xuất tiền mua. (xin lưu ý mấy
chữ bán và mua và tiền. MV)
"Ðối với
bọn này, nhân dân rất khinh bỉ.
Người ta hỏi tại sao lại để
cho những hạng người này
ở trong quốc hội đầu tiên
của nước Việt Nam? Ðây là
một sự nhục nhã cho chế độ
dân chủ mới v.v...Hồ chủ tịch
rất hiểu lòng tức tối của
nhân dân đối với các
"nghị viên" này.
"Hồ chủ tịch
giải thích cho nhân dân một cách
rất giản đơn. Chủ tịch nói:
"Muốn giồng khoai, giồng lúa, người
ta phải dùng phân. Muốn đi đến
dân chủ mà tất cả chúng ta
đều muốn, đôi khi chúng ta
phải làm những việc chúng ta
không vui lòng làm".
(Nói như vậy
chẳng khác gì HCM bảo Nguyễn Hải
Thần và Nguyễn Tường Tam và
"đồng bọn" chỉ là những
cục phân! MV)
Thật không còn
lời lẽ nào để hạ nhục
đối phương hơn. Cá nhân
kẻ viết bài này vốn mến
văn tài của Nhất Linh, nhất là
trong những tác phẩm ông viết
chung với Khái Hưng, và khâm
phục lòng yêu nước của lãnh
tụ Nguyễn Tường Tam. Nhưng tôi
bắt buộc phải mạn phép vong linh ông
để nói lên điều sau đây.
Khi chính quyền đệ nhất Cộng
Hòa có ý định đem ông
ra tòa về tội âm mưu lật đổ
chính quyền, ông đã tuyên bố
một câu đi vào lịch sử:
"Chỉ có lịch sử xét xử
được tôi" rồi tự tử.
Bác sĩ Trần Kim Tuyến và giáo
sư Cao Thế Dung, trong tác phẩm "Làm
thế nào để giết một tổng
thống" đã viết rằng khi nghe tin
ông Nguyễn Tường Tam tự tử,
tổng thống Ngô Ðình Diệm đã
hết sức buồn rầu suy tư nên
đã phải lên Ða Lạt nghĩ
nhiều ngày cho khuây khỏa. Vì nói
cho cùng tổng thống chỉ muốn sự
việc được đưa ra ánh
sáng công lý chứ không muốn
hãm hại Nhất Linh. Trong những nhà
trí thức bị tình nghi là mưu
phản sau này có ai bị xử tử
hay bi án nặng đâu. Ngay kẻ mưu
sát tổng thống tại hội chợ
Ban Mê Thuột bị bắt quả tang mà
ông còn tha mà! Tên này sau khi Sài
Gòn thất thủ đã nghiễm nhiên
trở lại với cương vị
một cán bộ cộng sản trong hàng
lãnh đạo tỉnh Tây Ninh như nhiều
người biết. Nếu thần tượng
Hồ Chí Minh còn đó để
cho các nhà viết sử của kẻ
chiến thắng cứ tiếp tục như
hiện nay, với những hàng chữ
nhục mạ các lãnh tụ quốøc
gia như tên Trần Dân Tiên, tức
Hồ Chí Minh này đã làm đối
với Nguyễn Tường Tam, thì
rồi con cháu ta về sau sẽ nghĩ gì
về Nguyễn Tường Tam và các
lãnh tụ quốc gia khác?Vì vậy
thiết nghĩ những đồng chí
của Nguyễn Tường Tam trong các
đảng Ðại Việt và Việt Nam
Quốc Dân Ðảng (và nói chung
cả những ai tự nghĩ mình là
người quốc gia, chống cộng) hãy
tập trung nỗ lực vào việc lột
mặt nạ ái quốc của Hồ Chí
Minh, thay vì cứ các nhà lãnh
đạo quốc gia không đồng chính
kiến với mình mà vạch lá
tìm sâu, bới lông tìm vết,
bôi nhọ lẫn nhau.
Của đáng
tội, công bình mà nói, trong việc
thành lập chính phủ liên hiệp
đầu tiên, một số đảng
phái quốc gia đã mắc mưu của
ông Hồ, ngửa tay nhận lấy 70 ghế
ngồi trong "quốc hội" mà không được
bầu, trong khi các đại biểu của
Việt Minh thì lại được bầu
(dù cho cuộc bầu cử đã
bị cán bộ cộng sản sắp xếp
và gian lận). Nhờ thế ông Hồ
mới có cớ sỉ nhục mà
đối phương đành im lặng.
Những ghế trong chính phủ cũng
được "chia" cho các đảng
phái quốc gia trong âm mưu đó.Và
cũng phải công nhận người
đã dám cương quyết từ
chối không chịu nhận chức bộ
trưởng nội vụ trong cái chính
phủ đó là ông Ngô Ðình
Diệm được coi như khôn ngoan,
sáng suốt, vì sớm hiểu rõ
bản chất và mưu mô xảo quyệt
của cộng sản ngay từ đầu.
Tiếc rằng con người hiếm hoi
am hiểu cộng sản đó đã
phải hy sinh oan uổng, khiến cho hàng ngũ
quốc gia suy yếu rồi thất bại.
Trước khi sang
đoạn 3, chúng tôi đề nghị
những ai còn ngưỡng mộ nhà
văn Nhất Linh và cụ Nguyễn Hải
Thần hãy nghĩ tới những
dòng chữ trên của Trần Dân
Tiên, tức Hồ Chí Minh mà đừng
vô tình hay hữu ý gián tiếp
tiếp tay cho luận điệu tuyên truyền
của cộng sản rằng "Hồ Chí Minh
là đại anh hùng dân tộc", như
một số cơ quan truyền thông ở
Quận Cam và Houston vừa làm khi cho
đăng nguyên văn (mà không bình
luận ) bài "Huyền Thoại Hồ Chí
Minh" của Lữ Phương (tháng 10- và
11-2001).
Ðiểm 3, mà cũng
là điểm chính, chúng tôi có
ý bàn ở đây là HCM đã
cố gắng núp dưới một bút
hiệu vô danh tiểu tốt để cố
làm cho quần chúng nghĩ rằng ông
chỉ một lòng vì tổ quốc, vì
dân, vì nước, chứ không
phải vì quyền lợi cá nhân,
hay chịu sự chi phối của Liên Xô,
tranh đấu cho lý tưởng quốc
tế vô sản nào khác. Và ông
có đạt được mục đích
này không? Trước hết phải
công nhận bước đầu ông
đã thành công, khi chưa ai khám
phá ra Trần Dân Tiên chính là
ông.
Ðọc Trần Dân
Tiên, người dân chất phác
liền tin HCM là người yêu nước.
TDT không nói gì đến liên hệ
mật thiết giữa Nguyễn Ái Quốc
với quốc tế 3, tức sau này
là Liên Xô. TDT có nói đến
việc Nguyễn Ái Quốc ca tụng Liên
Xô, "tuy chưa phải là thiên đàng
cho mọi người, nhưng quả thực
là thiên đường cho thiếu
nhi" (trang 68).Nguyễn Ái Quốc không ca
tụng nhiều mà chỉ nói phớt
qua mấy hàng về chế độ xã
hội của nước Nga rồi viết:
"Ðây là một chế độ rất
hay". (tr. 64). Nhưng chỉ có thế. Ông
không bàn kỹ về chế độ
cộng sản hay chủ thuyết Mác. Trái
lại còn có chỗ ông thú nhận
mình chẳng hiểu biết nhiều về
chủ nghĩa này. (tr...49! .), thậm chí
nơi trang 35 TDT còn mượn lời
một người quen của "ông Nguyễn"
để xác quyết: "Lúc ấy ông
Nguyễn là một người yêu
nước quyết tâm hy sinh tất cả
vì tổ quốc; nhưng ông Nguyễn
lúc đó rất ít hiểu về
chính trị, không biết thế nào
là Công hội, thế nào là bãi
công và thế nào là chính
đảng."
TDT đã bênh
vực HCM nhiều nhất, khi viết rằng
ông Nguyễn bỏ phiếu cho Quốc Tế
3 mà không bỏ phiếu cho Quốc Tế
2 chỉ vì QT3 có nói đến vấn
đề thuộc địa (trang 52). Nghĩa
là Nguyễn Ái Quốc, tức HCM
vào đảng cộng sản chỉ vì
thấy đảng đó tranh đấu
cho quyền lợi các dân tộc sống
dưới ách thực dân. Còn
luận cứ nào hùng hồn hơn
để chứng minh Nguyễn Ái Quốc
là người yêu nước?
Nhất là khi tác giả cố tình
bỏ qua không nhắc tới những
liên hệ khác của NAQ với đảng
cộng sản LX và đảng c.s. Trung Quốc.
Khi mà cộng sản
xua quân vào chiếm Saigon đặt cả
nước dưới sự thống
trị của họ, thì ta mới hiểu
HCM đã thành công đến mức
nào trong âm mưu che giấu lý lịch
và bộ mặt thật của ông. Nhưng
khi đã biết TDT là chính HCM thì
những âm mưu thầm kín nhất
của ông dần dần bị phơi bầy.
Dĩ nhiên với điều kiện
chúng ta phải dựa vào những
lời của ông trong tập sách này
và đối chiếu nó với
những tài liệu chính thống khác,
gồm những lời phát biểu
của ông, những sử sách ghi
lại hành động của ông, nhất
là của chính những cán bộ
trung thành với ông vô tình
tiết lộ trong các tác phẩm của
họ, như Hồng Hà, Hoàng Văn Hoan
vân vân.... Trong khuôn khổ một bài
báo, chúng tôi sẽ chỉ xin dẫn
chứng của hai nhân vật này một
cách tượng trưng.
Có một điều
rất buồn cười khi đọc Trần
Dân Tiên, là rất nhiều chỗ
ông ta nói đến "bí mật" và
"mất tích", "mất đầu mối".
Nhưng nếu suy nghĩ thì thấy không
buồn cười được mà
phải tự hỏi: "Có âm mưu gì
đây?"vì những chỗ mất
tích và bí mật đó thường
trùng hợp vào thời gian hành
tung của HCM lệ thuộc vào Liên Xô
cần được giấu nhẹm.
Nếu TDT là người
khác HCM thì có thể chấp nhận
là chuyện đó anh ta không biết
thực. Nhưng đã là HCM viết
tiểu sử của mình thì không
thể không biết. Ðối với
chính mình thì sao lại bí mật,
sao lại mất đầu mối được,
nếu không phải là lúc đó
tác giả (HCM) muốn giấu một cái
gì không tốt đẹp cho việc thần
thánh hóa bản thân? Hãy chỉ
nêu vài ví dụ:
TDT viết Quốc đến
Matxcơva lần đầu để được
gặp Lênin và sửng sốt khi biết
tin Lênin đã chết, không còn
gặp được. Nhưng Hồng Hà,
một tay viết sử chính thức
của "Ðảng ta" thì viết rõ NAQ
đến đó là để dự
đại hội Nông Dân, lúc ấy
Lênin hãy còn sống. Trang 24, HH viết:
"Anh (Quốc) ra ga xe lửa, đáp tầu
đi Mát-xcơ-va, và nhiệm vụ mới
đang chờ anh: chuẩn bị dự
hội nghị Quốc Tế nông dân được
triệu tập theo sáng kiến của Lênin."
Khi Lênin chết, NAQ đã đang có
mặt ở LX, trong khách sạn Luých
(Luxe): Trang 80 Hồng Hà viết: "...Như mọi
đồng chí khác, anh (Nguyễn) bỏ
dở bữa ăn. Các tầng gác
trong khách sạn trầm lặng hẳn đi..."
Và còn không
biết bao nhiêu việc khác tại LX và
Trung Quốc, TDT đã lờ hẳn
đi không hề nhắc tới chỉ
vì nó có lên hệ đến
công tác mật của một cán bộ
Quốc Tế c.s.. Ví dụ TDT không nói
gì đến việc Quốc là cán
bộ của bộ Phương Ðông, thuộc
Quốc Tế Cộng sản. Nhưng trong sách
của Hồng Hà ("Bác Hồ trên
đất nước Lênin"), trang 107 có
phóng ảnh của giấy chứng nhận
do Pê Tơ Rốp, bí thư của bộ
này ký xác nhận rằng "Ðồng
Chí Nguyễn Ái Quốc là cán
bộ của bộ Phương Ðông, ban
chấp hành Quốc Tế Cộng Sản".
Trang 128 và 129 SÐD còn có ảnh NAQ
với lời ghi : "Ðồng chí
Nguyễn Ái Quốc tại đại hội
5 Quốc Tế c.s." và ảnh giấy mời
đ/c NAQ dự hội nghị lần thứ
tư Ban chấp hành QT c.s. mở rộng
1924. Về việc ông làm việc cho phái
bộ Borodin của Liên Xô cạnh Quốc
Dân Ðảng Trung Quốc, TDT đã
nói dối như sau: (trang 69 và 71) "Bây
giờ ông Nguyễn ở Trung Quốc,
ông bắt đầu đi bán thuốc
lá và bán báo để sống...(....)
"Ðọc quảng cáo trên tờ
"Quảng Châu nhật báo", ông tìm
đến làm phiên dịch cho ông
Bô Rô Ðin, cố vấn chính trị
của bác sĩ Tôn Dật Tiên và
của chính phủ Quảng Châu.." Nhưng
Hồng Hà thì lại viết (trang 148 SÐD):
"Cương vị của
anh trong Quốc Tế c.s. và nhiệm vụ
công tác của anh ở Quảng Châu
chỉ có Borodin và vợ là đ/c
Pha Nhị A Xê Mê Nô Vô Na Borodina biết.
Về công khai (nghĩa là có mặt
bí mật. MV), anh là cố vấn riêng
và người phiên dịch của
đ/c Borodin, đồng thời là phóng
viên của hãng Roxta. Trong cơ quan của
Borodin, phủ đại soái LX hoặc lãnh
sự quán LX, làm việc giữa
tập thể các đồng chí chuyên
gia Xô Viết, anh Nguyễn mang thêm một
tên Nga là Ni-Lốp-Xkỵ Nhưng các
bạn quen gọi anh là đồng chí
Lý" (tắt của Lý Thụy MV).
Việc thành lập
và thống nhất đảng cộng sản
Ðông Dương hết sức quan trọng
đối với mọi đảng viên.
Nhưng trong cuốn sách của ông dưới
bút hiệu TDT ông Hồ đã chỉ
nói phớt qua vài hàng và
nhắc lại như chính ông là người
hô hào thống nhất, chứ không
phải do chỉ thị của Quốc Tế
c.s. (trang 86). Ông còn cẩn thận nhắc
lại chính cương của đảng là
"Dân tộc độc lập, Nhân dân
tự do, Dân chúng hạnh phúc" na
ná như chủ nghĩa tam dân của bác
sĩ Tôn Dật Tiên người sáng
lập Trung Hoa Quốc Dân Ðảng nữa.Nhưng
ta hãy xem Hồng Hà thuật lại việc
thống nhất đảng ra sao và ông
Hồ đã nói gì trong dịp này
(tr.237):
"Anh xúc động
mở đầu lời kêu gọi
nhân dịp thành lập đảng: "Nhận
chỉ thị của Quốc Tế c.s. giải
quyết vấn đề cách mạng ở
nước ta, tôi đã hoàn thành
nhiệm vụ và thấy có nhiệm vụ
phải gửi tới anh chị em và
các đồng chí lời kêu
gọi này....Ðảng c.s.VN đã được
thành lập. Ðó là đảng
của giai cấp vô sản. Ðảng sẽ
dìu dắt giai cấp vô sản lãnh
đạo cách mạng VN đấu tranh nhằm
giải phóng cho toàn thể anh chi em bị
áp bức, bóc lột."(Ðáng
chú ý là ông Hồ không nói
gì đến dân tộc đang bị
ách đô hộ của thục dân
.MV)
Trong dịp này (18
năm trước khi ông viết hồi
ký với bút hiệu TDT) ông đã
xác nhận ông theo chỉ thị của
QT c.s., tức Ðệ Tam Quốc Tế,
lúc ấy đã do Liên Xô dưới
thời Stalin hoàn toàn chi phối. Trong
cuốn "Bước Ngoặt Vĩ Ðại
của lịch sử đảng c.s. VN của
Lưu Quý Kỳ xuất bản cuối thập
niên 50, hay đầu thập niên 60, còn
có in cả phóng ảnh bức thư
viết bằng tiếng Pháp của QTCS.
Nếu cứ tin
TDT thì ông Hồ chỉ muốn lập một
đảng cách mạng quốc gia, có
thể lấy tên gì cũng được
chẳng hạn "Hội VN thanh niên cách mạng
đồng chí" như trước hoặc
"Ðảng c.s." như ngày nay"...(nguyên văn)
Trong "Những mẩu
chuyện về đời hoạt động
của Hồ chủ tịch", ông Hồ dưới
bút hiệu TDT đã mô tả ông
như người yêu nước muốn
đoàn kết mọi thành phần quốc
gia dân tộc chống thực dân. Nhưng
Hồng Hà trong "Bác Hồ trên đất
nước Lênin" đã trưng lại
nguyên văn lời lẽ của ông
nhắn Nguyễn Thị Minh Khai và Tú
Hưu phải tiêu diệt bọn Tờ
Rốt Kít:
"Hai là, khắp nơi
và cả ở VN, bọn Tờ Rốt
Kít đã bộc lộ chân tướng
phản động của chúng. Ðảng
ta phải dùng mọi cách để lột
mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa
Phát Xít, phải tiêu diệt chúng
về chính trị. Không được
có thỏa hiệp nào, nhượng
bộ nào với chúng." (SÐD trang
314)
Chính vì cái
chủ trương đó mà về sau
những Phan Văn Hùm, Trần Văn
Thạch, Tạ Thu Thâu và rồi cả
Dương Bạch Mai là những người
có xu hướng đệ tứ
(tức thuộc nhóm Tờ Rốt
Kít) đều bị chết thảm.
Ai cũng biết Trốt
Xky là một trong những lãnh tụ
cộng sản lớn nhất thời
Lênin. Sau khi Lênin chết thì ông trở
thành đối thủ của Stalin và
đã bị Stalin trục xuất rồi
cho người ám sát. Khi Nguyễn
Ái Quốc chủ trương tiêu diệt
(về chính trị?) những người
thuộc nhóm này, chính là vì
ông ta đã lệ thuộc hoàn toàn
vào chính sách đàn áp dã
man của Stalin. Không có cách gì chạy
tội được.
Tuy về đảng
cộng sản VN trần Dân Tiên chỉ
nói phớt qua và không cho biết
ông Hồ nắm chức vụ gì
quan trọng trong đó. Nhưng về mặt
trận Việt Minh (là một tổ chức
ngoại vi của đảng cộng sản, phát
xuất từ tổ chức yêu nước
của ông Hồ học Lãm với
danh xưng "Việt Nam Ðộc Lập Ðồng
Minh hội", và chính ông HHL đã
gọi tắt là Việt Minh, như sẽ nói
kỹ sau đây) thì được
TDT nói đến nhiều hơn và còn
xác định ông Hồ là lãnh
tụ Việt Minh (trang 103)Chủ trương của
Việt Minh được TDT ghi rõ:
"Nhân Dân VN hãy
đứng về phía Ðồng Minh!
Ðánh đuổi Nhật-Pháp, tiễu
trừ Việt gian! Ðấu tranh cho độc
lập của tổ quốc! Người VN
chúng ta hãy đoàn kết lại"
Vì thấy rõ
triển vọng chiến thắng của Ðồng
Minh nên ông Hồ đã đứng
hẳn về phe Ðồng Minh, lúc ấy
có cả Liên Xô. Ông củng cố
lấy lòng Mỹ bằng cách đích
thân đi bộ sang Trung Quốc, để
trao cho nhà chức tranh quân sự
Mỹ tại đây một phi công Mỹ
tên Shaw mà du kích quân,hay đồng
bào cứu được hay bắt
được? Lời hô hào của
ông được nhân dân hưởng
ứng vì những lý do sau đây:
Thứ nhất ai
cũng thấy rõ chủ trương đứng
về phía Ðồng Minh là thượng
sách. Thứ hai người Việt
còn đang thù Nhật và muốn
thoát ách đô hộ của thực
dân Pháp. Thứ ba cái tên Việt
Minh, viết tắt của "Việt Nam Ðộc
Lập Ðồng Minh hội" là bắt nguồn
từ một tổ chức của những
người yêu nước đang
lánh nạn, hoạt động ở Hoa
Nam, đứng đầu là nhà
cách mạng không cộng sản Hồ Học
Lãm. Uy tín của ông này lúc
ấy rất lớn trong cộng đồng
người Việt ở đây. Có
người còn nói chính cái
tên Hồ Chí Minh cũng là bí
danh của ông Hồ Học Lãm. Như vậy
ông Hồ đã mượn khẽ
uy danh và bí danh của nhà cách mạng
không cộng sản này. Về việc này
Hoàng Văn Hoan, một cán bộ cao cấp
trong bộ chính trị của đảng cộng
sản Việt Nam, bị nhóm Lê Duẫn
ngược đãi đã bỏ trốn
sang Trung Quốc nhân dịp đi công cán,
đã viết rõ trong cuốn hồi
ký "Giọt Nước Trong Biển Cả"
(Tập I, trang 133) như sau:
"Vào khoảng tháng
10 năm 1940, khi chúng tôi đến Quế
Lâm thì Bác đã ở đó.
Ông Hồ Học Lãm cũng đã
được xếp đặt đến
chữa bệnh ở bệnh viện Quế
Lâm rồi. Chúng tôi thường
bí mật gặp Bác ở biện sự
xứ Bát Lộ Quân để báo
cáo và xin chỉ thị về hoạt động.
"...Vấn đề
đầu tiên là vấn đề
lấy danh nghĩa gì để hoạt động?
Bác chủ trương lấy danh nghĩa
Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh Hội,
và mời ông Hồ Học Lãm
đứng ra chủ trì để chúng
ta dựa vào đó mà hoạt động.
Chủ trương đó xuất phát
từ chỗ Việt Minh là một tổ
chức mà trước kia đã
cùng với ông Hồ Học Lãm
lập ra và đăng ký ở Nam
Kinh; xuất phát từ chỗ ông
Hồ Học Lãm không phải là cộng
sản mà lại thật lòng ủng hộ
chúng ta, nếu ông đứng ra làm,
thì sự hoạt động của chúng
ta được nhiều điều thuận
lợi.
"Rất đồng
ý với ý kiến này, ông
Hồ Học Lãm nhận đứng tên
làm chủ nhiệm Việt Minh, giới
thiệu chúng tôi đi gặp (toàn
những người của Trung Hoa Quốc
Dân Ðảng, chống cộng sản....,
nhất là Lý Tế Thâm và Dương
Kế Vinh. MV)
Trước đó
(từ trang 88 đến 105), Hoàng Văn
Hoan đã nói kỹ về ông Hồ
Học Lãm là người cùng
làng với Hoan, thuộc dòng giống
cách mạng yêu nước có tiếng
(tr. 88), lúc này đang giữ trọng
trách trong quân đội Trung Hoa Quốc
Dân đảng, được các
cấp chỉ huy THQD tin dùng. Hoan cũng nói
là chính ông Hồ Học Lãm đã
lập nên Việt Nam Ðộc Lập Ðồng
Minh hội, đích thân lãnh đạo
tổ chức này cùng với
ông Nguyễn Hải Thần và một
số người thuộc nhóm Hoàng
Văn Hoan làm phụ tá. Hoan cũng nói
chính ông HHL bảo "gọi tắt là
Việt Minh "(tr. 103). Rồi cũng chính ông
HHL xuất tiền túi ra lập tờ
báo bằng chữ Trung Quốc lấy
tên là Việt Thanh (tr. 105). Trang 107 Hoàng
Văn Hoan viết:
"Ông (Hồ Học
Lãm) không phải cộng sản. Ông
là người Nho học, nhưng đã
thực hành mặt tích cực của
một số giáo điều của đạo
Nhọ...và ông đã giúp Ðảng
ta và một số đồng chí của
ta rất nhiều."Ông không phải là
cộng sản. Ðiều này Quốc Dân
Ðảng Trung Quốc biết rõ trăm
phần trăm. Ông đứng ra lập
Việt Minh trong lúc này đối với
chúng ta mà nói là một sự
che chở rất có hiệu lực."
Những trang sách
của Hoàng Văn Hoan cho thấy rõ Hồ
Chí Minh đã lợi dụng lòng
tốt của các nhà cách mạng
quốc gia (phi cộng sản) để phát
triển và củng cố tổ chức
cộng sản, để rồi sau đó
mượn danh nghĩa của các nhà
cách mạng này và núp sau lưng
tổ chức của họ để hoạt
động bí mật cho Quốc Tế cộng
sản, và sau cùng cướp luôn
danh nghĩa của tổ chức Việt Minh
rồi trong hồi ký "Những Mẩu
Chuyện..." đã nói dối rằng
mình là lãnh tụ Việt Minh.
Tiếc rằng lúc
ấy, trí thức cũng như dân
quê Việt Nam đã bị lầm nghe
ông Hồ đứng vào một Việt
Minh đã biến chất, đã bị
nhuộm đỏ, để kháng chiến
không công cho cộng sản. Lúc ấy
Hồ Chí Minh đã lập lờ
đánh lận con đen, dùng danh xưng
cũ Việt Minh, thêm vào hai chữ
"mặt trận" ở trước để
bào chữa rằng đây không
phải là ăn cắp danh xưng của
"VNÐLÐM hội" của nhóm ông Hồ
Học Lãm. Ðó là về mặt
hình thức và danh xưng. Còn về
nội dung thì ông Hồ đã cố
gắng đưa vào mặt trận này
những nhà trí thức trẻ
tuổi chưa có kinh nghiệm chính trị
thuộc hai đảng Dân Chủ và Xã
Hội (như nói trên), và một vài
tên tuổi khác không thuộc đảng
cộng sản, nhưng sẵn có cảm tình
với đảng này, do không am hiểu
mục đích và mánh lới,
âm mưu của nó. Với cái
vẻ bề ngoài phi cộng sản đó,
ông ta biến mặt trận Việt Minh thành
một cao trào cách mạng quốc gia đượm
màu sắc dân tộc nhiều hơn màu
sắc đấu tranh giai cấp,
hòng có thể
lôi kéo toàn dân ủng hộ ông.
Tóm lại, Nguyễn
Ái Quốc đã lợi dụng lòng
yêu nước và sự đứng
ngoài đảng cộng sản của nhà
cách mạng Hồ Học Lãm để
làm lợi khí tuyên truyền cho
tổ chức của riêng mình và
dần dần biến tổ chức của
ông Hồ Học Lãm thành tổ chức
của đảng cộng sản.
Về thời gian
ông Hồ mất tích rất lâu (từ
1933 đến 1938) trong sách của TDT, có
người cho rằng ông ta bị thất
sủng và bị gọi về Liên xô
để chỉnh huấn.Cũng có người
cho rằng ông bị nghi ngờ làm
gián điệp cho Anh, nên bị LX trừng
phạt.Nhưng có một điều ai cũng
thấy là trong thời gian 4 năm này,
ông Hồ đã được học
tập kỹ và tiến bộ rất nhiều
về các phương diện tuyên truyền
và tình báo chiến tranh gián điệp,
đến nỗi chính Võ Nguyên Giáp
mà phần lớn các sử gia
quốc tế đều công nhận là
người làm nên những chiến
thắng của cộng sản ở Việt
Nam cũng phải công nhận "Hồ chủ
tịch là nhà chiến lược
thiên tài", như nhan đề cuốn
sách mà Giáp viết năm 1975.
Chỉ đọc sơ
qua người đọc cũng thấy
trong cuốn sách của TDT, có tới
5 lần tác giả nói dến việc
Nguyễn Ái Quốc đột nhiên mất
tích và tác giả mất mối,
mất đường dây. Ðó
chính là những lúc TDT tức
HCM không muốn tiết lộ những
việc làm cần phải giấu để
bảo vệ cái vỏ bọc dân tộc,
đừng cho cái ruột đỏ cán
bộ quốc tế c.s. bị lòi ra.
Nhưng nay, sau khi chỉ
đối chiếu sơ qua những gì
TDT viết với những gì HCM nói
và làm trong thời gian đó
như sử "chính thống" của cộng
sản đã ghi thì phải kết luận
TDT đã giết Hồ Chí Minh vậy.
Trở lên chúng tôi đã
đối chiếu những gì Trần
Dân Tiên viết với những
tài liệu khác, cũng do cán bộ
cộng sản trung thành với Hồ
Chí Minh viết, để phơi bày những
điều gian chúng tôi xin trình với
bạn đọc sự đạo đức
giả lộ liễu của Hồ Chí Minh
khi ông ta dùng bút hiệu Trần Dân
Tiên để tâng bốc "bác Hồ
là con người khiêm tốn dường
ấy". TDT nói "bác Hồ" không có
thì giờ để nói về mình,
vì việc nước trăm công nghìn
việc, quá bề bộn. Vậy mà chính
bác lại để thì giờ nắn
nót viết nên cuốn truyện này
để tự thần thánh hóa chính
mình. Sau đây là những lời
trơ trẽn đó: Trang 6:
"Sau khi tôi nói
xong, Người (chú ý chữ
Người viết hoa) cười và
đáp: "Tiểu sử. Ðấy là
một ý kiến hay. Nhưng hiện nay còn
nhiều việc cần thiết hơn. Rất
nhiều đồng bào đang đói
khổ. Sau 80 năm nô lệ, nước
ta bị tàn phá, bây giờ chúng
ta phải xây dựng lại. Chúng ta nên
làm những công việc hết sức
cần kíp đi đã! Còn tiểu
sử của tôi... thong thả sẽ nói
đến sau!" Và chỉ mấy hàng
sau:
"Một người
như Hồ Chủ tịch của chúng ta,
với đức khiêm tốn nhường
ấy và đương lúc bề bộn
bao nhiêu
công việc, làm
sao có thể kể lại cho tôi nghe bình
sinh của Người được?"
Ngày nay khi mà đảng đã xác
nhận tác phẩm vô tiền khoáng
hậu này là của chính lãnh tụ
đảng viết ra, nhiều người
mới nói: "rõ giấu đầu
hở đuôi! Có gì mà chẳng
biết. Chỉ đọc trang đầu là
biết ngay chính ông Hồ viết chứ
còn ai? Ðây nhé:
"Ngày thứ
hai tôi viết thư xin phép được
gặp Hồ Chủ tịch.Ngay chiều hôm
ấy (xin nhớ Ngay chiều hôm ấy),
tôi rất sung sướng nhận được
thư trả lời của HCT viết như
thế này: Ngày mai 7 giờ 30 mời
chú đến" ký tên HCM.
Người ta bảo
chỉ có ông ta viết cho ông ta và
tự trả lời mới nhanh như
thế chứ bưu điện Mỹ cũng
phải một ngày là sớm nhất.
Vậy mà mấy chục năm chẳng ai
nhìn ra điều đó, mới
chứng tỏ dân ta sao mà chậm hiểu
thật. Cho nên ngày nay mới khổ
như thế này. Trời ơi! Hỡi
các nhà đại trí thức VN
ơi xin thử giải thích xem, tại sao
lại vậy nhỉ?
Tôi xin kết luận
bài này bằng một câu của cựu
hoàng Bảo Ðại nói với
sử gia Trần Trọng Kim ở Hương
Cảng năm 1948: "Chúng mình già trẻ
mắc lừa bọn du côn" (10) Và mong
đám hậu duệ của Lệ Thần
và Nguyễn Vĩnh Thụy cũng như
các đồng chí trẻ của Nguyễn
Hải Thần, Nguyễn Tường Tam và
Vũ Hồng Khanh sẽ không bị lừa
như cha chú và các bậc tiền
bối của họ.
Miền Nam Cali 21-12-2001.
Minh Võ
Chú thích:
(1) Ðến nỗi
UNESCO đã muốn tổ chức vinh
danh ông với tư cách đó
vào năm 1990, nhưng không làm được
vì nhiều nhà trí thức Pháp
(trong đó có Michel Tauriac, Olivier Todd, Jean-Francois
Revel...) đã đem ra bằng chứng
dễ phản bác để nghị nông
nổi của tổ chức văn hóa
giáo dục của Liên Hiệp Quốc này
(2) Khi xuất bản
lần thứ tư, năm 1986 cuốn sách
có ghi là được "viết xong
vào mùa xuân 1948".
(3) Trường Chinh
có các cuốn "Chủ tịch HCM, sự
nghiệp vĩ đại, gương sáng
đời đời", Hà Nội,
Sự Thật, 1980, và "Chủ tịch HCM
vĩ đại sống mãi trong sự
nghiệp cách mạng của chúng ta", Hà
Nội, sự Thật, 1985
(4) Phạm Văn Ðồng
có 4 cuốn về HCM: "Hồ chủ tịch,
tinh hoa của dân tộc, lương tâm của
thời đại", Sự Thật 1976; "HCM,
mốt con người, một dân tộc,
một thời đại, một sự
nghiệp", Sự Thật, 1990; "HCM, quá khứ,
hiện tại và tương lai", Sự Thật,
1991; và "HCM và con người VN trên
con đường dân giầu, nước
mạnh", Hà Nội, nhà XB Chính Trị
Quốc Gia, 1993.
(5) Võ Nguyên
Giáp có 5 cuốn về HCM: "Hồ chủ
tịch, nhà chiến lược thiên
tài", Hn, sự Thật, 1975; "Bác Hồ
về Tân Trào" Tuyên Quang, 1970; "Thế
giới còn đổi thay, nhưng tư
tưởng HCM sống mãi", Th. phố
HCM, 1991; "Tư tưởng HCM, quá trình
hình thành và phát triển", Sự
Thật, 1993; "Tư tưởng HCM và con đường
cách mạng VN" Hà Nội, nhà XB Chính
Trị Quốc Gia, 1997.
(6) Văn Tiến Dũng
có cuốn "Ði theo con đường
của bác" Hà Nội, nhà XB CTQG 1993,
(7) Hồng Hà có
các cuốn "Ðời niên thiếu
của Hồ chủ tịch" và "Bác Hồ
trên đất nước Lênin" v.v...,
(8) Thực ra đảng
của ông này chống Pháp và
chống VM vì chẳng những VM là
cộng sản, mà còn vì VM do HCM cầm
đầu lại đi ký hiệp định
sơ bộ 6-3-46 dành cho Pháp quá nhiều
quyền lợi, phản lại quyền lợi
quốc giạ MV),
(9) Xin xem "Một Cơn
Gió Bụi" của Lệ Thần Trần Trọng
Kim, đoạn cuối. |