Tôi
và Chóe trên trang 3 Sóng Thần Sài Gòn
và
những ngày hoạn nạn...
Hải Triều
(Tôi bàng hoàng, đã
không còn một chút tâm trí để viết dòng nào cho Chóe, khi
đọc email Viên Linh báo Chóe từ trần tại Cali khuya Thứ Tư
13/3/2003 sau khi từ Việt Nam qua trị bệnh. Tôi chạy lại bài
viết này, đã đăng trên Giai phẩm Hè 2002/ Tuần báo Ðời
Nam ở Washington DC, như một lời tạ tội đã không thăm được
bạn trước ngày mất, như một nén nhang cho Chóe. Và đại
diện nhóm Nguyệt San Việt Nam chân thành chia buồn cùng chị
Nguyễn Hải Chí và Gia đình. Vĩnh biệt Chóe/ Hải Triều)
Rời Tiểu Ðoàn 5 An
Ninh Thiết Lộ, từ Quân Khu II đổi về Sài Gòn năm 1970, sau
khi trình diện đơn vị, Sóng Thần gần như là "đơn vị"
thứ hai tôi có mặt thường xuyên, nhất là những ngày nghỉ
cuối tuần. Cái nghiệp viết lách đối với tôi là một thứ
đam mê không bỏ được, và chính cái thú đam mê đó đã
cột tôi dính vào những tờ báo tường thuở còn ngồi ghế
trường trung học Phan Bội Châu Phan Thiết, đến khi vào Thủ
Ðức, ra đơn vị, cũng lại chính nó đẩy tôi vào Chiến
Sĩ Cộng Hòa, vào Tiền Phong rồi vào Sóng, Ðời của ông
Chu Tử rồi Sóng Thần của nhóm anh chị Trùng Dương, Lý Ðại
Nguyên, Uyên Thao...
Trong thời gian về lại
Sài Gòn, tôi tiếp tục hoàn tất việc học hành dang dỡ ở
Ðại Học Vạn Hạnh. Thành ra, dù là một quân nhân, chuỗi
dài thời gian của tôi ở Sài Gòn, ngoài nhiệm vụ của một
quân nhân, là chuỗi dài bút viết học hành và viết lách.
Ngoài những giây phút bù đầu với bài vở trong giảng đường
đai học vào buổi chiều sau giờ làm việc, đa số thời giờ
còn lại của tôi là mấy trang báo Sóng Thần. Trang 3 Sóng
Thần là nơi tôi và Chóe gặp nhau. Gặp nhau, quen nhau, nhưng
chưa thân nhau. Trong trang 3 Sóng Thần có một số bài viết
và các cột mục cố định mà đa phần là do Chóe và tôi
( Hải Triều ) phụ trách. Chóe có một chuyện dài, nếu tôi
nhớ không lầm, có tựa đề "Cái Gọi Là". Truyện châm biếm
VC này góp phần vào việc kéo dài những năm tù cải tạo
của Chóe, nhưng Chóe nổi danh không phải bằng bút mà bằng
cọ với những tranh hí họa. Tranh hí họa không lời của
Chóe nằm gần phần dưới giữa trang 3. Phần trang còn lại
là hai cột mục thường "đụng chạm" là mục tổng kết hồ
sơ tham nhũng 4 quân khu thường là do tôi phụ trách dưới
bút hiệu Bắc Phong. Cột mục "Ao Thả Vịt" nằm bên phải
trang 3 do ông Chu Tử để lại được đổi thành mục Tạp
Ghi do Hải Triều phụ trách. Nhìn chung, các cột mục và bài
viết xuất hiện trên trang 3 Sóng Thần là những thứ "đụng
chạm" có thể bị "tự ý đục bỏ" hay bị lôi ra tòa bất
cứ lúc nào.
Ðể tránh hay giảm "áp
lực" hay "tai nạn chữ nghĩa" loại đó, anh em chúng tôi mở
thêm một cột mục thường xuyên khác có cái tên "Bắn Gió".
Bắn Gió thường được viết bởi môt nhóm bút hiệu khác
nhau, tức một cột mục chung, trong đó có Hàn Sĩ và Tân Dân.
Hàn Sĩ là bút hiệu viết phiếm khác của Hải Triều trong
cột mục Bắn Gió. Tân Dân sau này bị đi "tù cải tạo" và
bị VC thảm sát ở trại Hàm Tân. Mục Bắn Gió là mục châm
chọc, đả kích các đối tượng theo một cách viết đặc
biệt để tờ báo không bị "tự ý đục bỏ" hay bị lôi
ra tòa, viết như viết chuyện phong thần, cổ tích... nhưng
độc giả đọc hiểu ngay là tờ báo muốn nói tới ai, và
nói cái gì.
Trở lại với Chóe.
Chóe đã mang lại cho Sóng Thần một nét độc đáo trong làng
báo Sài Gòn với những tranh hí họa không lời. Không một
dòng chữ giải thích, ghi chú hay phụ đề bên dưới, nhưng
tranh Chóe đã nói rất nhiều, nói rất thật và nói hết.
Chóe vẽ những nhân vật "lừng danh"từ Nixon đến Nguyễn
Văn Thiệu, từ Nguyễn Khánh đến Nguyễn Cao Kỳ... Những
nét vẽ đơn sơ nhưng độc đáo, nhìn vào nét vẽ là độc
giả biết Chóe vẽ ai, muốn nói cái gì, đôi lúc người ta
có cái cảm tưởng nét vẽ của Chóe mang nội dung của một
bài bình luận chính trị. Chẳng hạn sau khi TT Thiệu ký ban
hành luật báo chí 07/72, Sóng Thần xuất hiện một trang hí
họa vẽ một người có cặp mắt y như ông Thiệu, lái chiếc
xe hủ lô mang số 07/72 lăn qua mấy tờ báo. Các nét vẽ mang
đầy đủ vóc dáng TT Thiệu và tác dụng của luật báo chí
07/72, nhưng ông cơ quan kiểm duyệt dưới quyền ông Hoàng
Ðức Nhã chẳng làm gì được.
Và ngay cả đến sau
này, sau khi ra tù về, Chóe có vẽ tranh hí họa trên một vài
tờ báo ở Sài Gòn như tờ Tuổi Trẻ, Lao Ðộng... và tôi
lấy làm ngạc nhiên là một số hí họa châm chọc kiểu "chí
chóe" của Chóe lại có thể xuất hiện trên báo do VC kiểm
soát. Chẳng hạn tạp chí Quê Mẹ ở Pháp trước đây mấy
năm có chạy đăng một hí họa lấy trên báo Lao Ðộng vẽ
một người hai môi và miệng bị móc cái khóa để nói về
tự do ngôn luận của nước CHXHCNVN. Loại hí họa này xuất
hiện nhiều nhất vào thời Nguyễn Văn Linh "đổi mới", mở
cửa và "cởi trói văn nghệ." Ðây là loại hí họa có thể
vào tù hay mang vạ vào thân dễ dàng. Sau nàu, VC hết cởi
trói và cột lại thì hí họa loại này của Chóe biến mất
hay giảm đi.
Tháng 11/1974, làng báo
Sào Gòn căng thẳng với những áp lực của chính quyền sau
những cáo trạng tố tham nhũng của linh mục Trần Hữu Thanh.
Sóng Thần chủ trương thanh lọc tham nhũng, trong sạch hóa
chính quyền và quân đội để tạo điều kiện chống cộng
sản hiệu quả hơn, nên cáo trạng sối 1,2,3... của Linh mục
Trần Hữu Thanh được chạy đăng nơi trang 1 trong nhiều ngày.
Trước đó, Sóng Thần cũng là tờ báo đứng đầu sổ dòm
ngó của Bộ Dân Vận Chiêu Hồi/ Hoàng Ðức Nhã với những
loạt bài tố cáo tướng Nguyễn Văn Toàn Quân Khu II và Ðại
tá NâTN, tỉnh trưởng Bình Thuận... Thế là vào giữa tháng
11/1974, tòa soạn Sóng Thần bị "hốt", Tổng Nha Cảnh Sát
nhận nhiệm vụ "hốt" Uyên Thao, Lý Ðại Nguyên, nhưng hai
ông này nhanh chân chạy mất, chỉ còn Trương Cam Vĩnh chậm
chân bị hốt lên xe... Riêng "mấy tên viết báo làm vui" gốc
lính như Hải Triều, Nguyễn Hải Chí, tức Chóe thì do An Ninh
Quân Ðội "chăm sóc". Không biết Vũ Thế Ngọc ( BDQ) lúc đó
có "thọ nạn" hay không không nghe anh em nói, và cũng không
thấy gặp nhau trong phòng tạm giam của Cục An Ninh Quân Ðội.
Khoảng 2 giờ chiều
ngày 17/11/1974, xe Cục An Ninh Quân Ðội đến ngay văn phòng
tôi, có cả vị sĩ quan an ninh đơn vị, xuất trình một lệnh
câu lưu do cục phó Cục An Ninh Quân Ðội ký. Thế là tôi
lên xe, mang theo nhưng câu hỏi xáo trộn trong đầu: Tại sao
mình bị bắt? Mình đã làm gì đến nỗi phải vào nhà giam?
Mình không là VC, lại là một sĩ quan chống cộng có những
bài viết chống cộng quyết liệt trên Chiến Sĩ Cộng Hòa
và Tiền Phong của QLVNCH, tại sao lại rơi vào tình huống
này? Câu trả lời không tìm ra. Câu trả lời bế tắc. Tôi
có một chút hoang mang, lo sợ nhưng tự tin: Chắc có một cái
gì lầm lẫn bất thường đây!
Ðến Cục ANQÐ, sau khi
giao hết tiền bạc, lon lá, quân phục cho một ông trung sĩ
phụ trách phòng tiếp nhận, tôi được đưa vào phòng giam.
Nắng Sài Gòn tháng 11/74 còn đổ lửa. Từ ngoài nắng bước
vào, khi cánh cửa sau lưng tôi đóng lại, tôi bị bóng tối
bao phủ, phải một lúc sau tôi mới thấy lờ mờ và rõ dần.
Tôi vẫn còn đứng tại chỗ, tôi không thấy đường vào
phòng. Tôi được lệnh vô phòng 17. Ðột nhiên có tiếng gọi
thảng thốt từ một góc tối:
- Trời ơi! Anh Hải Triều!
Tôi ngạc nhiên tại
sao có người biết và nhận ra tôi trong cảnh này, tôi tự
hỏi và lên tiếng:
- Anh em nào vừa gọi
tên tôi, xin cho biết!
- Chóe đây! Chóe Sóng
Thần đây!
Thôi chết cha rồi! Những
câu hỏi bế tắc trong đầu tôi đã có câu trả lời. Tôi
nghĩ thế, và hỏi:
- Chóe bị hốt từ bao
giờ? Sóng Thần ai bị hốt?
- Tôi không biết! Tôi
bị hốt từ Tổng Tham Mưu sáng nay. Ðến lúc này dường như
chỉ có anh và tôi bị hốt. Có lẽ toàn bộ nhóm Sóng Thần
bị chiếu tướng vì vụ dụng tướng Toàn và vụ đăng cáo
trang của cha Thanh!
- Tôi nghĩ có lẽ vậy!
Nhưng Chóe ở phòng nào?
- Phòng 21! Giờ đổ
cầu mình có thể găp nhau nói nhiều chuyện hơn!
Tất cả mọi người
được lệnh vào phòng. Tôi vào phòng 17. Chả hiểu tại sao
tôi lại thấy an lòng vì tai nạn Sóng Thần, và thầm nghĩ:
" Viết báo không có phép của cấp trên, cùng lắm là 60 củ
rồi về..."
Tôi bị hốt về cục
ANQÐ trước sự ngỡ ngàng của các anh em dưới quyền, và
bất ngờ đối với gia đình. Trong thời gian này, tôi chỉ
vừa mới "sang ngang" có vài tháng, chờ cái giấy phép của
đơn vị để về nhà hủ hỉ với người bạn đời mới
cưới thì lại chui vô hộp ngang xương. Gia đình không thấy
tôi về, vô hỏi đơn vị, "mấy ông nội tôi" lại bảo không
biết. Má tôi thương con và lo sợ muốn điên người. Bà xã
và em gái tôi bay vô trường Quân Báo Cây Mai tìm hai bạn tôi
là Ð/ U Phạm Hữu Minh và Nam Râu. Hai tên này lùng xục tìm
ra chỗ tôi nằm trong phòng giam cục ANQÐ. Tuần sau đó tôi
được người nhà tiếp tế một ít đồ ăn.
Phòng 17 của tôi có
tôi ( vụ Sóng Thần) , Trung tá Trần Toàn Thắng ( vụ đường
Ðà Nẳng), thiếu tá Vân ( hải quân, vụ dầu gì đó) và
Ðại úy Lê Văn Kính, sĩ quan nội dịch tổng thống phủ thuộc
dinh Ðộc Lập ( bị cáo buộc nhận tiền VC âm mưu ám sát
TT Thiệu). Ngoài những giờ đánh cờ tướng, Kính bị ba chúng
tôi vây chuyện nhận tiền VC chuẩn bị làm chuyện tày trời,
Kính biện bạch mình không phải là VC mà bị kẹt, bị gài.
(Chuyện này khá dài
và rắc rối, may ra chỉ có Ðại Tá Chiêm mới biết rõ. Kính
bị Ð/T Chiêm giao cho quân cảnh ngay trong dinh Ðộc Lập. Tôi
không biết sau 75, Ð/ T Chiêm có thoát được hay không, nay
còn hay mất, nhưng khi trong tù cải tạo của VC tại Tổng
trại 8 Tù Tàn Binh Sông Mao khoảng đầu năm 1976, một tên
giảng viên chính trị của VC có nhắc tới Ð/U Lê Văn Kính
là "người của ta" gài vô dinh Ðộc Lập. Người thứ hai
được nhắc kèm Ð/U Kính như "người của ta" là tướng Nguyễn
Hữu Có. Chuyện trời trăng này cho đến nay tôi cũng không
rõ thực hư...)
Trong thời gian tạm giam
để điều tra, tôi và Chóe có gặp nhau trong những giờ anh
em được cho phép ra khỏi phòng và và đi cầu. Lúc đó, quả
tôi và Chóe có giận ông Thiệu vô cùng, giận vì tham nhũng
như tướng Toàn bị mất chức ở quân khu II lại được lên
chức ở quân khu III, còn mấy thằng lính sạch chống tham
nhũng thì lại bị vô nhà giam. Vì hiểu mình hơn ai hết, vì
tin quân đội đâu có chuyện dựng đứng chuyện an ninh, chuyện
VC để hành hạ mình, nên tôi nghĩ đến cái giá phải trả
cho việc viết lách lăng nhăng là ký mấy chục củ trọng
cấm và vát ba lô ra lại đơn vị tác chiến, cái giá vứt
mảnh bằng đại học, vứt giấc mơ xin về Bộ Quốc Phòng
làm phòng kiểm duyệt phim ảnh/BQP của ông thầy là Ðại
tá Nguyễn Ðình Tuyến ( dạy Vạn Hạnh, hiện nay ở Houston,
TX)... Thời đó, dường như dân nhà binh có cử nhân báo chí
chỉ vài ba người, trong đó có tôi và Vũ Thế Ngọc.
Những giờ phút khá
căng thẳng của tôi sau đó làthời gian chấp cung. Tôi nhớ
người hỏi cung và điều tra tôi lúc đó là Ðại úy Phán.
Theo như trong hồ sơ, tôi bị cột vào hai tội danh cần điều
tra hư thực. Thứ nhất là vi phạm luật báo chí và viết
báo không giấy phép của thượng cấp. Tội thứ hai là tiếp
tế cho VC và có gia đình liên hệ VC. Tôi xác nhận ngay với
đ/u Phán là tôi có viết cho Sóng Thần mà trong túi không có
tờ giấy nào của bộ Tổng Tham Mưu hay Bộ Quốc Phòng. Phần
còn lại, tôi bác bỏ một cách quyết liệt chuyện bảo tôi
vi phạm luật báo chí 07/72 và liên lạc tiếp tế cho VC. Nghĩ
mình là một trong những sĩ quan cấp nhỏ trong sạch và ngay
thẳng nhất quân lực, tôi vô cùng kinh ngạc và tức giận
khi bị cáo buộc như thế. Tôi đã đấu lý tay đôi với đ/
u Phán từ giờ này sang giờ khác. Về chuyện các bài viết
của tôi nói là vi phạm luật báo chí, đ/u Phán trưng dẫn
điều 32 của luật báo chí 07/72 liên quan tới một bài viết
trên mục tạp ghi bị cho là xúc phạm tới các vị lãnh đạo
các quốc gia đồng minh của VNCH. Tôi yêu cầu đưa bằng chứng
cụ thể, anh Phán đưa ra một trang báo Sóng Thần do tôi viết
trong mục phiếm Tạp Ghi, trong đó tôi nói về thủ tướng
Thái Lan với cái tên tôi phiên âm sang tiếng Việt là "Tha
Nõm Kít Ty Kà Thọt!" ( Thanom Kitikathom... dường như vậy),
và cho rằng nội dung bài viết và cách phiên âm ... Kà Thọt
là xúc phạm đến ông thủ tướng Thái Lan, đồng minh của
chúng ta. Tôi cãi văng cáo buộc này.
Ð/u Phán "tấn công"
tiếp về cáo buộc liên hệ và tiếp tế cho VC. Tôi hiểu
đây là một sự vu khống, dựng đứng để trả thù của
một nhân vật nào đó, nên tôi "phản công" vô cùng quyết
liệt, tôi cãi văng tất cả những dữ kiện và luận điểm
phi lý nhắm vào tôi từ ngay những con số trong hồ sơ cáo
buộc. Khi "nghỉ xả hơi", trong lúc Ð/u Phán rời bàn đi "washroom",
tôi tò mò ưỡn người vói đọc mấy trang tài liệu vô tình
không xấp lại, và vỡ lẽ khi thấy toàn bộ tài liệu bịa
đặt và vu chụp tôi đều xuất phát từ tiểu khu Bình Thuận
của Ðại Tá NTN., và cùng lúc, báo cáo của Ty An Ninh Quân
Ðội Bình Thuận thì ngược lại những báo cáo của tiểu
khu Bình Thuận, nghĩa là theo cuộc điều tra của Ty ANQÐ Bình
Thuận ( không trực thuộc hàng đọc với Tiểu Khu) , không
có bất cứ bằng chứng nào cho thấy tôi ( một sĩ quan thuộc
TÐ5ANTL hậu cứ đóng ở Nha Trang) liên hệ hay tiếp tế cho
VC. Có lẽ Ð/ U Phán hiểu là tôi vô tội, nhưng anh vẫn phải
làm thủ tục hỏi cung, điều tra do lệnh của một hay những
cấp cao hơn nào đó. Khi Ð/u Phán trở lại bàn, tôi làm như
không biết chuyện gì trong mấy tờ giấy trước mặt anh.
Khi biết được mình
bị tiểu khu Bình Thuận của Ðại Tá NTN vu chụp, tôi hiểu
ra lý do chính yếu tại sao tôi bị cục ANQÐ hốt vô nhà giam.
Chuyện này có đụng chạm trực tiếp tới Ðại Tá N. Như
đã viết ở trên, một trong những loại bài nóng và đụng
chạm của tờ Sóng Thần là các bài đúc kết hồ sơ tham
nhũng của 4 quân khu. Tôi đã viết một loạt bài dài liên
tục gần 2 tuần trên trang 3 Sóng Thần với đề mục " Mở
Hồ Sơ Ðen Tham Nhũng của Tỉnh Trưởng Bình Thuận." được
ký dưới bút hiệu Bắc Phong. Thoạt đầu ở Phan Thiết người
ta nghi ngờ người viết là nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, nhưng
về sau, cơ quan an ninh tìm ra người viết là Hải Triều viết
dưới một bút hiệu khác. Thế là mối oan khiên treo lủng
lẳng trên đầu hắn cho đến ngày hắn bị hốt vào 17/11/1974.
Trớ trêu thay, loạt bài này làm cho Sóng Thần khi ra đến
Phan Thiết là bị tịch thu hay thu mua sạch, dân xe đò phại
mua bán giá chợ đen, lại được viết từ những tài liệu
thực của Ủy Ban Ðiều Tra Tham Nhũng của Phủ Phó Tổng Thống
( Trần Văn Hương) do một thành viên Giám Sát Viện ngầm chuyển
thẳng cho Hải Triều. Tập tài liệu đúc kết này có cả
chữ ký của đại diện cục ANQÐ, một thành viên của Ủy
Ban. Tập tài liệu này không có tác dụng gì đối với các
đối tượng bị đề cặp và khuyến cáo các biện pháp chế
tài. Ðây là một trong những khuyết điểm nghiêm trọng của
những nhà lãnh đạo có trách nhiệm, vì họ và đàn em họ
vướng sâu trong trận đồ tham nhũng, bè phái... Và nó là
một trong những nguyên nhân đóng góp cho sự sụp đổ của
miền Nam tự do! Oan nghiệt thay, tập tài liệu trên đã gieo
tại vạ cho một sĩ quan cấp nhí có lòng...
Một hôm, đang đánh
cờ tướng khuya với trung tá Trần Toàn Thắng, một hạ sĩ
quan trực gõ cửa phòng và gọi tôi lên phòng điều tra. Bố
Thắng xếp bàn cờ, nhìn tôi ái ngại:
- Thường thì khi bị
gọi hỏi cung giờ này là điều không lành! Chúc cậu may mắn!
Tôi ra khỏi phòng bỗng
đâm lo vì lời của bố Thắng. "Mình đã đụng ổ kiến lửa
nên mới ra nông nỗi này! Có khi mất mạng chẳng chơi!" Chân
vẫn bước, đầu nghĩ miên man và hồi hộp. Ðến nơi, tôi
không bị dẫn vô phòng cung như thường lệ, mà được đưa
vô văn phòng của một vị Trung Tá. Tôi vô cùng ngạc nhiên
trước cái vẻ ấm cúng của căn phòng, trước vẻ tử tế
của vị sĩ quan cao cấp mà tôi sắp được tiếp chuyện.
Ông bảo người hạ sĩ quan mang cho tôi một ly trà ấm. Khi
người hạ sĩ quan bước ra ngoài và khép cửa phòng lại,
ông bắt đầu nói chuyện thân mật với tôi, hỏi tôi đủ
mọi chuyện... Rồi sau cùng, ông hỏi tôi một câu bất bgờ:
- Qua hỏi thật em! Giữa
em và Ðại tá NâTN, tỉnh trưởng Bình Thuận có gì không
bằng bụng hay đụng chạm nhau không?
Tôi như một thí sinh
gạo bài thi tú tài, vô vòng vấn đáp, được thầy hỏi một
câu "trúng tủ". Tôi trả lời:
- Thưa có!
Sau đó, tôi thuật lại
tôi đã nhận tài liệu "Hồ Sơ Ðiều Tra Tham Nhũng" ở đâu,
từ đó tôi viết và đúc kết các bài viết trên Sóng Thần
liên hệ đến Ðại Tá N ra sao, trường hợp nào tôi dính
với Sóng Thần và tại sao... Nghĩa là có bao nhiêu trong tủ,
tôi rút ra hết. Tôi nhấn mạnh là toàn bô hồ sơ đó có
chữ ký của nhiều cơ quan có chân trong Ủy Ban, trong đó có
chữ ký của Cục ANQÐ và tôi không chấp nhận tham nhũng khi
toàn quân đang chiến đấu chống cộng sản phương Bắc. Sau
cùng ông cười và gọi người hạ sĩ quan trực đưa tôi trở
về phòng. Vô phòng, anh em bật ngồi dậy. Bố Thắng sốt
ruột:
- Lành hay dữ mà sao
thấy mặt cậu có vẻ tỉnh bơ?
- Lành! Tin lành! Tối
nay tôi ngủ ngon là cái chắc!
- Nói cho anh em nghe được
không?
- Ðược chứ! Ðâu có
gì bí mật! Chuyện của tôi lãng xẹt! Chuyện của anh Kính
mới rắc rối cuộc đời!
Sau đó, tôi kể mọi
chuyện cho cả phòng nghe. Tôi bảo:
- Người ngay mắc nạn
thế nào cũng có quí nhân giúp và hiểu.
Quí nhân tôi muốn nói
là vị trung tá ANQÐ hỏi tôi cái câu " Giữa em và Ðại tá
NTN, tỉnh trưởng Bình Thuận, có gì không bằng bụng hay đụng
chạm nhau không?" Sau câu hỏi đó, tôi thấy tôi thoát nạn,
tôi thấy quân đội mình cũng chí công vô tư, ngon lành. Gặp
phải quân đội cộng sản của lão Hồ thì bị thanh trừng
chết cha! Và ngày ngày tôi đều đợi tiếng gõ cửa mời
ra trả về đơn vị. Tôi có báo cho Chóe biết những tin vui
về trường hợp tôi, và hỏi trường hợp Chóe. Chóe cười:
- Anh biết, tôi vẽ hí
họa không lời, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Thế mà mấy ổng
bảo tôi giải thích, phụ đề Việt ngữ thì làm sao tôi làm.
Mà cái đó có gì ghê gớm đâu! Thế là huề!
Cả tôi và Chóe đều
hiểu mình có thể nhận sự vụ lệnh trả về đơn vị gốc,
thế nhưng cuộc chiến tàn khốc cứ đi dần tử vĩ tuyến
17 lấn xuống phía Nam. Chính phủ và quân đội phải lo trăm
ngàn chuyện ngoài chiến trường để ngăn chận Bắc quân.
Chúng tôi như bị bỏ quên trong cơn bão càng ngày càng lớn,
càng ngày càng đến gần. Chúng tôi nghe rõ cơn bão đang đến
qua các bản tin radio mở gần như thường trực ở phòng bên
cạnh gần phòng giam. Chúng tôi lo âu cho mệnh số của đất
nước hơn là lo cho mệnh số của mình. Huế, Ðà Nẳng, Qui
Nhơn, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết rồi Long Khánh... Thế thì
còn gì!
Sáng ngày 30/4/1975, đài
BBC loan báo Bắc quân đã đến ngưởng cửa Sài Gòn, T54 đã
đến cầu Xa lộ Biên Hòa, phòng giam vẫn còn khóa kín. Khoảng
8.30 sáng, có tiếng chìa khóa lộc cộc, người hạ sĩ quan
hé mở cửa phòng, nhình tôi và nói:
- Mời đại úy lên phòng!
Lấy theo hết quần áo!
Trong cái không khí tĩnh
mịch, nghẹt thở và căng thẳng này, tất cả các phòng, kể
cả Chóe, đều nghe rất rõ tiếng của người hạ sĩ quan.
Cửa phòng đóng lại, tôi phóng theo người hạ sĩ quan. Bên
ngoài, súng ống xếp dọc tường. Một chiếc xe jeep còn nổ
máy nhưng không có người. Lên phòng trực, một sĩ quan mặc
thường phục tự giới thiệu tên và cấp bậc trung úy, chìa
cho tôi mảnh sự vụ lện "trả về đơn vị gốc", không thấy
lệnh phạt, sự vụ lệnh mang tên tôi và Trung Sĩ Nhất Nguyễn
Hải Chí, ký ngày 29/4/1975. Tôi được trả lại quân phục,
tiền bạc và đôi giầy "saut". Anh Trung úy bảo tôi:
- Lẽ ra sự vụ lệnh
này phải giao ngày hôm qua, nhưng tình hình không cho phép. Giờ
đây thì chúng ta không còn gì nữa. Ra khỏi chỗ này, cả
tôi và anh đều phải tìm đường thoát!
Thế là anh ta biến đi.
Lúc này tôi mới thực sự hoảng hốt, hoang mang. Trả về
đơn vị gốc cái chó gì nữa khi cả Sài Gòn gần như bị
cộng sản tràn ngập. Như một kẻ mất hồn, tôi mặc áo,
thọt chân vô đội giày nhà binh và thất thểu bước về
phía cổng. Lúc này, các cửa phòng giam đã mở cho mọi người
ra về và thoát thân. Không còn thấy bất cứ người lính
hay sĩ quan nào mặc quân phục. Tiếng súng AK đã nổ càng
ngày càng gần. Mọi người đã thoát khỏi chỗ này trừ mấy
người vừa ra khỏi phòng giam. Bỗng Chóe nhào tới tôi và
nói như hét:
- Trời đất ơi! Bây
giờ mà trên áo anh còn ba bông mai đen thùi! Ðây là cục ANQÐ!
Xe tăng tụi nó vô đây liền bây giờ! Nó bắn anh ngay! Mau
lên! Thay đồ ra!
Chóe móc trong bao quăng
cho tôi một bộ đồ civil, tôi tuột vội bộ đồ nhà binh
và đôi giầy, mặc vội vàng bộ đồ lỏng le của Chóe. Chóe
móc thêm đôi giép Nhật đưa cho tôi. Hai anh em phóng ra cổng
và chia tay từ đó. Chóe không hề biết tôi mang trong người
cái sự vụ lệnh trả về đơn vị gốc có tên tôi và Nguyễn
Hải Chí, và nó có thể là văn kiện cuối cùng của chế
độ Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đã ký nhận văn kiện đó đúng
vào 9.30 sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, thời khắc thủ đô Sài
Gòn sắp bị bứtc tử và "trút hơi thở tự do cuối cùng".
Thật lạ lùng! Tôi chẳng hiểu tại sao đến giờ phút tử
sinh đó mà tôi còn ký được một chữ ký trong sổ trực
nhận của cục ANQÐ!
Bây giờ máy tôi chỉ
5.00 PM ngày 4 tháng 5 năm 2002. Tôi viết những dòng này đúng
27 năm 4 ngày và 8 giờ kể từ lúc chia tay Chóe trong phút giây
Sài Gòn sụp đổ. Những cay cực không may trong đời binh nghiệp
của tôi, nếu không vì số kiếp, tử vi, định mệnh ... thì
đều do cái nghiệp viết lách báo... hại nó gây ra. Ðôi lúc
tôi nghĩ nếu tôi không mê cái nghiệp... báo, chưa chắc đời
tôi đã khổ. Tôi có thể đã không vào nhà giam cục ANQÐ
vì các bài viết trên Sóng Thần, để sau 75 lại chui vào tiếp
hàng loạt nhà tù khốn nạn chết người của cộng sản.
Và nếu viết tin hay chỉ làm thơ trên Sóng Thần, đừng "xí
xọn" ôm cái mục điều tra tham nhũng hay viết Tạp Ghi thay
Ao Thả Vịt của ông Chu Tử thì làm gì bị Ðại tá NâTN
thù ghét và vu chụp để phải vào nhà giam của phe ta cho đến
ngày mất nước. Ngày nay, viết lại kỷ niệm xưa, tôi không
còn một chút gì cay đắng – và xin nói rõ, tôi phải đề
cập tới tên Ð/T N hoàn toàn chỉ vì tôn trọng nhưng dữ
kiện khách quan của bài bút ký cần phải viết.
Tháng trước, đọc tin
trên net, biết Chóe bệnh hoạn và mắt đã không còn thấy
cây cọ để vẽ những nét vẽ lừng danh một thời, tôi bỗng
bồi hồi thương xót. Chóe chỉ là một hạ sĩ quan trong quân
lực, nhưng Chóe đã ở tù lâu trong các trại tù VC ngang với
những ông tướng. Dù trong tình huống nào, tôi cũng tìm thấy
trong nét cọ của Chóe một thứ bất khuất ngất trời.
Hải Triều
Canada 4/5/2002
|