Tạp Chí Văn Học Ðấu Tranh Cho Một Việt Nam Tự Do Dân Chủ
P.O. Box 74013, Hillcrest Park PO. Vancouver, BC. V5V-5C8, Canada
Phone+Fax: (604) 875-9022 - Sau 6PM (604) 879-1179
Email: nsvietnam@yahoo.com

Cập nhật hóa hàng ngày
Chủ Biên: Hải Triều
Ðại diện nhóm Úc châu: Người Quan Sát  - Ðại diện nhóm Âu châu: Trần Phượng Hoàng - Ðại diện nhóm Hoa Kỳ: Hoa Sơn Kiếm - Ðại diện nhóm nội địa: Hồng Lĩnh (Việt Nam). Tiếng nói của những người góp phần đấu tranh cho một Việt Nam tự do, thực hiện bởi nhóm "Freedom for Vietnam", phát hành trên toàn thế giới.
Các Số Báo Cũ
Hà Thúc Sinh
Hoàng Ngọc Liên
Kathy Trần
Lâm Chương
Lâm Lễ Trinh
Ngàn Giọt Lệ Rơi
Nguyễn Thanh Hoàng
Phạm Văn Nhàn
Phan Nhật Nam
Phó Thường Dân
Sổ Tay Thường Dân
Tưởng Năng Tiến
Trần Viết Ðại Hưng
Tài Liệu - Góp Nhặt
Nối Kết

Bài Mới Nhất

CON VỊT



.
Nhóm những nhà văn quân đội
Gía 25US$


Tác giả Trần Gia Phụng.
In lần thứ 2 - 28CAN$/22US$


Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh - Tái bản lần 2.
35CAN$/25US$ *


Tự truyện - Nguyễn Thị Hải
14CAN$/10US$ *


Tác giả Bùi Ngọc Tấn.
25CAN$/20US$
(Ở Mỹ bán 35US$).

* Giá bán kể cả cước phí.
Liên lạc: NS Việt-Nam.


 Nguyệt-San Việt-Nam Số 65
Tháng 02&03/2003

Tôi và Chóe trên trang 3 Sóng Thần Sài Gòn 
và những ngày hoạn nạn...
Hải Triều


(Tôi bàng hoàng, đã không còn một chút tâm trí để viết dòng nào cho Chóe, khi đọc email Viên Linh báo Chóe từ trần tại Cali khuya Thứ Tư 13/3/2003 sau khi từ Việt Nam qua trị bệnh. Tôi chạy lại bài viết này, đã đăng trên Giai phẩm Hè 2002/ Tuần báo Ðời Nam ở Washington DC, như một lời tạ tội đã không thăm được bạn trước ngày mất, như một nén nhang cho Chóe. Và đại diện nhóm Nguyệt San Việt Nam chân thành chia buồn cùng chị Nguyễn Hải Chí và Gia đình. Vĩnh biệt Chóe/ Hải Triều)

Rời Tiểu Ðoàn 5 An Ninh Thiết Lộ, từ Quân Khu II đổi về Sài Gòn năm 1970, sau khi trình diện đơn vị, Sóng Thần gần như là "đơn vị" thứ hai tôi có mặt thường xuyên, nhất là những ngày nghỉ cuối tuần. Cái nghiệp viết lách đối với tôi là một thứ đam mê không bỏ được, và chính cái thú đam mê đó đã cột tôi dính vào những tờ báo tường thuở còn ngồi ghế trường trung học Phan Bội Châu Phan Thiết, đến khi vào Thủ Ðức, ra đơn vị, cũng lại chính nó đẩy tôi vào Chiến Sĩ Cộng Hòa, vào Tiền Phong rồi vào Sóng, Ðời của ông Chu Tử rồi Sóng Thần của nhóm anh chị Trùng Dương, Lý Ðại Nguyên, Uyên Thao... 

Trong thời gian về lại Sài Gòn, tôi tiếp tục hoàn tất việc học hành dang dỡ ở Ðại Học Vạn Hạnh. Thành ra, dù là một quân nhân, chuỗi dài thời gian của tôi ở Sài Gòn, ngoài nhiệm vụ của một quân nhân, là chuỗi dài bút viết học hành và viết lách. Ngoài những giây phút bù đầu với bài vở trong giảng đường đai học vào buổi chiều sau giờ làm việc, đa số thời giờ còn lại của tôi là mấy trang báo Sóng Thần. Trang 3 Sóng Thần là nơi tôi và Chóe gặp nhau. Gặp nhau, quen nhau, nhưng chưa thân nhau. Trong trang 3 Sóng Thần có một số bài viết và các cột mục cố định mà đa phần là do Chóe và tôi ( Hải Triều ) phụ trách. Chóe có một chuyện dài, nếu tôi nhớ không lầm, có tựa đề "Cái Gọi Là". Truyện châm biếm VC này góp phần vào việc kéo dài những năm tù cải tạo của Chóe, nhưng Chóe nổi danh không phải bằng bút mà bằng cọ với những tranh hí họa. Tranh hí họa không lời của Chóe nằm gần phần dưới giữa trang 3. Phần trang còn lại là hai cột mục thường "đụng chạm" là mục tổng kết hồ sơ tham nhũng 4 quân khu thường là do tôi phụ trách dưới bút hiệu Bắc Phong. Cột mục "Ao Thả Vịt" nằm bên phải trang 3 do ông Chu Tử để lại được đổi thành mục Tạp Ghi do Hải Triều phụ trách. Nhìn chung, các cột mục và bài viết xuất hiện trên trang 3 Sóng Thần là những thứ "đụng chạm" có thể bị "tự ý đục bỏ" hay bị lôi ra tòa bất cứ lúc nào.

Ðể tránh hay giảm "áp lực" hay "tai nạn chữ nghĩa" loại đó, anh em chúng tôi mở thêm một cột mục thường xuyên khác có cái tên "Bắn Gió". Bắn Gió thường được viết bởi môt nhóm bút hiệu khác nhau, tức một cột mục chung, trong đó có Hàn Sĩ và Tân Dân. Hàn Sĩ là bút hiệu viết phiếm khác của Hải Triều trong cột mục Bắn Gió. Tân Dân sau này bị đi "tù cải tạo" và bị VC thảm sát ở trại Hàm Tân. Mục Bắn Gió là mục châm chọc, đả kích các đối tượng theo một cách viết đặc biệt để tờ báo không bị "tự ý đục bỏ" hay bị lôi ra tòa, viết như viết chuyện phong thần, cổ tích... nhưng độc giả đọc hiểu ngay là tờ báo muốn nói tới ai, và nói cái gì.

Trở lại với Chóe. Chóe đã mang lại cho Sóng Thần một nét độc đáo trong làng báo Sài Gòn với những tranh hí họa không lời. Không một dòng chữ giải thích, ghi chú hay phụ đề bên dưới, nhưng tranh Chóe đã nói rất nhiều, nói rất thật và nói hết. Chóe vẽ những nhân vật "lừng danh"từ Nixon đến Nguyễn Văn Thiệu, từ Nguyễn Khánh đến Nguyễn Cao Kỳ... Những nét vẽ đơn sơ nhưng độc đáo, nhìn vào nét vẽ là độc giả biết Chóe vẽ ai, muốn nói cái gì, đôi lúc người ta có cái cảm tưởng nét vẽ của Chóe mang nội dung của một bài bình luận chính trị. Chẳng hạn sau khi TT Thiệu ký ban hành luật báo chí 07/72, Sóng Thần xuất hiện một trang hí họa vẽ một người có cặp mắt y như ông Thiệu, lái chiếc xe hủ lô mang số 07/72 lăn qua mấy tờ báo. Các nét vẽ mang đầy đủ vóc dáng TT Thiệu và tác dụng của luật báo chí 07/72, nhưng ông cơ quan kiểm duyệt dưới quyền ông Hoàng Ðức Nhã chẳng làm gì được.

Và ngay cả đến sau này, sau khi ra tù về, Chóe có vẽ tranh hí họa trên một vài tờ báo ở Sài Gòn như tờ Tuổi Trẻ, Lao Ðộng... và tôi lấy làm ngạc nhiên là một số hí họa châm chọc kiểu "chí chóe" của Chóe lại có thể xuất hiện trên báo do VC kiểm soát. Chẳng hạn tạp chí Quê Mẹ ở Pháp trước đây mấy năm có chạy đăng một hí họa lấy trên báo Lao Ðộng vẽ một người hai môi và miệng bị móc cái khóa để nói về tự do ngôn luận của nước CHXHCNVN. Loại hí họa này xuất hiện nhiều nhất vào thời Nguyễn Văn Linh "đổi mới", mở cửa và "cởi trói văn nghệ." Ðây là loại hí họa có thể vào tù hay mang vạ vào thân dễ dàng. Sau nàu, VC hết cởi trói và cột lại thì hí họa loại này của Chóe biến mất hay giảm đi.

Tháng 11/1974, làng báo Sào Gòn căng thẳng với những áp lực của chính quyền sau những cáo trạng tố tham nhũng của linh mục Trần Hữu Thanh. Sóng Thần chủ trương thanh lọc tham nhũng, trong sạch hóa chính quyền và quân đội để tạo điều kiện chống cộng sản hiệu quả hơn, nên cáo trạng sối 1,2,3... của Linh mục Trần Hữu Thanh được chạy đăng nơi trang 1 trong nhiều ngày. Trước đó, Sóng Thần cũng là tờ báo đứng đầu sổ dòm ngó của Bộ Dân Vận Chiêu Hồi/ Hoàng Ðức Nhã với những loạt bài tố cáo tướng Nguyễn Văn Toàn Quân Khu II và Ðại tá NâTN, tỉnh trưởng Bình Thuận... Thế là vào giữa tháng 11/1974, tòa soạn Sóng Thần bị "hốt", Tổng Nha Cảnh Sát nhận nhiệm vụ "hốt" Uyên Thao, Lý Ðại Nguyên, nhưng hai ông này nhanh chân chạy mất, chỉ còn Trương Cam Vĩnh chậm chân bị hốt lên xe... Riêng "mấy tên viết báo làm vui" gốc lính như Hải Triều, Nguyễn Hải Chí, tức Chóe thì do An Ninh Quân Ðội "chăm sóc". Không biết Vũ Thế Ngọc ( BDQ) lúc đó có "thọ nạn" hay không không nghe anh em nói, và cũng không thấy gặp nhau trong phòng tạm giam của Cục An Ninh Quân Ðội.

Khoảng 2 giờ chiều ngày 17/11/1974, xe Cục An Ninh Quân Ðội đến ngay văn phòng tôi, có cả vị sĩ quan an ninh đơn vị, xuất trình một lệnh câu lưu do cục phó Cục An Ninh Quân Ðội ký. Thế là tôi lên xe, mang theo nhưng câu hỏi xáo trộn trong đầu: Tại sao mình bị bắt? Mình đã làm gì đến nỗi phải vào nhà giam? Mình không là VC, lại là một sĩ quan chống cộng có những bài viết chống cộng quyết liệt trên Chiến Sĩ Cộng Hòa và Tiền Phong của QLVNCH, tại sao lại rơi vào tình huống này? Câu trả lời không tìm ra. Câu trả lời bế tắc. Tôi có một chút hoang mang, lo sợ nhưng tự tin: Chắc có một cái gì lầm lẫn bất thường đây!

Ðến Cục ANQÐ, sau khi giao hết tiền bạc, lon lá, quân phục cho một ông trung sĩ phụ trách phòng tiếp nhận, tôi được đưa vào phòng giam. Nắng Sài Gòn tháng 11/74 còn đổ lửa. Từ ngoài nắng bước vào, khi cánh cửa sau lưng tôi đóng lại, tôi bị bóng tối bao phủ, phải một lúc sau tôi mới thấy lờ mờ và rõ dần. Tôi vẫn còn đứng tại chỗ, tôi không thấy đường vào phòng. Tôi được lệnh vô phòng 17. Ðột nhiên có tiếng gọi thảng thốt từ một góc tối:

- Trời ơi! Anh Hải Triều!

Tôi ngạc nhiên tại sao có người biết và nhận ra tôi trong cảnh này, tôi tự hỏi và lên tiếng:

- Anh em nào vừa gọi tên tôi, xin cho biết!

- Chóe đây! Chóe Sóng Thần đây!

Thôi chết cha rồi! Những câu hỏi bế tắc trong đầu tôi đã có câu trả lời. Tôi nghĩ thế, và hỏi:

- Chóe bị hốt từ bao giờ? Sóng Thần ai bị hốt?

- Tôi không biết! Tôi bị hốt từ Tổng Tham Mưu sáng nay. Ðến lúc này dường như chỉ có anh và tôi bị hốt. Có lẽ toàn bộ nhóm Sóng Thần bị chiếu tướng vì vụ dụng tướng Toàn và vụ đăng cáo trang của cha Thanh!

- Tôi nghĩ có lẽ vậy! Nhưng Chóe ở phòng nào?

- Phòng 21! Giờ đổ cầu mình có thể găp nhau nói nhiều chuyện hơn!

Tất cả mọi người được lệnh vào phòng. Tôi vào phòng 17. Chả hiểu tại sao tôi lại thấy an lòng vì tai nạn Sóng Thần, và thầm nghĩ: " Viết báo không có phép của cấp trên, cùng lắm là 60 củ rồi về..."

Tôi bị hốt về cục ANQÐ trước sự ngỡ ngàng của các anh em dưới quyền, và bất ngờ đối với gia đình. Trong thời gian này, tôi chỉ vừa mới "sang ngang" có vài tháng, chờ cái giấy phép của đơn vị để về nhà hủ hỉ với người bạn đời mới cưới thì lại chui vô hộp ngang xương. Gia đình không thấy tôi về, vô hỏi đơn vị, "mấy ông nội tôi" lại bảo không biết. Má tôi thương con và lo sợ muốn điên người. Bà xã và em gái tôi bay vô trường Quân Báo Cây Mai tìm hai bạn tôi là Ð/ U Phạm Hữu Minh và Nam Râu. Hai tên này lùng xục tìm ra chỗ tôi nằm trong phòng giam cục ANQÐ. Tuần sau đó tôi được người nhà tiếp tế một ít đồ ăn. 

Phòng 17 của tôi có tôi ( vụ Sóng Thần) , Trung tá Trần Toàn Thắng ( vụ đường Ðà Nẳng), thiếu tá Vân ( hải quân, vụ dầu gì đó) và Ðại úy Lê Văn Kính, sĩ quan nội dịch tổng thống phủ thuộc dinh Ðộc Lập ( bị cáo buộc nhận tiền VC âm mưu ám sát TT Thiệu). Ngoài những giờ đánh cờ tướng, Kính bị ba chúng tôi vây chuyện nhận tiền VC chuẩn bị làm chuyện tày trời, Kính biện bạch mình không phải là VC mà bị kẹt, bị gài. 

(Chuyện này khá dài và rắc rối, may ra chỉ có Ðại Tá Chiêm mới biết rõ. Kính bị Ð/T Chiêm giao cho quân cảnh ngay trong dinh Ðộc Lập. Tôi không biết sau 75, Ð/ T Chiêm có thoát được hay không, nay còn hay mất, nhưng khi trong tù cải tạo của VC tại Tổng trại 8 Tù Tàn Binh Sông Mao khoảng đầu năm 1976, một tên giảng viên chính trị của VC có nhắc tới Ð/U Lê Văn Kính là "người của ta" gài vô dinh Ðộc Lập. Người thứ hai được nhắc kèm Ð/U Kính như "người của ta" là tướng Nguyễn Hữu Có. Chuyện trời trăng này cho đến nay tôi cũng không rõ thực hư...)

Trong thời gian tạm giam để điều tra, tôi và Chóe có gặp nhau trong những giờ anh em được cho phép ra khỏi phòng và và đi cầu. Lúc đó, quả tôi và Chóe có giận ông Thiệu vô cùng, giận vì tham nhũng như tướng Toàn bị mất chức ở quân khu II lại được lên chức ở quân khu III, còn mấy thằng lính sạch chống tham nhũng thì lại bị vô nhà giam. Vì hiểu mình hơn ai hết, vì tin quân đội đâu có chuyện dựng đứng chuyện an ninh, chuyện VC để hành hạ mình, nên tôi nghĩ đến cái giá phải trả cho việc viết lách lăng nhăng là ký mấy chục củ trọng cấm và vát ba lô ra lại đơn vị tác chiến, cái giá vứt mảnh bằng đại học, vứt giấc mơ xin về Bộ Quốc Phòng làm phòng kiểm duyệt phim ảnh/BQP của ông thầy là Ðại tá Nguyễn Ðình Tuyến ( dạy Vạn Hạnh, hiện nay ở Houston, TX)... Thời đó, dường như dân nhà binh có cử nhân báo chí chỉ vài ba người, trong đó có tôi và Vũ Thế Ngọc.

Những giờ phút khá căng thẳng của tôi sau đó làthời gian chấp cung. Tôi nhớ người hỏi cung và điều tra tôi lúc đó là Ðại úy Phán. Theo như trong hồ sơ, tôi bị cột vào hai tội danh cần điều tra hư thực. Thứ nhất là vi phạm luật báo chí và viết báo không giấy phép của thượng cấp. Tội thứ hai là tiếp tế cho VC và có gia đình liên hệ VC. Tôi xác nhận ngay với đ/u Phán là tôi có viết cho Sóng Thần mà trong túi không có tờ giấy nào của bộ Tổng Tham Mưu hay Bộ Quốc Phòng. Phần còn lại, tôi bác bỏ một cách quyết liệt chuyện bảo tôi vi phạm luật báo chí 07/72 và liên lạc tiếp tế cho VC. Nghĩ mình là một trong những sĩ quan cấp nhỏ trong sạch và ngay thẳng nhất quân lực, tôi vô cùng kinh ngạc và tức giận khi bị cáo buộc như thế. Tôi đã đấu lý tay đôi với đ/ u Phán từ giờ này sang giờ khác. Về chuyện các bài viết của tôi nói là vi phạm luật báo chí, đ/u Phán trưng dẫn điều 32 của luật báo chí 07/72 liên quan tới một bài viết trên mục tạp ghi bị cho là xúc phạm tới các vị lãnh đạo các quốc gia đồng minh của VNCH. Tôi yêu cầu đưa bằng chứng cụ thể, anh Phán đưa ra một trang báo Sóng Thần do tôi viết trong mục phiếm Tạp Ghi, trong đó tôi nói về thủ tướng Thái Lan với cái tên tôi phiên âm sang tiếng Việt là "Tha Nõm Kít Ty Kà Thọt!" ( Thanom Kitikathom... dường như vậy), và cho rằng nội dung bài viết và cách phiên âm ... Kà Thọt là xúc phạm đến ông thủ tướng Thái Lan, đồng minh của chúng ta. Tôi cãi văng cáo buộc này.

Ð/u Phán "tấn công" tiếp về cáo buộc liên hệ và tiếp tế cho VC. Tôi hiểu đây là một sự vu khống, dựng đứng để trả thù của một nhân vật nào đó, nên tôi "phản công" vô cùng quyết liệt, tôi cãi văng tất cả những dữ kiện và luận điểm phi lý nhắm vào tôi từ ngay những con số trong hồ sơ cáo buộc. Khi "nghỉ xả hơi", trong lúc Ð/u Phán rời bàn đi "washroom", tôi tò mò ưỡn người vói đọc mấy trang tài liệu vô tình không xấp lại, và vỡ lẽ khi thấy toàn bộ tài liệu bịa đặt và vu chụp tôi đều xuất phát từ tiểu khu Bình Thuận của Ðại Tá NTN., và cùng lúc, báo cáo của Ty An Ninh Quân Ðội Bình Thuận thì ngược lại những báo cáo của tiểu khu Bình Thuận, nghĩa là theo cuộc điều tra của Ty ANQÐ Bình Thuận ( không trực thuộc hàng đọc với Tiểu Khu) , không có bất cứ bằng chứng nào cho thấy tôi ( một sĩ quan thuộc TÐ5ANTL hậu cứ đóng ở Nha Trang) liên hệ hay tiếp tế cho VC. Có lẽ Ð/ U Phán hiểu là tôi vô tội, nhưng anh vẫn phải làm thủ tục hỏi cung, điều tra do lệnh của một hay những cấp cao hơn nào đó. Khi Ð/u Phán trở lại bàn, tôi làm như không biết chuyện gì trong mấy tờ giấy trước mặt anh. 

Khi biết được mình bị tiểu khu Bình Thuận của Ðại Tá NTN vu chụp, tôi hiểu ra lý do chính yếu tại sao tôi bị cục ANQÐ hốt vô nhà giam. Chuyện này có đụng chạm trực tiếp tới Ðại Tá N. Như đã viết ở trên, một trong những loại bài nóng và đụng chạm của tờ Sóng Thần là các bài đúc kết hồ sơ tham nhũng của 4 quân khu. Tôi đã viết một loạt bài dài liên tục gần 2 tuần trên trang 3 Sóng Thần với đề mục " Mở Hồ Sơ Ðen Tham Nhũng của Tỉnh Trưởng Bình Thuận." được ký dưới bút hiệu Bắc Phong. Thoạt đầu ở Phan Thiết người ta nghi ngờ người viết là nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, nhưng về sau, cơ quan an ninh tìm ra người viết là Hải Triều viết dưới một bút hiệu khác. Thế là mối oan khiên treo lủng lẳng trên đầu hắn cho đến ngày hắn bị hốt vào 17/11/1974. Trớ trêu thay, loạt bài này làm cho Sóng Thần khi ra đến Phan Thiết là bị tịch thu hay thu mua sạch, dân xe đò phại mua bán giá chợ đen, lại được viết từ những tài liệu thực của Ủy Ban Ðiều Tra Tham Nhũng của Phủ Phó Tổng Thống ( Trần Văn Hương) do một thành viên Giám Sát Viện ngầm chuyển thẳng cho Hải Triều. Tập tài liệu đúc kết này có cả chữ ký của đại diện cục ANQÐ, một thành viên của Ủy Ban. Tập tài liệu này không có tác dụng gì đối với các đối tượng bị đề cặp và khuyến cáo các biện pháp chế tài. Ðây là một trong những khuyết điểm nghiêm trọng của những nhà lãnh đạo có trách nhiệm, vì họ và đàn em họ vướng sâu trong trận đồ tham nhũng, bè phái... Và nó là một trong những nguyên nhân đóng góp cho sự sụp đổ của miền Nam tự do! Oan nghiệt thay, tập tài liệu trên đã gieo tại vạ cho một sĩ quan cấp nhí có lòng...

Một hôm, đang đánh cờ tướng khuya với trung tá Trần Toàn Thắng, một hạ sĩ quan trực gõ cửa phòng và gọi tôi lên phòng điều tra. Bố Thắng xếp bàn cờ, nhìn tôi ái ngại:

- Thường thì khi bị gọi hỏi cung giờ này là điều không lành! Chúc cậu may mắn!

Tôi ra khỏi phòng bỗng đâm lo vì lời của bố Thắng. "Mình đã đụng ổ kiến lửa nên mới ra nông nỗi này! Có khi mất mạng chẳng chơi!" Chân vẫn bước, đầu nghĩ miên man và hồi hộp. Ðến nơi, tôi không bị dẫn vô phòng cung như thường lệ, mà được đưa vô văn phòng của một vị Trung Tá. Tôi vô cùng ngạc nhiên trước cái vẻ ấm cúng của căn phòng, trước vẻ tử tế của vị sĩ quan cao cấp mà tôi sắp được tiếp chuyện. Ông bảo người hạ sĩ quan mang cho tôi một ly trà ấm. Khi người hạ sĩ quan bước ra ngoài và khép cửa phòng lại, ông bắt đầu nói chuyện thân mật với tôi, hỏi tôi đủ mọi chuyện... Rồi sau cùng, ông hỏi tôi một câu bất bgờ:

- Qua hỏi thật em! Giữa em và Ðại tá NâTN, tỉnh trưởng Bình Thuận có gì không bằng bụng hay đụng chạm nhau không?

Tôi như một thí sinh gạo bài thi tú tài, vô vòng vấn đáp, được thầy hỏi một câu "trúng tủ". Tôi trả lời:

- Thưa có!

Sau đó, tôi thuật lại tôi đã nhận tài liệu "Hồ Sơ Ðiều Tra Tham Nhũng" ở đâu, từ đó tôi viết và đúc kết các bài viết trên Sóng Thần liên hệ đến Ðại Tá N ra sao, trường hợp nào tôi dính với Sóng Thần và tại sao... Nghĩa là có bao nhiêu trong tủ, tôi rút ra hết. Tôi nhấn mạnh là toàn bô hồ sơ đó có chữ ký của nhiều cơ quan có chân trong Ủy Ban, trong đó có chữ ký của Cục ANQÐ và tôi không chấp nhận tham nhũng khi toàn quân đang chiến đấu chống cộng sản phương Bắc. Sau cùng ông cười và gọi người hạ sĩ quan trực đưa tôi trở về phòng. Vô phòng, anh em bật ngồi dậy. Bố Thắng sốt ruột:

- Lành hay dữ mà sao thấy mặt cậu có vẻ tỉnh bơ?

- Lành! Tin lành! Tối nay tôi ngủ ngon là cái chắc!

- Nói cho anh em nghe được không?

- Ðược chứ! Ðâu có gì bí mật! Chuyện của tôi lãng xẹt! Chuyện của anh Kính mới rắc rối cuộc đời!

Sau đó, tôi kể mọi chuyện cho cả phòng nghe. Tôi bảo:

- Người ngay mắc nạn thế nào cũng có quí nhân giúp và hiểu. 

Quí nhân tôi muốn nói là vị trung tá ANQÐ hỏi tôi cái câu " Giữa em và Ðại tá NTN, tỉnh trưởng Bình Thuận, có gì không bằng bụng hay đụng chạm nhau không?" Sau câu hỏi đó, tôi thấy tôi thoát nạn, tôi thấy quân đội mình cũng chí công vô tư, ngon lành. Gặp phải quân đội cộng sản của lão Hồ thì bị thanh trừng chết cha! Và ngày ngày tôi đều đợi tiếng gõ cửa mời ra trả về đơn vị. Tôi có báo cho Chóe biết những tin vui về trường hợp tôi, và hỏi trường hợp Chóe. Chóe cười:

- Anh biết, tôi vẽ hí họa không lời, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Thế mà mấy ổng bảo tôi giải thích, phụ đề Việt ngữ thì làm sao tôi làm. Mà cái đó có gì ghê gớm đâu! Thế là huề!

Cả tôi và Chóe đều hiểu mình có thể nhận sự vụ lệnh trả về đơn vị gốc, thế nhưng cuộc chiến tàn khốc cứ đi dần tử vĩ tuyến 17 lấn xuống phía Nam. Chính phủ và quân đội phải lo trăm ngàn chuyện ngoài chiến trường để ngăn chận Bắc quân. Chúng tôi như bị bỏ quên trong cơn bão càng ngày càng lớn, càng ngày càng đến gần. Chúng tôi nghe rõ cơn bão đang đến qua các bản tin radio mở gần như thường trực ở phòng bên cạnh gần phòng giam. Chúng tôi lo âu cho mệnh số của đất nước hơn là lo cho mệnh số của mình. Huế, Ðà Nẳng, Qui Nhơn, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết rồi Long Khánh... Thế thì còn gì! 

Sáng ngày 30/4/1975, đài BBC loan báo Bắc quân đã đến ngưởng cửa Sài Gòn, T54 đã đến cầu Xa lộ Biên Hòa, phòng giam vẫn còn khóa kín. Khoảng 8.30 sáng, có tiếng chìa khóa lộc cộc, người hạ sĩ quan hé mở cửa phòng, nhình tôi và nói:

- Mời đại úy lên phòng! Lấy theo hết quần áo!

Trong cái không khí tĩnh mịch, nghẹt thở và căng thẳng này, tất cả các phòng, kể cả Chóe, đều nghe rất rõ tiếng của người hạ sĩ quan. Cửa phòng đóng lại, tôi phóng theo người hạ sĩ quan. Bên ngoài, súng ống xếp dọc tường. Một chiếc xe jeep còn nổ máy nhưng không có người. Lên phòng trực, một sĩ quan mặc thường phục tự giới thiệu tên và cấp bậc trung úy, chìa cho tôi mảnh sự vụ lện "trả về đơn vị gốc", không thấy lệnh phạt, sự vụ lệnh mang tên tôi và Trung Sĩ Nhất Nguyễn Hải Chí, ký ngày 29/4/1975. Tôi được trả lại quân phục, tiền bạc và đôi giầy "saut". Anh Trung úy bảo tôi:

- Lẽ ra sự vụ lệnh này phải giao ngày hôm qua, nhưng tình hình không cho phép. Giờ đây thì chúng ta không còn gì nữa. Ra khỏi chỗ này, cả tôi và anh đều phải tìm đường thoát!

Thế là anh ta biến đi. Lúc này tôi mới thực sự hoảng hốt, hoang mang. Trả về đơn vị gốc cái chó gì nữa khi cả Sài Gòn gần như bị cộng sản tràn ngập. Như một kẻ mất hồn, tôi mặc áo, thọt chân vô đội giày nhà binh và thất thểu bước về phía cổng. Lúc này, các cửa phòng giam đã mở cho mọi người ra về và thoát thân. Không còn thấy bất cứ người lính hay sĩ quan nào mặc quân phục. Tiếng súng AK đã nổ càng ngày càng gần. Mọi người đã thoát khỏi chỗ này trừ mấy người vừa ra khỏi phòng giam. Bỗng Chóe nhào tới tôi và nói như hét:

- Trời đất ơi! Bây giờ mà trên áo anh còn ba bông mai đen thùi! Ðây là cục ANQÐ! Xe tăng tụi nó vô đây liền bây giờ! Nó bắn anh ngay! Mau lên! Thay đồ ra!

Chóe móc trong bao quăng cho tôi một bộ đồ civil, tôi tuột vội bộ đồ nhà binh và đôi giầy, mặc vội vàng bộ đồ lỏng le của Chóe. Chóe móc thêm đôi giép Nhật đưa cho tôi. Hai anh em phóng ra cổng và chia tay từ đó. Chóe không hề biết tôi mang trong người cái sự vụ lệnh trả về đơn vị gốc có tên tôi và Nguyễn Hải Chí, và nó có thể là văn kiện cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đã ký nhận văn kiện đó đúng vào 9.30 sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, thời khắc thủ đô Sài Gòn sắp bị bứtc tử và "trút hơi thở tự do cuối cùng". Thật lạ lùng! Tôi chẳng hiểu tại sao đến giờ phút tử sinh đó mà tôi còn ký được một chữ ký trong sổ trực nhận của cục ANQÐ!

Bây giờ máy tôi chỉ 5.00 PM ngày 4 tháng 5 năm 2002. Tôi viết những dòng này đúng 27 năm 4 ngày và 8 giờ kể từ lúc chia tay Chóe trong phút giây Sài Gòn sụp đổ. Những cay cực không may trong đời binh nghiệp của tôi, nếu không vì số kiếp, tử vi, định mệnh ... thì đều do cái nghiệp viết lách báo... hại nó gây ra. Ðôi lúc tôi nghĩ nếu tôi không mê cái nghiệp... báo, chưa chắc đời tôi đã khổ. Tôi có thể đã không vào nhà giam cục ANQÐ vì các bài viết trên Sóng Thần, để sau 75 lại chui vào tiếp hàng loạt nhà tù khốn nạn chết người của cộng sản. Và nếu viết tin hay chỉ làm thơ trên Sóng Thần, đừng "xí xọn" ôm cái mục điều tra tham nhũng hay viết Tạp Ghi thay Ao Thả Vịt của ông Chu Tử thì làm gì bị Ðại tá NâTN thù ghét và vu chụp để phải vào nhà giam của phe ta cho đến ngày mất nước. Ngày nay, viết lại kỷ niệm xưa, tôi không còn một chút gì cay đắng – và xin nói rõ, tôi phải đề cập tới tên Ð/T N hoàn toàn chỉ vì tôn trọng nhưng dữ kiện khách quan của bài bút ký cần phải viết.

Tháng trước, đọc tin trên net, biết Chóe bệnh hoạn và mắt đã không còn thấy cây cọ để vẽ những nét vẽ lừng danh một thời, tôi bỗng bồi hồi thương xót. Chóe chỉ là một hạ sĩ quan trong quân lực, nhưng Chóe đã ở tù lâu trong các trại tù VC ngang với những ông tướng. Dù trong tình huống nào, tôi cũng tìm thấy trong nét cọ của Chóe một thứ bất khuất ngất trời.

Hải Triều
Canada 4/5/2002

 
Trang Bìa 
Ðầu trang